ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
SINH THÁI MÔI TRƯỜNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HỮU SINH VÀ
CON NGƯỜI ĐẾN SINH VẬT
NHÓM 2 :
HÀ NỘI - 2015
Nguyễn Thị Quỳnh
Lê Thị Mai
Võ Quang Anh
Trương Minh Phương
MỤC LỤC
1. Các
Mối Quan Hệ Trực Tiếp Và Gián Tiếp Giữa Các Sinh Vật …....2
1.1. Quan Hệ Gián Tiếp
………………………………………………………….2
h. Vật Dữ - Con Mồi
2.
………………………………………………………..10
Ảnh Hưởng Tương Hỗ Giữa Động Vật Và Thực Vật ……………….10
2.1. Thực Vật Với Động Vật
……………………………………………………..10
2.2. Động Vật Với Thực Vật
……………………………………………………..11
3. Ảnh
Hưởng Của Con Người Đến Sinh Vật …………………………...11
3.1. Tác Động Đến Môi Trường Sống Của Sinh Vật
……………………………..12
3.2. Ảnh Hưởng Đến Khả Năng Sinh Sản, Phát Triển Của Sinh Vật
3.3. Làm Suy Giảm Và Tuyệt Chủng Các Loài Sinh Vật
………………………….13
3.4. Gây Mất Cân Bằng Giữa Các Loài Sinh Vật Trong Tự Nhiên
3.5. Các Tác Động Tích Cực Tới Sinh Vật
trường nằm trong giới hạn cho phép loài đó tồn tại và phát triển lâu dài.
Dứới đây là bảng thể hiện mối tương tác trực tiếp giữa các sinh vật :
Mối Tương Tác
Ví Dụ
TT
Mối Quan Hệ
Loài 1
Loài 2
Loài 1
Loài 2
1
Trung tính
0
0
Khỉ, hổ
Cá, chim
0
Cá ép
Rùa biển
5
Hãm sinh
0
-
Tảo tiết độc tố
Động vật nổi, cá nổi
6
Vật chủ, kí sinh
-
+
Gia súc
Ve bét
Bảng. Các mối quan hệ giữa các sinh vật (Sinh Thái Cơ Sở - Nguyễn Thị Loan, Ng.Kiều Băng
Tâm, Chương 2, tr.49)
a.
Trung tính (Neutalism)
Quan hệ trung tính thể hiện giữa 2 nhóm loài vi sinh vật thiếu tác dụng tương hỗ với
nhau.
Quan hệ trung tính không thể xuất hiện ở các nhóm loài vi sinh vật có chức năng giống
nhau hoặc gần giống nhau, mà chỉ có thể tồn tại giữa các nhóm loài có kiểu trao đổi
chất khác biệt cực lớn.
Giữa các nhóm loài vi sinh vật cách xa nhau về không gian, mật độ thấp, nghèo dinh
dưỡng, trong môi trường bất lợi cho sinh trưởng và sinh sản (như trong không khí đông
lạnh, khô hạn) hoặc ở trong trạng thái nghỉ thì mới có thể phát sinh quan hệ trung tính.
Ví Dụ: Khỉ và cá biển là 2 loài có quan hệ trung tính, khỉ sống trên cạn còn cá sống dưới
nước, chúng khác môi trường sống, tập tính, đặc điểm, không có bất cứ liên hệ gì với
nhau, không có tác dụng tương hỗ với nhau.
Hình 1. Khỉ và cá biển không có tác dụng tương hỗ với nhau (Ảnh: vietnamnet)
b.
Cộng sinh (Symbiose)
Quan hệ cộng sinh cùng có lợi (hay quan hệ cộng sinh tương hỗ) là mối quan hệ
chuyên biệt giữa hai nhóm loài, trong đó một nhóm loài không thể bị nhóm loài khác
thay thế.
Chúng sống dựa vào nhau, không thể tồn tại riêng biệt trong môi trường.
Cộng sinh có thể được phân loại theo kiểu gắn kết vật lý của các sinh vật : sự cộng sinh
mà trong đó các sinh vật hợp thành một thể thống nhất gọi là cộng sinh tiếp xúc ( VD.
