MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
GD-ĐT được xem là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để GD-ĐT phát triển thì một trong
những nhân tố quan trọng nhất là con người. GD-ĐT không những cung cấp
tri thức, rèn luyện kỹ năng mà GD HS trở thành những con người có nhân
cách, có đầy đủ các phẩm chất của một công dân Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập và toàn cầu hoá. Trong thời gian qua GD-ĐT đã có nhiều thành tựu
nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó có vấn đề chất lượng GDĐĐ cho HS.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định điều đó “Tập
trung nâng cao chất lượng GD-ĐT, coi trọng GDĐĐ, lối sống, năng lực sáng
tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp”.
Có thể nói rằng HS là lớp người chịu nhiều ảnh hưởng tích cực cũng
như tiêu cực của đời sống xã hội, của cơ chế thị trường và việc mở rộng hợp
tác quốc tế. Điều đó đặt ra vấn đề làm thế nào để những người “Chủ tương lai
của đất nước” định hướng đúng đắn những giá trị đạo đức để họ hoàn thành
được vai trò, nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Để làm được điều đó, ngoài việc nâng cao năng lực chuyên môn (cái tài) còn
cần phải chú trọng đến việc trau dồi phẩm chất đạo đức lối sống (cái đức).
Điều đó chỉ có được khi gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt quan tâm chú
trọng đến việc GD cách mạng cho thế hệ tương lai.
Từ đó đã cho ta thấy đạo đức của một con người vô cùng quan trọng
như Bác Hồ đã nói “Có tài không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài
thì làm việc gì cũng khó”. Hai mặt tài và đức thì Bác rất chú trọng đến đức.
Nếu người tài giỏi đến đâu mà không có đức, không đưa cái tài giỏi phục vụ
2
lợi ích chính đáng cho nhân dân thì người đó trở thành vô dụng. Cho nên Bác
đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú ý đến cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức
cho giáo dục, xác định đúng nội dung chương trình, đào tạo đội ngũ giáo viên,
vận dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, các quan điểm về đánh giá thi
cử, cơ sở hạ tầng của ngành giáo dục, trình độ và năng lực quản lý giáo dục.
Tất cả các thành tố đó đều cần được quan tâm giải quyết thỏa đáng.
Đối với GD-ĐT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cũng tương tự.
Ngoài những thành tựu về các phương diện đã đạt được, trong những năm
qua, những bất cập về công tác GDĐĐ cho HS, chất lượng đạo đức của HS,
trong đó có HS THPT, đang đặt ra cho các cấp chính quyền, các nhà quản lý
GD, cho xã hội, những vấn đề cần phải giải quyết. Từ thực tiễn trên, việc tìm
kiếm các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng GDĐĐ ở trường THPT
trên địa bàn huyện Châu Thành có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng GD toàn diện hiện nay. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Một số giải
pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An
Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý GDĐĐ HS các
trường THPT huyện Châu Thành, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý GDĐĐ cho HS ở các trường
THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ
cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
4. Giả thuyết khoa học
4
Công tác GDĐĐ cho HS THPT có vai trò hết sức quan trọng trong việc
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phần nội dung của đề
tài gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Chương 2. Thực trạng quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện
Châu Thành, tỉnh An Giang.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan
hệ giữa người - người, giữa cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa
và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con
người càng có đạo đức. Đạo đức “Là một sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy
chừng nào con người còn tồn tại”
Vấn đề đạo đức và GDĐĐ từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm,
nghiên cứu.
Arixtốt - nhà Triết học Hy Lạp cổ đại đã để lại cho chúng ta nhiều
quyển sách, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề về đạo đức. Rồi Epiquya,
Xôcrát... đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực này.
Trước đây ở Liên Xô, vấn đề đạo đức, nhân cách đã được các nhà
“tiên thiên” của lý trí con người. Ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theo cách gọi
của Cantơ là một năng lực có tính chất nhất thành bất biến, có trước kinh
nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội
của con người.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, Bác Hồ là người quan tâm nhiều nhất đến công tác GDĐĐ
cho mọi người. Hồ Chí Minh xem đạo đức là cái gốc của nhân cách, Bác viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người Cách mạng phải có đạo đức,
8
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
….”. Hay trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác vào tháng 6 năm
1949 đã viết:
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.
Còn đối với thế hệ trẻ, phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người thừa
kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Điều đó cho thấy,
đạo đức và tài năng là hai nội dung không thể thiếu được trong bồi dưỡng
GD, trong đó đạo đức là yếu tố gốc.
