VAI TRÒ CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG HỆ THỐNG NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT


MÔN: LUẬT QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
TRONG HỆ THỐNG NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Nhóm 3:
Lê Công Được
Đỗ Thị Quỳnh Hương
Chế Thị Hồng Hiệp
Huỳnh Thị Lệ
Võ Thanh Nhã (NT)
Đặng Anh Phương

K135031453
K135031458
K135031466
K135031481
K135031492
K135031497


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 4 năm 2015

2


MỤC LỤC

đang trở thành một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay. Các quốc gia trên thế
giới đã và đang tăng cường thiết lập và đẩy mạnh các mối quan hệ ngoại giao,
hợp tác quốc tế song phương và đa phương trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế,
văn hóa, giáo dục, y tế,… hướng tới sự phát triển của từng quốc gia cũng như
cộng đồng quốc tế. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, việc ký kết cũng như gia
nhập các điều ước quốc tế đã trở thành nhu cầu cấp thiết của các quốc gia nói
riêng và các chủ thể Luật Quốc tế nói chung. Điều ước quốc tế đã trở thành công
cụ pháp luật chủ yếu, điều chỉnh hầu hết các quan hệ quốc tế nảy sinh trong quá
trình phát triển của các lĩnh vực đời sống quốc tế. Trong hệ thống của nguồn luật
quốc tế, điều ước quốc tế là loại nguồn cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong việc
hình thành và phát triển tập quán quốc tế cũng như các loại nguồn bổ trợ khác.
Nhằm tìm hiểu và làm rõ tầm quan trọng của điều ước quốc tế trong hệ thống
nguồn của Luật Quốc tế, nhóm chúng tôi thực hiện bài tiểu luận với đề tài: “Vai
trò của điều ước quốc tế trong hệ thống nguồn của Luật Quốc tế”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nội dung của bài tiểu luận xoay quanh những vấn đề lí luận chung về hệ
thống nguồn của luật quốc tế nói chung và điều ước quốc tế nói riêng, từ đó làm
rõ giá trị pháp lý và vai trò của điều ước quốc tế trong hệ thống nguồn của Luật
Quốc tế cũng như mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với tập quán quốc tế và các
loại nguồn bổ trợ khác. Bên cạnh đó, bài tiểu luận cũng nêu lên thực trạng áp
dụng điều ước quốc tế và những kiến nghị để loại nguồn này phát huy được tầm
quan trọng của nó trong quan hệ quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là hệ thống nguồn của luật quốc tế
và điều ước quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của bài tiều luận là trong khoảng thời gian luật quốc tế
hiện đại, tức là sau cách mạnh tháng Mười Nga đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
5



LUẬT QUỐC TẾ
9.
9.1.

1.1. Định nghĩa về nguồn của Luật Quốc tế

10. Khi tìm hiểu về bất kỳ một hệ thống pháp lý nào thì một trong
những vấn đề đầu tiên và cũng là một trong những vấn đề quan trọng nhất mà
chúng ta phải tiếp cận đến đó là “Nguồn của luật” và Luật Quốc tế cũng thế.
Ngay từ ý nghĩa vốn có của từ “Nguồn” chúng ta đã có thể nhận thấy tầm quan
trọng đặc biệt của nó, vậy nguồn của Luật Quốc tế là gì?
11.
Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp
luật. Nguồn của pháp luật biểu hiện dưới 2 dạng thành văn và bất thành văn. Liên
quan đến nguồn của Luật Quốc tế có nhiều cách hiểu khác nhau.
12. Theo nghĩa hẹp: Nguồn là hình thức chứa đựng, ghi nhận các
nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế. Theo đó, LQT
gồm 2 loại nguồn cơ bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
13. Theo nghĩa rộng: Nguồn của LQT là tất cả những gì mà cơ quan có
thẩm quyền có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật. Vấn đề nguồn
của luật quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý và thực tiễn vì nó liên
quan chặt chẽ đến việc xác định sự hình thành của quan hệ quốc tế nói riêng và
quá trình thực thi luật quốc tế nói chung.
14. Về pháp lý, nguồn của luật quốc tế là hình thức chứa đựng các quy
phạm luật quốc tế. Theo khoản 1, điều 38 Quy chế tòa án công lý quốc tế quy
định, theo đó, luật quốc tế có hai loại nguồn là nguồn thành văn (điều ước quốc
tế), và nguồn bất thành văn (tập quán quốc tế) với nội dung chứa đựng các quy
phạm luật quốc tế, trực tiếp điều chỉnh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý

danh sách các nguồn truyền thống của LQT như:

