Nghiên cứu thành phần hóa học của cây cỏ mật = ERIOCHLOA RAMOSA - Pdf 31

Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa: Hóa học

----------

Hoàng thị thanh dung

Nghiên cứu thành phần hoá học của cây cỏ
mật
(Eriochloa ramosa)

Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ

Hà nội - 2008

Hoàng Thị Thanh Dung

1

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp


Kiệm cùng với các cán bộ Phòng Xúc tác hữu cơ đã giúp đỡ em trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận.
Em cũng gửi lời cảm ơn TS. Nguyễn Văn Bằng và các thầy cô giáo Khoa
Hoá học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình dạy dỗ chúng em
trong suốt bốn năm học tại trường.
Mặc dù em đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn nên bài khoá luận
của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý
của thầy cô giáo và các bạn sinh viên dể khoá luận của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2008

Sinh viên

Hoàng Thị Thanh Dung

Hoàng Thị Thanh Dung

3

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Mục lục
Lời cảm ơn
Lời cam đoan


Hoàng Thị Thanh Dung

4

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

2.2.3. Sắc ký cột( CC......................................................... ..................14
2.3. Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp chất.......... .....14
2.3.1. Điểm nóng chảy (mp)..................................................................14
2.3.2. Phổ khối lượng ( ESI – MS)..........................................

........15

2.3.3. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR).................................. ........15
2.4. Dụng cụ, thiết bị và hoá chất............................................................15
2.4.1. Dụng cụ và thiết bị chiết.............................................................15
2.4.2. Dụng cụ thiết bị xác định cấu trúc..............................................16
2.4.3. Hoá chất......................................................................................16
Chương 3: Kết quả và thảo luận..............................................

.17

3.1. Thu mẫu thực vật và xử lý...............................................................17
3.2. Phân lập các hợp chất......................................................................17


[]D

Specific Optical Rotation ( Độ quay cực )

13

Carbon-13 Nuclear Magnetic Resonance pectroscopy

C-NMR

Phổ cộng hưởng từ hạt nhân cacbon 13
1

H-NMR

Proton Magnetic Resonance Spectroscopy
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton

Bu

Nhóm buty

Me

Nhóm metyl

TCL

Thin Layer Chromatography ( Sắc ký lớp mỏng )


Mass Spectroscopy ( Phổ khối lượng )

UV

Phổ tử ngoại

Hoàng Thị Thanh Dung

6

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Lời cam đoan
Trong quá trình hoàn thành khoá luận em đươc sự hướng dẫn của TS.
Phan Văn Kiệm và em có tham khảo tài liệu của một số tác giả (đã nêu trong
mục Tài liệu tham khảo).
Em xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng em. Các số liệu
và kết quả nêu trong khoá luận là trung thực. Những kết quả thu được không
trùng với các kết quả đã công bố trước đây. Nếu sai em xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.

Sinh viên
Hoàng Thị Thanh Dung


Hình 3.3.d. Cấu trúc hoá học của 3 ………………………………….......31
Hình 3.3.e. Phổ HSQC của 3………….........…………………………….32
Hình 3.3.f. Phổ HMBC của 3………………………………………….......33

Hoàng Thị Thanh Dung

8

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Mở ĐầU
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hằng năm có lượng
mưa lớn, độ ẩm rất cao trung bình khoảng trên 80%, những điều kiện đó rất
thích hợp cho động thực vật phát triển mạnh. Do đó thảm thực vật ở nước ta
phát triển rất phong phú, đa dạng với khoảng 12000 loài thực vật, trong đó có
khoảng 4000 loài được nhân dân sử dụng làm thảo dược. Nhiều loài được
nhân dân sử dụng trong y học cổ truyền và các mục đích khác nhau phục vụ
đời sống của con người.
Ngày nay đời sống của con người ngày càng được nâng cao tuy nhiên
cùng với sự phát triển đó thì con người cũng gặp phải rất nhiều căn bệnh hiểm
nghèo. Do đó việc nghiên cứu, tìm kiếm các hợp chất có nguồn gốc từ thiên
nhiên để ứng dụng trong y học, trong nông nghiệp và các mục đích khác trong
đời sống của con người là một nhiệm vụ quan trọng đ• và đang được nhiều
nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm.
Nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ nhiều hợp chất có hoạt tính

Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Chương 1: Tổng quan
1.1. Tổng quan về cây cỏ mật [1], [5]
1.1.1. Mô tả về cây cỏ mật
Cỏ mật ( Eriochloa ramosa hay tên đồng nghĩa Eriochloa procera) là
cây thảo, sống lâu năm, mọc dày đặc. Thân rễ ngắn, mọc bò dài. Thân khi
sinh mọc thành bụi dày, nhẵn, có lông ở các đốt, cao 0,3 - 1,5m. Lá mọc so le,
hình dải, đầu nhọn, mép hơi nháp; bẹ lá xoè rộng; lưỡi bẹ rất ngắn, có lông.
Cụm hoa mọc thành bông đơn hay phân nhánh, dài 5 – 13cm, cuống
chung mảnh, nhẵn; bông nhỏ xếp lớp rất thưa, mọc so le, hơi thẳng đứng,
hình bầu dục nhọn, có lông cứng ở đỉnh, không có mày ngoài, mày trong
mềm nhọn, mép hơi gập lại, có lông mềm; cuống bông nhỏ có lông; hoa ở
dưới không sinh sản, hoa ở trên lưỡng tính, dẹt, màu xám bóng, 3 nhị, cần nhị
hình sợi; bầu thuôn dẹt, nhẵn, có hai vòi nhụy, núm nhụy phát triển, màu
hung đen nhạt.

Hình 1.1. Eriochloa procera (Retz.) C.E.Hubb
Quả nằm trong mày hoa, góc rất nhọn tù, ở đầu, nhẵn, dẹt, vòi tồn tại.
1.1.2. Phân bố, sinh thái
Cỏ mật (Eriochloa ramosa) là một chi nhỏ của họ lúa (poaceae) gồm
một số loài cỏ sống một năm, hay nhiều năm, phân bố chủ yếu ở
vùng nhiệt đới.
ở Việt Nam, cỏ mật phân bố rải rác ở vùng đồng bằng và trung du, đôi
khi cũng gặp ở vùng núi thấp.
Cây sống ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm lẫn với các loại cỏ khác ở
b•i sông, ruộng trồng hoa màu, ven đường hay nương rẫy. Cây con mọc từ hạt
vào khoảng cuối tháng 3 đến tháng 5. Sau mùa hoa quả, cây tàn lụi. Tốc độ

Các tác giả Lê Công Văn, Đỗ Trung Đàm đ• nghiên cứu tác dụng hạ sốt
của cây cỏ mật trên cơ thể động vật. Thí nghiệm trên Thỏ có cân nặng
2,2 - 2,5 kg, đực, cái đều dùng, gây sốt bằng men bia hỗn dịch 10%, tiêm dưới
da với liều lượng 2ml/kg và theo dõi trong vòng 6 giờ. Cao cỏ mật được chiết
bằng cồn ethanol, dùng với 0,5g/kg cơ thể vào lúc 1 giờ 30 phút sau khi tiêm
men bia. Kết quả là cao cỏ mật có tác dụng hạ sốt vừa phải, kém tác dụng của
analgin 200mg/kg, nhưng kéo dài và đến giờ thứ năm tác dụng vẫn còn tồn
tại.
1.1.5. Công dụng
Cỏ mật được dùng theo kinh nghiệm của nhân dân ở một số vùng Sơn
Tây và Nam Định để chữa cảm, sốt, cúm, sốt xuất huyết...
1.2. Tổng quan về các phương pháp phân lập các hợp chất
1.2.1. Phương pháp chiết
Sau khi tiến hành thu hái và sấy mẫu, tuỳ thuộc vào đối tượng chất có trong
các mẫu khác nhau (chất không phân cực, chất có độ quay cực vừa phải…)
mà ta chọn dung môi và hệ dung môi khác nhau.
a. Chọn dung môi chiết
Các chất chuyển hoá thứ cấp trong cây thường có độ phân cực khác nhau. Đôi
khi để tạo ra sự phân cực của dung môi thích hợp người ta không chỉ dùng
dung môi đơn thuần mà phối hợp tỉ lệ nhất định để tạo hệ dung môi mới.
• Yêu cầu với dung môi dùng cho quá trình chiết:
Nó phải hoà tan các chất chuyển hoá thứ cấp đang nghiên cứu, dễ dàng
được loại bỏ, có tính trơ (không phản ứng với chất nghiên cứu), không độc, dễ
bốc cháy. Những dung môi này nên được chưng cất để thu được dạng sạch
trước khi sử dụng nếu chúng có lẫn các chất khác vì có thể ảnh hưởng đến
hiệu quả và chất lượng của quá trình chiết
• Những dung môi hay được sử dụng:
+ Clorofom, metylenclorit và metanol là những dung môi thường được lựa
chọn trong quá trình chiết sơ bộ một phần của cây (lá, thân, rễ, củ, quả…).
+ Metanol và etanol 80% là những dung môi phân cực hơn các hidrocacbon