Và gần đây Bộ GD-ĐT đã đưa ra Chỉ thị số 2516/BGD&ĐT ngày
18/05/2007 về việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” trong ngành GD.
Có thể nói, vấn đề đạo đức và GDĐĐ cho HS từ lâu đã được quan tâm
Tuy nhiên, tại huyện Châu Thành tỉnh An Giang hiện tai chưa có một
nghiên cứu nào về quản lý GDĐĐ cho HS THPT. Do đó, việc nghiên cứu đề
tài này là một vấn đề hết sức cần thiết, góp phần vào công cuộc xây dựng nền
GD toàn diện cho địa phương, cho quê hương Châu Thành.
10
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đạo đức
Có nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức
Theo Từ điển Triết học, đạo đức là “Một trong những hình thái ý thức
xã hội, phản ánh sự tồn tại về mặt tinh thần của cá nhân, một trong những đòn
bẩy tinh thần cho quá trình phát triển xã hội”. Về nghĩa hẹp, đạo đức là sản
phẩm của quá trình lịch sử, xã hội thể hiện qua sự nhận thức và quyền tự do
của con người” [32, tr 290,291].
Theo Từ điển chính tả Tiếng Việt, đạo đức có hai nghĩa, đạo đức là
những tiêu chuẩn, những nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi,
quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nghĩa tổng quát). Đạo
đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn
đạo đức mà có (nghĩa hẹp) [26, tr 290].
PGS.TS Trần Hậu Kiêm quan niệm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên
tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của
mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con
người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [19, tr 3].
PGS.TS Phạm Khắc Chương cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó
con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh
phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với
con người, giữa cá nhân và xã hội”.
nhất nhau về các vấn đề sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh
tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Đạo đức là một
phương thức điều chỉnh hành vi của con người, giúp con người ngày càng
hoàn thiện hơn, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển.
12
- Đạo đức là một hệ thống các giá trị, các quy tắc, chuẩn mực mà mọi
người phải tuân theo trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và
xã hội. Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh,
đánh giá rõ rệt. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức
không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ư thức đạo đức và sự điều chỉnh
đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì
hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, nếu hệ thống ấy
mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
Qua đây cho thấy, với các lý luận trên chúng ta có thể hiểu một cách tổng
quát, đạo đức là một hình thức ý thức xã hội. Nó là một hệ thống các quy tắc,
chuẩn mực, nguyên tắc xã hội về cái chân - thiện - mỹ và cái ác nhằm điều chỉnh
mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội.
1.2.2. Giáo dục đạo đức
GDĐĐ cho HS là một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp
về không gian, từ mọi lực lượng xã hội. Trong đó, nhà trường giữ vai trò rất
quan trọng. GDĐĐ trong nhà trường THPT là một quá trình GD bộ phận của
quá trình sư phạm tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình GD
bộ phận khác như: GD trí tuệ, GD thẩm mỹ, GD thể chất, GD lao động, GD
hướng nghiệp...
GDĐĐ cho HS là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo
đức của nhân cách HS dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được
tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, Phương pháp và hình thức
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là những tác động của chủ thể
quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả
cao nhất.
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục,
có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý)
14
lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh
tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các
phương pháp, các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng”.
Tác giả Thái Văn Thành cho rằng: “Quản lý một hệ thống xã hội là sự
tác động có mục đích đến tập thể người-thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ
vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến. Quản lý là sự tác động có
định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể
đến khách thể của nó”.
Tuy các cách định nghĩa trên có khác nhau, nhưng tựu trung các tác giả
đều xoay quanh các yếu tố của nội hàm quản lý: Ai quản lý (chủ thể quản lý);
quản lý ai hoặc quản lý cái gì (khách thể); quản lý bằng cách nào (phương
thức, công cụ); nhằm để làm cái gì (mục tiêu).
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu
đề ra.
1.2.3.2. Quản lý GD
Từ khi hoạt động GD ra đời, tất yếu kéo theo sự xuất hiện của QLGD.
Theo lý luận của PGS.TS Đặng Quốc Bảo: QLGD theo nghĩa tổng quan là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác
sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [11, tr 3].
Từ các định nghĩa trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô ta thấy, quản lý có
các yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu
quản lý. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát, QLGD là sự tác
động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt
động sư phạm của hệ thống GD đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra.