-

Các công ước quốc tế chung hoặc cụ thể, tập quán quốc tế.
Các nguyên tắc cơ bản của LQT, các quyết định của tòa án.
Các bài giảng của các học giả có chuyên môn cao.
18.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 38 chưa đề cập một cách đầy đủ các loại
nguồn bổ trợ của LQT. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, ngoài các loại nguồn đã
nêu trong khoản 1 Điều 38 các chủ thể LQT còn thừa nhận một số các nguồn
khác, có tính chất là nguồn bổ trợ cho nguồn cơ bản của LQT như: Nghị quyết
của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc
gia... Do đó, ngoài khoản 1 Điều 38, thực tiễn áp dụng nguồn của các chủ thể
LQT cũng là cơ sở để hình thành các loại nguồn của LQT.
18.1. 1.3. Phân loại Nguồn của Luật Quốc tế

19.
-

Có 2 loại Nguồn của Luật Quốc tế:

Nguồn cơ bản: Điều ước quốc tế (nguồn thành văn) và tập quán quốc tế (nguồn
bất thành văn).
Nguồn bổ trợ: Đây là các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT, bao gồm:
8


+
+

Về tập quán quốc tế
23. Những qui tắc xử sự được hình thành lâu trong các quan hệ quốc tế
được các các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các pháp nhân, các công dân
của nhiều quốc gia khác nhau tôn trọng chấp hành mặc dù những quy tắc đó chưa
được chính thức quy định trong luật pháp quốc tế. Các tập quán quốc tế được
hình thành lâu đời và trước tiên nhất là các tập quán, tập tục về chiến tranh như
không giết người thuộc các lực lượng vũ trang đối phương khi họ bị loại khỏi
vòng chiến đấu, cho phép nước chủ quản nhân thương binh, bệnh binh của họ trở
về nước trong lúc chiến tranh chưa kết thúc. Các tập quán quốc tế hiện còn được
giữ lại nhiều là các tập quán về cứu hộ người, phương tiện trên biển. Các tàu
thuyền đi lại trên biển phải cứu vớt, chăm sóc cho các nạn nhân, tàu thuyền gặp
tai nạn trên biển, nước chủ nhà không được bắt giữ mà phải cứu hộ và cung cấp
lương thực, nước ngọt để các tàu thuyền lâm nạn trôi dạt vào lãnh thổ của mình
trở về nước họ,... Tập quán quốc tế là một trong những nguồn của luật quốc tế.
Nhiều tập quán quốc tế ngày nay đã được thừa nhận và ghi vào các điều ước quốc
tế, trong trường hợp này tập quán quốc tế đã trở thành điều ước quốc tế như công
ước về bảo hộ nạn nhân chiến tranh. Có những nước không tham gia điều ước
9


quốc tế nhưng không phản đối và chấp nhận việc thi hành nó, trong trường hợp
này điều ước quốc tế trở thành tập quán quốc tế đối với nước không tham gia
công ước.
 So sánh giữa Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế
24. Các Tập quán quốc tế và Điều ước quốc tế đều là kết quả của sự
thống nhất ý chí của các chủ thể liên quan, chúng đều hình thành từ sự thỏa thuận
của các bên liên quan, đều là nguồn chứa đựng quy phạm quốc tế, là công cụ
pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, chúng cũng
có những điểm khác nhau cơ bản:
25.

38.Đơn giản, theo sát sự
đề
vận động của các quan
39.Phức tạp
sửa
hệ quốc tế
đổi
40.
41.