trong các quá trình chiết mẫu thực vật bởi nó không đòi hỏi nhiều công sức và
thời gian. Thiết bị sử dụng là một bình thuỷ tinh với một cái khoá ở đáy để tạo
tốc độ chảy cho quá trình tách rửa dung môi.
Mẫu thực vật được ngâm với dung môi trong máy chiết khoảng 24 giờ và sau
đó chất chiết được lấy ra.
Như vậy, tuỳ thuộc vào mục đích cần chiết mà lựa chọn dung môi cho thích
hợp và thực hiện quy trình hợp lý nhằm đạt hiệu qua cao. Ngoài ra, có thể dựa
vào mối quan hệ của dung môi và chất hoà tan của các lớp chất mà ta có thể
tách thô một số lớp chất ngay trong quá trình chiết.
1.2.2. Các phương pháp sắc ký [3]
Phương pháp sắc ký là phương pháp phổ biến và hữu hiệu nhất hiện nay được
sử dụng để phân lập các hợp chất hữu cơ nói chung và các hợp chất thiên
nhiên nói riêng.
Sắc ký có pha tĩnh và pha động. Trên thế giới hiện nay phổ biến sử dụng pha
tĩnh là chất rắn (bao gồm các loại chất hấp phụ như silicagel, YMC, ODS,
Al2O3 …) còn pha động được sử dụng là chất lỏng (sắc ký lỏng), hay chất
khí (sắc ký khí). Pha động dùng trong sắc ký lỏng là các dung môi hữu cơ trên
nguyên tắc là chất phân cực hơn sẽ tan tốt trong dung môi phân cực hơn và
ngược lại chất ít phân cực hơn sẽ tan tốt trong dung môi kém phân cực hơn.
• Nguyên tắc của phương pháp:
Phương pháp sắc ký dựa vào độ khác nhau về ái lực giữa các chất cần tách
với chất hấp phụ. Độ hấp phụ của dung môi tăng dần từ ete dầu hoả đến nước.
Tuỳ thuộc vào cách tiến hành sắc ký mà người ta chia ra thành các phương
pháp sắc ký chủ yếu sau:
a. Sắc ký cột (CC)

Hoàng Thị Thanh Dung

12


quan trọng. Có hai cách đưa chất hấp phụ lên cột:
• Nhồi cột khô
• Nhồi cột ướt
b. Sắc ký lớp mỏng
Sắc ký lớp mỏng (SKLM) thường được sử dụng để kiểm tra và định hướng
cho sắc ký cột. Sắc ký lớp mỏng được tiến hành trên bản mỏng tráng sẵn
silicagel trên đế nhôm hay đế thuỷ tinh. Ngoài việc sử dụng SKLM để định
hướng cho sắc ký cột người ta còn dùng sắc ký lớp mỏng để điều chế, thu chất
trực tiếp. Có thể phát hiện chất trên bản mỏng bằng đèn tử ngoại, bằng chất
hiện màu đặc trưng cho từng lớp chất hoặc sử dụng axit H2SO4 10%.
1.3. Tổng quan về các phương pháp xác định cấu trúc của các hợp
chất
hữu cơ
Để xác định cấu trúc của hợp chất hữu cơ người ta sử dụng phương pháp
điểm nóng chảy và phương pháp phổ nhưng quan trọng nhất là dựa vào các
phương pháp phổ. Tùy thuộc vào cấu trúc hoá học của từng hợp chất mà
người ta sử dụng những phương pháp phổ khác nhau. Cấu trúc càng phức tạp
thì yêu cầu phối hợp các phương pháp phổ càng cao. Trong một số trường

Hoàng Thị Thanh Dung

13

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp


Nguyên tử nhanh với sự bắn phá nhanh ở năng lượng thấp do đó phổ cũng dễ
thu được pic ion phân tử.
d. Phổ khối lượng phân giải cao (High Resolution Mass Spectrocopy)
Phổ này cho phép xác định pic ion phân tử hoặc ion mảnh với độ chính xác
cao. Kết quả khối lượng phân giải cao cùng với kết quả phân tích nguyên tố
sẽ cho phép khẳng định chính xác công thức của hợp chất hữu cơ.
Ngoài ra hiện nay người ta còn sử dụng kết hợp các phương pháp sắc ký kết
hợp với khối phổ. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả khi sử dụng thư viện
phổ để so sánh nhận dạng các hợp chất.