16
1.2.3.3. Quản lý nhà trường
Trong giáo trình Đạo đức học định nghĩa: “Quản lý trường học là hoạt
động của các cơ quan quản lý GD nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của
GV, HS và các lực lượng GD khác, huy động tối đa các nguồn lực GD để
nâng cao chất lượng GD và đào tạo trong nhà trường”.
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với
ngành GD. Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của
quản lý vĩ mô, là một chuỗi tác động (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế
hoạch) mang tính tổ chức-sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS,
đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng
cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho
quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến đã đề
ra [15, tr 3].
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm quản lý nhiều hoạt động:
- Quản lý đội ngũ CB-GV-NV và HS; Quản lý nội dung, chương trình,
phương pháp dạy học; Quản lý hoạt động GDĐĐ; Quản lý hoạt động xã hội,
đoàn thể; Quản lý cơ sở vật chất-thiết bị GD của nhà trường; Quản lý tài
chính, hành chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội.
tượng quản lý theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Như vậy, giải pháp quản lý GDĐĐ cũng là giải pháp quản lý GD
nhưng nó hướng vào một đối tượng, hoạt động cụ thể chính là công tác
GDĐĐ cho HS trong nhà trường. Hoạt động này cần phải thực hiện nghiêm
túc từ khâu lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát thực hiện cho đến
công đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện như thế nào.
18
1.3. Một số vấn đề về GDĐĐ cho HS
1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý của HS
Tuổi của HS THPT có độ tuổi từ 15, 16 đến 18 tuổi. Đây là thời kỳ
chuyển từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành. Trong thời kỳ này, các em có sự
phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về cơ thể, sự phát dục và sự hình thành
những phẩm chất mới về các mặt trí tuệ, đạo đức. Do đó, trong mỗi hoạt động
các em có những đặc điểm nhân cách chủ yếu của lứa tuổi HS THPT là:
- Sự phát triển của ý thức: Đây là một đặc điểm nổi bật trong sự phát
triển nhân cách của thanh niên mới lớn nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát
triển của tâm lý của tuổi thanh niên. Sự hình thành tự ý thức là một quá trình
lâu dài, trải qua nhiều mức độ khác nhau. Ở tuổi thanh niên quá trình phát
triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ sôi nổi, và tính cách đặc thù riêng: Thanh
niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo
quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình. Đặc điểm quan trọng
trong sự tự ý thức của thanh niên là, sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu
của cuộc sống và hoạt động. Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp. Các
em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như thiếu niên mà
còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai. Thanh niên
không chỉ đánh giá những cử chỉ hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt
mà còn biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn bộ thuộc tính
bè cùng lứa tuổi, là cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín và có vị trí nhất
định trong nhóm. Ở tuổi này, quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so
với quan hệ với người lớn tuổi hoặc ít tuổi hơn. Điều này do lòng khát khao
muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối. Cùng với sự trưởng thành
nhiều mặt quan hệ dựa dẫm phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng thay thế bằng
quan hệ bình đẳng tự lập. Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hóa
hoạt động riêng của thanh niên HS khiến cho số lượng nhóm quy chiếu của
20
các em tăng lên rõ rệt. Việc các em tham gia vào nhóm sẽ dẫn đến sự khác
nhau nhất định và có thể có xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn
giữa các vai trò khác nhau giữa các nhóm.
Trong công tác GD cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát
ngoài nhà trường. Nhà trường không thể tự quán xuyến toàn bộ cuộc sống của
thế hệ đang trưởng thành. Ta cũng không thể loại trừ được các nhóm tự phát
và các đặc tính của chúng. Nhưng có thể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự
phát bằng cách tổ chức hoạt động của các tập thể (Nhóm chính thức) thật
phong phú sinh động... khiến cho các hoạt động đó phát huy được tính tích
cực của thanh niên mới lớn. Vì vậy tổ chức ĐTN có vai trò đặc biệt quan
trọng.
- Đời sống tình cảm: Đời sống tình cảm của lứa tuổi HS THPT rất
phong phú và nhiều vẻ. Đặc điểm đó được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của
các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi
người trở nên sâu sắc và mặn nồng. Trong quan hệ với các bạn các em rất
nhạy cảm, không chỉ có khả năng xúc cảm thân tình, mà còn có khả năng đáp
ứng lại xúc cảm của người khác (Đồng cảm). Tình bạn của thanh niên mới
lớn rất bền vững. Tình bạn ở tuổi này có thể vượt được mọi thử thách và có
thể kéo dài suốt cuộc đời. Ở thanh niên mới lớn, sự khác biệt giữa các cá nhân
biết yêu, biết ghét rõ ràng, không vô cảm, có thái độ đúng đắn với các hiện
tượng trong đời sống xã hội và tập thể.