1.3.2. Khái quát về nguồn bổ trợ

42. Về nguyên tắc đây không phải là hình thức biểu hiện trực tiếp các
quy phạm và nguyên tắc của công pháp quốc tế mà chỉ đóng vai trò bổ trợ, bổ
khuyết, bổ sung, làm sáng tỏ, làm tiền đề cho nguồn cơ bản.
43.
(i)
-

Các loại nguồn bổ trợ:

Các phán quyết của tòa án công lý quốc tế.
Các kết quả xét xử thể hiện tại các bản án, ngoài chức năng giải quyết tranh chấp
còn có ý nghĩa tư vấn quan trọng trong lĩnh vực thực thi quốc tế.
Giải thích hay làm sáng tỏ nội dung của qui phạm luật quốc tế.
10


(ii)
(iii)

với một vấn đề cụ thể trong quan hệ quốc tế. Có thể là:
Hành vi công nhận nhằm xác nhận một tình hình hoặc yêu cầu nào đó là phù hợp
với pháp luật. (Ví dụ: Hành vi công nhận quốc gia mới).
Hành vi cam kết nhằm tạo ra các nghĩa vụ mới. (Ví dụ: Tuyên bố của chính phủ
Ai Cập năm 1957 về việc cho tàu thuyền qua lại tự do trên kênh đào Xuy-ê).
Hành vi phản đối nhằm thể hiện ý chí, thái độ với một sự việc cụ thể. (Ví dụ:
Những tuyên bố phản đối do bộ ngoại giao một quốc gia thực hiện khi có hành vi
vi phạm LQT từ một quốc gia khác).
Hành vi từ bỏ các quyền hạn nhất định.
44.Mối quan hệ với nguồn cơ bản
45. Nguồn bổ trợ bổ sung cho nguồn cơ bản là tiền đề phản ánh sự phát
triển, hoàn thiện của luât quốc tế. Nguồn cơ bản là cơ sở pháp lý để công nhận sự
tồn tại và hình thành của nguồn bổ trợ.

11


46.
47.

CHƯƠNG 2

ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ - VAI TRÒ CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC
TẾ TRONG HỆ THỐNG NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

48.
2.1.

Khái niệm Điều ước quốc tế


ĐƯQT đa phương là văn bản pháp lý có sự kết hợp hoặc tham gia của từ ba
quốc gia trở lên. Trong các ĐƯQT đa phương có điều ước đa phương toàn cầu
và khu vực. ĐƯQT đa phương khu vực thường được ký kết trong phạm vi các
quốc gia hoặc có cùng chung khu vực địa lý, hoặc có chế độ chính trị, kinh tế xã hội gần gũi nhau, ví dụ: ĐƯQT trong khuôn khổ các nước ASEAN 1, giữa
các nước thuộc khối NATO2 hoặc khối WARSZAWA3 trước đây. ĐƯQT được
coi là nguồn cơ bản của LQT, vì tuyệt đại bộ phận quy phạm của LQT đều nằm
trong ĐƯQT và do các quốc gia xây dựng nên. Nếu như từ đầu những năm 70
về trước hầu như chỉ có ĐƯQT được ký kết giữa các quốc gia thì ngày nay
xuất hiện ngày càng nhiều ĐƯQT giữa các tổ chức quốc tế liên chính phủ với
nhau, cũng như giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế liên chính phủ.4
2.2.

Điều kiện để Điều ước quốc tế trở thành nguồn của Luật Quốc tế
53. ĐƯQT là nguồn cơ bản của LQT, nhưng về mặt lý luận không phải
mọi ĐƯQT đã có hiệu lực đều được coi là nguồn của nó. Một ĐƯQT được coi
là nguồn của LQT nếu nó thỏa mãn được các yêu cầu sau:
54. Thứ nhất, ĐƯQT phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình
đẳng giữa các chủ thể. Tự nguyện và bình đẳng không phải là nguyên tắc đặc
thù của Luật Điều ước quốc tế, mà là nguyên tắc chung của các ngành luật.
Trên cơ sở đó, các chủ thể của LQT mới thể hiện được ý chí của mình, từ đó
mới tự nguyện thực hiện những cam kết đã thỏa thuận. Với ý nghĩa đó, chỉ khi
ấy các ĐƯQT này mới phát sinh hiệu lực thực tế và mới được coi là nguồn của
LQT.
1ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á là một liên minh
chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tổ chức này được thành lập
ngày 8 tháng 8 năm 1967
2 NATO là tên tắt của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization) là một liên
minh quân sự thành lập năm 1949 bao gồm Mỹ và một số nước ở châu Âu. Trụ sở chính đặt tại Brussels, Bỉ và
tổ chức thiết lập một liên minh phòng thủ trong đó các nước thành viên thực hiện phòng thủ chung khi bị tấn
công bởi bên ngoài.