Hoàng Thị Thanh Dung

14

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

1.3.3. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear Magnetic Resonanc Spectrocopy, NMR)
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) là một phương pháp phổ hiện đại và hữu
hiệu nhất hiện nay được dùng để xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất
hữu cơ nói chung và các hợp chất thiên nhiên nói riêng. Với việc sử dụng kết
hợp các kỹ thuật phổ NMR 1 chiều và 2 chiều các nhà nghiên cứu có thể xác
định chính xác cấu trúc của hợp chất, kể cả cấu trúc lập thể của phân tử.
• Nguyên lý chung của các phương pháp phổ NMR:
Là sự cộng hưởng khác nhau của các hạt nhân từ (1H và 13C ) dưới tác
dụng của từ trường ngoài. Sự cộng hưởng khác nhau này được biểu diễn bằng


15

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Các tương tác trực tiếp C-H được xác định nhờ các tương tác trên phổ này.
Trên phổ 1 trục là phổ 1H-NMR còn trục kia là 13C-NMR. Các tương tác
HMQC nằm trên đỉnh các ô vuông trên phổ.
• Phổ 1H-1H COSY(HOMCOSY) 1H-1H Chemical Shift Corrolation Spectroscopy: Phổ này biểu diễn các tương tác H-H chủ yếu của các proton
đính với C liền kề nhau. Chính nhờ phổ này mà các phần của phân tử được
nối ghép lại với nhau.
• Phổ HMBC (Heteronuclear Multiple Bond Connectivity): Phổ này biểu diễn
các tương tác xa của H và C trong phân tử. Do đó dựa vào việc phân tích phổ
này mà từng phần của phân tử cũng như toàn bộ phân tử được xác định về cấu
trúc.
• Phổ NOESY (Nuclear Overhauser Effect Spectroscopy): Phổ này biểu diễn
các tương tác xa trong không gian của các proton không kể đến các liên kết
mà chỉ tính đến khoảng cách nhất định trong không gian. Dựa vào kết quả phổ
này có thể xác định được cấu trúc không gian của phân tử.

Chương 2: Đối tượng và Các phương pháp nghiên cứu
2.1 Mẫu thực vật
Cây cỏ mật (Eriochloa ramosa) được thu hái tại Đông Anh, Hà Nội vào tháng
9 năm 2006. Mẫu cây được ông Ngô Văn Trại giám định.
Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại Viện Dược liệu Bộ Y Tế.

2.3. Phương pháp xác định cấu trúc hoá học các hợp chất
2.3.1. Điểm nóng chảy (Mp)
Điểm nóng chảy được đo trên máy Kofler micro-hotstage của Viện Hóa học
các Hợp chất Thiên nhiên.
2.3.2. Độ quay cực [?]D
Độ quay cực được đo trên máy JASCO DIP-1000 KUY polarimeter của Viện
Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.3.3. Phổ khối lượng (ESI-MS)
Phổ khối lượng phun mù điện tử (Electron Spray Ionization mass spectra)
được đo trên máy AGILENT 1100 LC-MSD Trap của Viện Hoá học các Hợp
chất Thiên nhiên, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.3.4. Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR)
Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR): 1H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR (125
MHz) được đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer, Viện Hóa
học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.4. Dụng cụ, thiết bị và hoá chất[2], [3]
2.4.1. Dụng cụ và thiết bị chiết
Các dụng cụ và thiết bị dùng cho tách chiết và tinh chế chất sạch được sử
dụng bao gồm:
• Bình chiết 30 lít.
• Máy cất quay chân không.
• Đèn tử ngoại 2 bước sóng 254 và 368 nm.
• Tủ sấy chân không.
• Máy sấy.
• Micropipet.
• Bình sắc ký loại phân tích và điều chế.