Địa y ), còn sự cộng sinh mà chúng không kết hợp thành một thể thống nhất được gọi là
cộng sinh không gắn kết ( như giữa cá hề và hải quỳ ).
Cả 2 nhóm vi sinh vật đều hưởng lợi qua mối quan hệ đó, nhưng quan hệ không mang
tính chuyên biệt, tức là cà hai nhóm loài đó đều có thể tồn tại độc lập trong môi trường
thiên nhiên.
Là mối quan hệ lỏng lẻo, bất kỳ nhóm loài nào đều dễ dàng bị nhóm loài khác thay thế.
Quan hệ hỗ trợ dinh dưỡng (syntrophism) là điển hình của mối quan hệ này. Hỗ trợ dinh
dưỡng chỉ mối quan hệ hiệp đồng giữa hai hoặc trên hai nhóm loài cung cấp dinh
dương cho nhau.
Ví Dụ : Sáo và trâu. Sáo ăn bọ trên lung trâu, nhưng nếu không có sáo, trâu có thể đầm
mình dưới nước để diệt bọ. Còn nếu không ăn bọ trên lung trâu thì sáo có thể kiếm mồi
nơi khác.
Cây ổ kiến gai và kiến. Cây cung cấp nơi cư trú, và đôi khi là thức ăn cho kiến.
để đổi lại, kiến bảo vệ cây, cung cấp cho cây chất dinh dưỡng từ phân.
Hình 5. Ví dụ về quan hệ tiền hợp tác giữa các sinh vật
Có nhiều ứng dụng dựa trên mối quan hệ này, ví dụ như viêc nông dân nuôi ong trong
vườn nhãn để tăng hiệu quả thụ phấn ở cây nhãn, đồng thời cung cấp cho ong lượng
phấn hoa có chất lượng tốt.
5
Hình 6. Ứng dụng mối quan hệ trong nông nghiệp
d.
Hội sinh (Commensalism)
Chỉ mối quan hệ có lợi cho một phía nhưng không ảnh hưởng đến nhóm loài phía bên
kia.
Là mối quan hệ giữa hai nhóm loài mang tính chất một chiều, tức là một nhóm loài
không ảnh hưởng đến việc cung cấp lợi ích về môi trường và vật chất cho các nhóm
bên kia, nhưng nhóm loài hưởng lợi lại có thể nhận được lợi ích về môi trường và vật
v.v…
7
Hình 10. Hiện tượng thủy triều đỏ
f.
Ký sinh (Parasitism)
Là một loài vi sinh vật sống trong cơ thể vật chủ, chiếm đọat chất dinh dưỡng và gây hại
cho vật chủ.
Vật chủ có kích thước lớn, số lượng ít; vật ký sinh có kích thước nhỏ, số lượng đông.
Quan hệ ký sinh có tác dụng khống chế nhóm loài, quan hệ đó chỉ có thể phát sinh khi
đạt tới mật độ nhất định trong tế bào vật chủ và khiến mật độ tế bào vật chủ giảm
xuống, do đó những tài nguyên bị vật chủ tiêu hao được tích lũy và bổ sung lại.
Hình 11. Giun sán ký sinh
g.
Hình 12. Con ve chó
Cạnh tranh (Competition)
Tồn tại giữa hai loài khác nhau hay cùng một loài.
Mối quan hệ này làm cả hai bên đều có hại. Tuy nhiên đó là một trong các yếu tố của
chọn lọc tự nhiên và là nguyên nhân dẫn đến tiến hóa.
Cạnh tranh cùng loài : giữa các cá thể trong quần thể. Xuất hiện khi mật độ cá thể của
quần thể tăng lên quá cao, nguồn sống của môi trường không đủ cung cấp cho mọi cá
thể trong quần thể.
Sự cạnh tranh gay gắt cùng loài sẽ dẫn đến sự thay đổi tập tính, sinh lý, giải phẫu của
Hình 16. Vật dữ - Con mồi
Quan hệ này là cơ chế nhằm kiểm soát nhóm loài trong thiên nhiên, tránh sự bùng nổ
của một nhóm loài và nguồn dinh dưỡng bị tiêu hao quá mức, nguy hại cho sự sinh tồn
của các nhóm loài khác.