- GD hành vi và thói quen đạo đức: Mục đích cuối cùng của GDĐĐ là
hình thành hành vi đạo đức trong cuộc sống hằng ngày của trẻ. Hành vi đạo
đức được thực hiện bởi sự chỉ đạo của ý thức và sự thôi thúc của tình cảm
mới là hành vi đích thực, mới trở thành thói quen thành thuộc tính của con
người. Hành vi, đặc biệt là thói quen hành vi chỉ có thể hình thành thông qua
22
tập luyện. Trong cuộc sống sinh hoạt, cần GD cho các em hành vi có văn hóa,
tức là hành vi đó chẳng những đúng về mặt đạo đức mà còn đẹp về thẫm mỹ.
1.3.3. Nội dung GDĐĐ cho HS
Ngoài việc GD thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, pháp luật
cho HS, GDĐĐ trong nhà trường còn phải hướng đến GD cho HS cách ứng
xử có văn hóa trong các mối quan hệ, cụ thể:
- GD quan hệ cá nhân của HS đối với xã hội như: GD lòng yêu hương
đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. GD
niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc, GD lòng tôn trọng, giữ gìn
các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền
thống và tinh thần quốc tế vô sản. Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước
và giữ nước, GD lòng tin yêu Đảng Cộng sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ.
- GD quan hệ cá nhân của HS đối với lao động: GD HS có thái độ đúng
đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa
học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc.
- GD quan hệ cá nhân HS đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa và thiên
nhiên: GD yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo vệ của
công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác. Biết bảo vệ
môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng.
+ Phương pháp đàm thoại: Trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài nào
đó thuộc lĩnh vực đạo đức nhằm GDĐĐ cho HS. Phương pháp này nhằm lôi
cuốn HS vào việc phân tích, đánh giá sự kiện, hành vi, các hiện tượng trong
đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, HS ý thức một cách sâu sắc thái độ đúng đắn
của mình với hiện thực xung quanh và trách nhiệm về các hành vi, thói quen,
lối sống của chính bản thân HS.
24
+ Phương pháp nêu gương: Nêu gương cụ thể những điển hình mẫu
mực về người tốt việc tốt, những lý tưởng sống đẹp. Đây là phương pháp
quan trọng GDĐĐ cho HS có hiệu quả nhất.
+ Phương pháp tổ chức hoạt động xã hội: Tham gia các buổi lao động
công ích, tham gia thể dục thể thao chung cho toàn trường hoặc ở địa phương,
tham gia giao lưu học tập, giao lưu văn hóa, tham gia tặng quà cho các bà mẹ
Việt Nam Anh hùng,…Qua đó, hình thành và phát triển những hành vi, thói
quen, phù hợp với chuẩn mực đạo đức.
- Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng
xử. Nhóm này gồm có các phương pháp sau:
+ Phương pháp thi đua: Phương pháp không thể thiếu ở trường THPT,
là phương pháp kích thích HS thi đua để tự khẳng định mình. Trong thi đua,
mỗi tập thể lớp và cá nhân phải cố gắng vươn lên, có ý thức trách nhiệm, thực
hiện đầy đủ nội dung thi đua, phấn đấu lập thành tích cao nhất.
+ Phương pháp khen thưởng - phê bình - động viên: Khen thưởng cá nhân
và tập thể có quá trình phấn đấu, đạt thành tích cao, có những hành động và việc
làm tốt. Qua đây có tác dụng kích thích, tác động quá trình tu dưỡng đạo đức của
mỗi cá nhân. Còn phê bình và động viên, vừa biểu hiện sự nghiêm khắc, vừa uốn
nắn điều chỉnh những hành vi đạo đức chưa chuẩn mực của HS.
1.3.5. Hình thức tổ chức GDĐĐ cho HS
mực xã hội; Thu hút được các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham
gia GDĐĐ cho HS.Trên cơ sở đó, trang bị cho HS những tri thức về đạo đức,
xây dựng cho các em niềm tin, tình cảm đạo đức để có được những hành vi
đạo đức đúng đắn.
1.4.2. Nội dung quản lý công tác GDĐĐ cho HS
1.4.2.1. Quản lý việc xây dựng nội dung, chương trình, hình thức,
biện pháp GDĐĐ HS