LQT. Nhưng tới thời điểm ngày hôm nay, nó vẫn được xem là một trong những
nguồn quan trọng bậc nhất của LQT. Về vai trò của ĐƯQT trong hệ thống
nguồn còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất. Ở đây, nhóm chúng tôi trình
bày dựa trên Giáo trình Luật Quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội. Và theo
các tác giả biên soạn giáo trình này thì ĐƯQT có 4 vai trò nổi bật trong hệ
thống nguồn của LQT.
58. 2.3.1. Điều ước quốc tế là công cụ, phương tiện quan trọng để duy
trì và tăng cường các quan hệ hợp tác giữa các chủ thể
59. Điều 26 công ước Viên năm 1969 quy định: “mọi điều ước đã có
hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi
hành một cách thiện chí”. Sự tận tâm, thiện chí của các chủ thể tham gia điều
ước là cơ sở, là bảo đảm quan trọng để chủ thể ký kết tự ràng buộc vào nghĩa
vụ thực hiện các quy định của Luật Quốc tế. Do đó, một điều ước có vai trò
quan trọng để duy trì và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế.
5 Theo Điều 53 Công ước Viên 1969 thì Jus cogens là quy phạm chung, được cộng đồng quốc tế công nhận,
thông qua và áp dụng, không một (hoặc một nhóm) quốc gia nào có quyền thay đổi (hoặc chỉ thay đổi bằng
quy phạm có tính chất tương tự). Vì nó đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng nên khi vi phạm Jus cogens có
thể sẽ gây thiệt hại về quyền và lợi ích của các quốc gia khác nhau trên thế giới, Jus cogens có hiệu lực pháp lý
cao nhất nên các điều ước quốc tế khi ký kết không được trái với các quy phạm này.

14


60. Thế giới hiện nay có hơn hai trăm quốc gia và vùng lãnh thổ. Sau
thế chiến thứ hai, thế giới có xu hướng phân chia hai cực: Liên Xô – Hoa Kì.
Trong thời kì này, người ta không thấy quan hệ giữa các quốc gia phát triển
mạnh mẽ. Thay vào đó là một sự đóng băng trong một cuộc chiến tranh lạnh.
Tuy nhiên, sau khi có sự phá băng trong quan hệ Nga – Mỹ, kéo theo là sự phát
triển trong quan hệ các nước. Đó được xem như là một quy luật tất yếu trong
quá trình phát triển các nước. Quan hệ song phương và đa phương được thiết