Trong thế giới vi sinh vật, phân biệt giữa quan hệ ký sinh và quan hệ bắt mồi thật ra
không rõ ràng lắm.
2.
Ảnh hưởng tương hỗ giữa động vật và thực vật
2.1.
Thực vật với động vật:
Thực vật là nguồn thức ăn của động vật. Nguồn này bao gồm lá, thân, hoa, quả,rễ của
thực vật.
Thực vật là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật như côn trùng, bò sát, chim và các loài
động vật có vú.
Một số loài thực vật ăn thịt động vật. Chúng bẫy các loài động vật và phân hủy con mồi
để hấp thụ các khóang chất, đặc biệt là nitơ.
Hình 17. Ảnh hưởng của thực vật với động vật
2.2.
Động vật với thực vật:
10
Động vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản của động vật ( Quá trình thụ
11
Hình 19. Con người đang hủy hoại môi trường sống của các loài sinh vật
3.2.
Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, phát triển của sinh vật
Con người xả thải ra môi trường sống của sinh vật những chất ô nhiễm hoặc những hóa
chất có hại đối với cơ thể sinh vật. Chúng gây biến đổi quá trình phát triển của sinh vật
cũng như khả năng sinh sản, tạo ra những cá thể yếu kém, đột biến, làm giảm chất
lượng nòi giống.
Trong thảm họa động đất,song thần dẫn đến sự cố ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima
ở Nhật Bản năm 2011, đã có một lượng lớn chất phóng xạ bị rò rỉ ra môi trường khiến
các loài sinh vật sống gần khu vực bị biến đổi gen, phát triển chậm, thậm chí là chết do
không thích nghi được. Người ta đã bắt được những con cá có 3 mắt, còn có con cá sói
có chiều dài bất thường lên đến 2 mét ( bình thường dài nhất là 1.2 mét).
Hình 20. Cá 3 mắt bắt được sau thảm họa Fukushima
3.3.
Làm suy giảm và tuyệt chủng các loài sinh vật
Việc săn bắn quá mức nhằm phục vụ nhu cầu của con người làm suy giảm các loài sinh
vật. Nếu ko có kiểm soát sẽ dẫn đến sự tuyệt chủng.
Loài tê giác trên thế giới hiện đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do nạn săn bắn trái
phép tràn nan để lấy sừng. Theo thống kê thì mỗi ngày có 2 con tê giác bị giết hại, cứ
với đà này thì không lâu nữa loài này sẽ bị tuyệt chủng hoàn toàn. Ở Việt Nam, có 1 loài
12
tê giác 1 sừng với tên gọi là Tê Giác Việt Nam, được ghi nhận là đã tuyệt chủng khi cá
và các loài hoang dã có quan hệ gần với các giống vật nuôi, cây trồng, cây làm thuốc,
các chủng vi sinh vật quý, hiếm; thực hiện bảo tồn chuyển chỗ, bảo tồn trên đồng ruộng
phù hợp với từng đối tượng nguồn gen.
Kết
Sự tác động qua lại lẫn nhau của sinh vật là một trong những yếu tố cơ bản của tự
nhiên, góp phần làm thiên nhiên thêm đa dạng và phong phu. Từ đó làm tiền đề cho sự
phát triển và tiến hóa loài.
Nhân tố con người cũng góp phần không nhỏ vào tác động đến sinh vật ở cả hai mặt
tích cực và tiêu cực. Để giảm những tác động tiêu cực đến sinh vật, con người cần
nâng cao ý thức về việc bảo vệ sinh vật cũng như môi trường sống quanh ta. Bảo vệ
các loài sinh vật cũng chính là bảo vệ, đảm bảo cho cuộc sống của loài người chúng ta
sau này.
•
Nguồn :
GT Sinh Thái Cơ Sở ( Nguyễn Thị Loan; Nguyễn Kiều Băng Tâm)
Wikipedia
Vietnamnet
Discovery.com
Voer.edu.vn
Khoahoc.tv
14