Hoàng Thị Thanh Dung

17

3.2. Phân lập các hợp chất từ cây cỏ mật
Cây cỏ mật được phơi khô, nghiền nhỏ thu được 0,8 kg bột khô. Sau đó mẫu
này được ngâm chiết với metanol. Dịch chiết metanol được loại dung môi
dưới áp suất giảm và thu được 21 gam dịch cô metanol. Bổ sung nước cất vào
dịch cô này, lắc đều rồi lần lượt chiết với n-hexan, clorofom, n-butanol. Các
dịch chiết này được cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu được 2,2 gam

Hoàng Thị Thanh Dung

18

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

dịch cô n-hexan, 3,5 gam dịch cô clorofom, 5,0 gam dịch cô etyl axetat và 4,5
gam dịch cô n-butanol.
Từ phân đoạn dịch cô etyl axetat, sau khi tiến hành phân lập trên sắc ký cột
kết hợp giữa silicagel pha thường và pha đảo thu được hợp chất 1 (12 mg)
dưới dạng chất bột có màu vàng.
Từ phân đoạn clorofom (3,5 gam), sau khi tiến hành phân lập bằng
phương pháp sắc ký cột nhồi silicagel với hệ dung môi là CHCl3-MeOH ( từ
20:1 đến 1:2 v/v) thu được bốn phân đoạn ký hiệu là F1 ( 0.5 g ), F2 ( 0.8 g ),
F3 ( 1.0 g), và F4 ( 1.2 g). Hợp chất 2 ( 8,0 mg ) nhận được dưới dạng kết tinh
màu vàng từ phân đoạn F2 sau khi tiến hành phân lập trên cột sắc ký YMC
với hệ dung môi là MeOH : H2O 8/2. Phân đoạn F4 tiếp tục được phân lập
bằng sắc ký cột nhồi silicagel với hệ dung môi rửa giải là CHCl3- EtOAc

116,37 (C-5'), 122,86 (C-6'), 103,51 (C-1''), 72,01 (C-2''), 72,12 (C-3''), 73,26
(C-4''), 71,88 (C-5'') và 17,62 (C-6'').
3.3.2. Hợp chất 2: Palmatine
Là chất rắn màu vàng, nhiệt độ nóng chảy 204-205oC; ESI m/z: (positive)
352 [M]+ (C21H22O4N).
1H-NMR (500 MHz, CD3OD) ? (ppm): 7.58 (s, H-1), 7.01 (s, H-4), 3.28 (t,
J = 6.0 Hz, H-5), 4.94 (t, J = 6.0 Hz, H-6), 9.73 (s, H-8), 8.00 (d, J = 9.5 Hz,
H-11), 8.06 (d, J = 9.5 Hz, H-12), 8.75 (s, H-13), 3.92, 3.98, 4.06 và 4.20
(4 x OCH3).
13C-NMR (125 MHz, CD3OD) ? (ppm): 109.89 (C-1), 150.75 (C-2), 151.79
(C-3), 112.21 (C-4), 129.93 (C-4a), 27.77 (C-5), 57.31 (C-6), 146.22
(C-8), 123.13 (C-8a), 153.69 (C-9), 145.54 (C-10), 124.49 (C-11), 127.90
(C-12), 135.10 (C-12a), 121.20 (C-13), 139.56 (C-13a), 120.30 (C-13b),
57.09 (2-OCH3), 57.59 (3-OCH3), 62.55 (9-OCH3),và 56.66 (10-OCH3).
3.3.3. Hợp chất 3: Daucosterol

Hoàng Thị Thanh Dung

20

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Là chất bột không màu, nhiệt độ nóng chảy 283-2860 C, ESI m/z: (positive)
577 [M + H]+ (C35H60O6).
1H-NMR (500 MHz, CD3OD) ? (ppm): 3,52 (1H, dd, J = 11,7, 5.1 Hz, H-3),

trưng cho vòng A, B và C của flavon, và 6 tín hiệu thuộc vào phân tử
rhamnopyranozit. Các thông tin thu được trên phổ 1H-NMR được kiểm
chứng bằng phổ 13C-NMR và các phổ DEPT, trong đó khung aglycon là một
flavon với các tín hiệu ? 158,53 (C-2), 136,24 (C-3), 179,65 (C-4), 163,21 (C5), 99,81 (C-6), 165,88 (C-7), 94,71 (C-8), 159,31 (C-9), 105,90 (C-10),
122,99 (C-1’), 116,37 (C-2’), 146,41 (C-3’), 149,79 (C-4’), 116,95 (C-5’) và

Hoàng Thị Thanh Dung

21

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

122,86 (C-6’); phân tử đường rhamnozơ xác định bằng các tín hiệu ? 103,55
(C-1”), 72,02 (C-2”), 72,14 (C-3”), 73,27 (C-4”), 71,90 (C-5”) và 17,64 (C6”). Điều dễ nhận ra phân tử đường rhamnozơ đó là sự có mặt của nhóm
metyl bậc hai ?C 17,64/?H 0,96 (3H, d, J = 6,0 Hz), cũng như hằng số tương
tác của proton của cacbon anome rất nhỏ (J = 1,5 Hz) chứng tỏ cấu hình
equatorial của proton này.
Hình 3.1.b. Phổ 13C-NMR của 1
Hình 3.1.c. Phổ 13C-NMR và các phổ DEPT của 1