phương đã, đang và sẽ được ký kết. Tiêu biểu phải kể đến DOC6, COC7… Song
song với một đó là một loạt các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật, tăng
cường sự hiểu biết nhằm tăng cường tình đoàn kết các nước trong khối, nhất là
trong giới trẻ và sinh viên.
63. Hay một ví dụ phổ biến nữa là qua hệ Hoa Kì và Châu Âu. Trong
quá khứ trước đó, người ta không thấy một quan hệ tốt đẹp giữa Mỹ và Châu
Âu. Có lẽ bởi hai lí do. Thứ nhất là về mặt địa lý. Trong thời đại ngày nay,
chúng ta không thấy khoảng cách về địa lý là một trở ngại lớn. Nhưng xét
trong bối cảnh ngày xưa, đó là một vấn đề không hề đơn giản chút nào, nhất là
khi mà khoa học chưa thật sự phát triển. Lý do thứ hai đó chính là cuộc xâm
lược của người Anh. Bởi vì hai lý do trên mà trong một thời gian dài của lịch
sử, quan hệ giữa hai ông lớn thế giới dường như không phát triển. Nhưng cuộc
chiến tranh thế giới, nhất là thế chiến thứ hai cũng như chiến tranh lạnh sau đó,
quan hệ này có sự phát triển thấy rõ. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động
cộng thêm nền tảng quan hệ đã được hình thành trước đó, nhiều nhà phân tích
cho rằng quan hệ Châu Âu và Mỹ sẽ còn tiếp tục tăng trưởng trong thời gian
tới.
64. Như vậy qua hai ví dụ đã phân tích, các ĐƯQT không phải là nhân
tố hình thành nên các quan hệ giữa các chủ thể. Mà vốn dĩ các quan hệ này đã
hình thành và phát triển trước đó. Các điều ước này xuất hiện và được ký kết
như một kết quả tất yếu của các quan hệ và giúp cho quan hệ ấy thêm phát
triển và bền chặt hơn mà thôi.
65. 2.3.2. Điều ước quốc tế là khung pháp lý quan trọng, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể luật quốc tế
66. Như đã nêu ở phần trên, quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế ngày
nay phát triển rất mạnh, kéo theo đó còn có cả sự phức tạp và biến đổi khó
lường. Nhìn một các tổng thể, không thể có chuyện một nước lớn giúp không
một nước bé, nếu họ không có lợi lộc gì. Các quan hệ, suy cho cùng đều có chủ
đích và đã được tính toán rất kỹ càng. Bởi vì mục tiêu lợi ích, mang tính cá

điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970,
Điều 49, Điều 52 Công ước Viên năm 1969...và một số văn bản pháp lý quốc tế
khác.
68. Trong trình tự ký kết một điều ước, ở giai đoạn thứ nhất tất cả các
quốc gia khi đàm phán thảo luận đều được nêu ra ý kiến của mình để đưa đến
một nội dung đúng đắn nhất mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Ở
giai đoạn hai, các quốc gia cũng có toàn quyền quyết định việc vì lợi ích của
dân tộc có tham gia điều ước hay không. Bên cạnh đó mọi điều ước quốc tế khi
được thực thi sẽ áp dụng công bằng cho tất cả và có hiệu lực pháp lý như nhau,
không có ngoại lệ cho bất cứ quốc gia nào.
69. Hãy một lần nữa nhìn nhận về tình hình biển Đông để khẳng định
vai trò của ĐƯQT trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể LQT.
Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho
việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm
lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Sự thật, chúng ta
không thể hình dung được tình hình sẽ như thế nào nếu không có công ước
cũng như các luật pháp quốc tế khác có liên quan. Với ưu thế về quân sự và
kinh tế, cộng với tham vọng và âm mưu nuốt trọn Biển Đông cùng tinh thần
bất chấp tất cả; Trung Quốc có thể thể đã lấy hết phần biển đang tranh chấp
17


nếu không có một khung pháp lí. Những nước thấp cổ bé họng như Việt Nam
và Philipines sẽ chẳng thể làm được gì. Rõ ràng, khi so sánh về nhiều mặt,
không có cơ hội cho hai nước khi tranh chấp trực tiếp. Tình hình Biển Đông
còn được như ngày nay và việc Trung Quốc không dám thực hiện các hành
động leo thang chính một phần rất lớn là nhờ vào công ước nên trên và các văn
bản pháp lí khác.
70. Không chỉ có tranh chấp “không cân xứng” giữa Việt Nam và Trung
Quốc. Trong quá khứ cũng như hiện tại, ta thấy không hiếm trường hợp tương


ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
(CISG)8 là một minh chứng cho điều này.
75. Bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1988, đến nay công ước đã được phê
chuẩn, áp dụng rộng rãi nhất trong các công ước quốc tế trong lĩnh vực thương
mại. Xem xét trong một phạm vi hẹp hơn, so sánh với các công ước khác về
mua bán hàng hóa (ví dụ như công ước Hague 1964), CISG là Công ước quốc
tế lớn hơn hẳn, khi nhìn vào số lượng các quốc gia phê chuẩn cũng như các
hợp đồng và các vụ việc giải được giải quyết thông qua công ước này. Tính
đến hiện nay, với 74 quốc gia thành viên, CISG điều chỉnh các giao dịch chiếm
đến ba phần tư thương mại hàng hóa thế giới. Đây quả là một con số rất ấn
tượng. Trong danh sách các nước thành viên, có sự góp mặt của các quốc gia
thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các
quốc gia đang phát triển, các quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia
theo đường lối xã hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục. Đặc biệt là chúng ta
thấy, tất cả các quốc gia mạnh về kinh tế trên thế giới, như: Mỹ, Pháp, Đức,
Canada, Úc, Nhật Bản… đều đã tham gia.
76. Dựa vào thực tế, thành công của CISG thêm một lần nữa được
khẳng định với hơn 2500 vụ tranh chấp đã được các Tòa án và trọng tài các
nước cũng như quốc tế giải quyết bằng việc áp dụng và diễn giải công ước này.
Điểm đáng lưu ý là trong tổng số 2500 vụ kiện nói trên, không phải tất cả đều
là từ các quốc gia thành viên. Tại các quốc gia chưa phải là thành viên, Công
ước vẫn được áp dụng. Hoặc do các bên trong hợp đồng lựa chọn là luật áp
dụng cho hợp đồng; cũng có thể do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải
quyết các tranh chấp. Không hiếm các quốc gia dù không phải là thành viên
nhưng họ vẫn lựu chọn CISG áp dụng cho các hợp đồng thương mại quốc tế
của mình, bởi họ thấy được những điểm ưu việc của công ước so với hệ thống
pháp luật của quốc gia mình. Đây là một điều không dễ dàng, khi mà các quốc
gia thường đề cao hệ thống pháp luật của nước họ, bởi công bằng ai cũng có
lòng tự tôn dân tộc

81. Sau đó, hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về luật biển, được
tổ chức tại Geneva từ ngày 24/02 tới ngày 29/04/1958 . Đây có thể được xem
là một hội nghị tương đối thành công với việc cho ra đời bốn công ước, trong
đó có Công ước về biển cả, có hiệu lực từ ngày 30/09/1962. Lần thứ hai, hội
nghị được tổ chức tại Geneva từ ngày 17/03 tới ngày 26/4/1960.
82. Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển được tổ chức từ
năm 1973 đến 1982, với phần lớn thời gian tại New York. Và cuối cùng, công
ước đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1994. Sự ra đời của công
ước này là một kết quả tổng hợp từ việc pháp điển hóa các công ước trước đó
cũng như các tập quán quốc tế về biển và các vấn đề liên quan đến biển.
83. Trong trường hợp vừa phân tích ở trên, chúng ta thấy có một sự kết
hợp thú vị giữa Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế trong việc hình thành
công ước về luật biển 1982. Chưa thể nói ai quan trọng và có ảnh hưởng hơn
ai, nhưng chắc chắn một điều là đề có được sự thành công như ngày hôm nay
của công ước 1982, không thể không kể đến việc pháp điển hóa các công ước
quốc tế trước đó.

20


84. 2.3.4. Điều ước quốc tế Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng
các quy phạm luật quốc tế để xây dựng và ổn định cơ sở pháp luật cho các
quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và pháp triển
85. Vai trò này có liên hệ mật thiết với công việc pháp điển hóa ở trên,
bởi các ĐƯQT chứa đựng các quy phạm quốc tế nên chúng ta mới có thể pháp
điển hóa và hình thành nên LQT. Đây là một điều hoàn toàn dễ hiểu, bởi
ĐƯQT thường là song phương, không thì đa phương. Chẳng có ĐƯQT “đơn
phương” nào cả. Chính điều đó đã lí giải vì sao các điều ước quốc tế lại chữa
đựng các quy phạm luật quốc tế.
86. Về vai trò của ĐƯQT trong xây dựng và ổn định cơ sở pháp luật cho

nước ta về mua bán hàng hóa quốc tế sẽ càng rõ nét và thuận lợi hơn nữa.

22


3.1.
3.1.1.