Hình 3.1.d. Cấu trúc hoá học của 1
Hình 3.1.e. Phổ HSQC của 1
Hình 3.1.f. Phổ HMBC của 1
Phổ khối lượng ( ESI-MS) của 1 cũng xuất hiện các pic ion tại m/z: 447 [MH]-, 449 [M+H]+ hoàn toàn tương ứng phù hợp với công thức cộng
C21H20O11của 1.

Phổ 13C-NMR: xuất hiện tín hiệu của 21 cacbon trong đó 4 nhóm methoxyl
được xác định tại ? 57,59; 57,09; 56,66 và 62,55 và 17 tín hiệu còn lại là
thuộc vào khung Protober. Hai nhóm metylen duy nhất rất đặc trưng cho
khung này được xác định tại C-5 (? 27,77) và C-6 (? 57,31). Các giá trị phổ
của 4 hoàn toàn phù hợp với các giá trị phổ tương ứng của palmatin, một hợp
chất có mặt trong nhiều loại cây [8] . Giá trị thu được trên phổ ESI-MS với sự
xuất hiện pic m/z: (positive) 352 [M]+ tương ứng với công thức cộng
C21H22O4N của palmatin. Đây cũng là lần đầu tiên hợp chất này được tìm
thấy từ cây cỏ mật.

Hình 4.2.b. Phổ 1H-NMR và 13C-NMR của 2
Hình 3.2.c. Phổ 13C-NMR và các phổ DEPT của 2
Hình 3.2.d. Phổ ESI-MS của 2
3.4.3. Hợp chất 3: Daucosterol
Hợp chất 3 nhận được dưới dạng chất bột không màu.
Phổ 1H-NMR của 3 có dạng phổ của một hợp chất steroid-glycozit trong đó
xuất hiện tín hiệu của một nối đôi thế ba lần tại ? 5,35 (1H, br d, J = 5.0 Hz,
H-6), tín hiệu của proton anome tại ? 4,30 (1H, d, J = 7,8 Hz, H-1’), các tín
hiệu của các nhóm metyl điển hình của các hợp chất có khung sterol tại ? 3,52
(1H, dd, J = 11,7, 5.1 Hz, H-3), 0,68 (3H, s, H-18), 1,00 (3H, s, H-19), 0,92
(3H, d, J = 6,5 Hz, H-21), 0,84 (3H, t, J = 7,6 Hz, H-26), 0,81 (3H, d, J =
6,8 Hz, H-28) và 0,83 (3H, d, J = 7,3 Hz, H-29).
Hình 3.3.a. Phổ 1H-NMR của 3
Hình 5.3.b. Phổ 13C-NMR của3
Hình 5.3.c. Phổ 13C-NMR và các phổ DEPT của 3
Hình 3.3.d. Cấu trúc hoá học của 3

Hoàng Thị Thanh Dung

23

phần hoá học của cây cỏ mật ( Eriochloa ramosa)’’ tôi d• thu được những kết
quả sau:
1. Phân lập các hợp chất từ dịch chiết metanol bằng các phương pháp như :
Sắc ký lớp mỏng, sắc ký lớp mỏng điều chế, sắc ký cột...
2. Từ dịch chiết metanol của cây cỏ mật, 3 hợp chất tinh khiết được phân lập
đó là các hợp chất: Quercetin 3-O-?-L-rhamnopyranoside (quercitrin),
Palmatine, Daucosterol. Trong đó đây là lần đầu tiên hợp chất palmatine được
tìm thấy từ cây cỏ mật.

Hoàng Thị Thanh Dung

24

K30- Khoa hóa học


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

3. Cấu trúc của cấc hợp chất: Quercetin 3-O-?-L-rhamnopyranoside
(quercitrin), Palmatine, Daucosterol được xác định nhờ vào các phương pháp
điểm nóng chảy, phổ khối lượng, đặc biệt là các phương pháp phổ hiện đại
như: phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR, ơ13C-NMR, DEPT 90, DEPT
135, HSQC, HMBC, HMQC…

Tài liệu tham khảo
Tiếng việt
[1] . Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Trung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng
Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status