90. CHƯƠNG 3
91. THỰC TRẠNG THỰC THI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ.
92. GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THỰC THI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
93.
Thực trạng thực thi Điều ước quốc tế
Thực trạng thực thi Điều ước quốc tế trên thế giới
94. LQT là một hệ thống pháp luật đặc biệt không có cơ quan lập pháp,
hành pháp, tư pháp như LQG. Các nguyên tắc, quy phạm của LQT được hình
thành thông qua sự thỏa thuận, đấu tranh, thương lượng để điều chỉnh các quan
hệ phát sinh giữa các chủ thể của LQT và nó được biểu hiện bằng sự tuân thủ,
tự nguyện kết hợp với các biện pháp cưỡng chế thi hành do các chủ thể của
LQT thỏa thuận áp dụng. Tuy nhiên, trên thực tế các biện pháp cưỡng chế lại
không mang tính khả thi cao, tạo sự bất bình đẳng giữa các quốc gia và vẫn
chưa mang lại được sự công bằng cho các quốc gia có nền kinh tế chưa phát
triển.
95. Thứ nhất, quốc gia có quyền miễn tố, như vậy thì khi quốc gia đó vi
phạm ĐƯQT làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia khác, nhưng lại có quyền
miễn tố, tức là sẽ không có cách nào buộc quốc gia đó tuân thủ các điều khoản
cam kết nếu không phải xuất phát bởi sự tự nguyện tham gia là một bên của
quá trình tài phán. Ví dụ trong trường hợp tranh chấp giữa Việt Nam và Trung
Quốc ở Biển Đông, các hành vi của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm

khi Liên Xô và các nước XHCN tan rã, thì Mỹ với ưu thế vượt trội trong quan
hệ quốc tế đã chi phối đến hoạt động của Hội đồng Bảo an LHQ. Trong một số
trường hợp Mỹ còn thực hiện những hành động không hề có sự đồng ý của Hội
đồng Bảo an cũng như cộng đồng quốc tế. Như hành động can thiệp vào Bắc
Irac, Somali, Đông-Ti-mo... thì một số được chấp nhận của Hội đồng Bảo an
còn một số thì không hề thông qua.
97. Thứ ba, khi đề cập đến thực hiện ĐƯQT trong mối quan hệ với hệ
thống quy phạm nội luật từng quốc gia thì những vấn đề pháp lý nảy sinh gây
tranh cãi và đi đến cách giải quyết khác nhau ở từng nước không phải do
không có sự thống nhất về nguyên tắc và xác định nghĩa vụ thực hiện ĐƯQT
mà do vì sự khác nhau giữa các quốc gia trong cách quan niệm về cấu trúc của
pháp luật, về vị trí của ĐƯQT bên cạnh pháp luật quốc gia, về thể thức áp dụng
ĐƯQT điều chỉnh lợi ích quốc gia. Không ít quốc gia quan niệm ĐƯQT là một
bộ phận hợp thành của pháp luật quốc gia và chiếm ưu thế hơn so với pháp luật
trong nước (như Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, CHLB Đức...).
Ngược lại, nhiều quốc gia khác do chưa quy định thống nhất trong nội luật về
vị trí của ĐƯQT bên cạnh văn bản pháp luật quốc gia nên dẫn đến thực trạng
là, về nghĩa vụ pháp lý quốc tế, vẫn xác định thục hiện đầy đủ ĐƯQT, nhưng
có sự giải thích khác nhau về cơ sở việc thực hiện đó, làm cho trên thực tế, các
cơ quan chức năng và cơ quan liên quan đến ký kết ĐƯQT dễ cháp nhận
trường hợp ngoại lệ. Ở các nước này, một số vấn đề pháp lý về thực hiện
ĐƯQT vẫn còn bỏ ngỏ, ví dụ như vấn đề “chuyển hóa” ĐƯQT.
Thực trạng thực thi Điều ước quốc tế ở Việt Nam
98. Cho đến nay nước ta đã ký được hơn 1000 ĐƯQT song phương và
là thành viên của gần 200 ĐƯQT đa phương. Ngày 10/10/2001, Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc
tế. Việt Nam cũng đã ban hành Pháp lệnh ký kết và thực hiện Điều ước quốc tế
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status