1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Trong những năm qua,
nền giáo dục nước ta có bước phát triển mới. Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra nhanh, mạnh, có phạm vi
ảnh hưởng rộng lớn trên cả nước, trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, Đảng và
Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển giáo dục đào tạo, coi "giáo dục là quốc
sách hàng đầu". Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định:
"Giáo dục và Đào tạo cùng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu".
Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Chỉ thị số 40 - CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của ban Bí thư Trung
ương Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối
sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" [4].
Một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của giáo dục là đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quyết định đến
chất lượng và hiệu quả giáo dục của mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo
dục nước ta được xây dựng ngày càng đông đảo, phần lớn có bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ ngày càng nâng cao. Đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của
sự nghiệp cách mạng nước ta.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu và đề xuất các giải
pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học.
Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Các trường Tiểu học thuộc huyện Cẩm
Xuyên.
Giới hạn về khách thể điều tra: Đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học
bao gồm: Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng.
4. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ CBQL trường tiểu học sẽ được đảm bảo đủ số lượng, đạt trình
độ đào tạo, cơ cấu hợp lý, đáp ứng được sự yêu cầu đổi mới của giáo dục và
đào tạo nói chung và của giáo dục tiểu học nói riêng, nếu đề xuất, thực hiện
cá giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý trường tiểu học hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường tiểu học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường
Tiểu học huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu
học huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý là một hoạt động mang tính lịch sử xã hội, nhờ có hoạt động
quản lý mà xã hội loài người không ngừng vận động và phát triển. Theo MácĂnghen trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã rút ra kết
luận, một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất
tư bản là nhờ có vai trò của hoạt động quản lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê
Nin về vai trò của hoạt động quản lý, Người đã khẳng định: “Muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”, cán bộ cách mạng phải
là người “vừa hồng, vừa chuyên”, đó chính là mối quan hệ giữa tài và đức
trong nhân cách người cán bộ quản lý, trong đó đức là gốc, còn năng lực của
con người không phải tự nhiên mà có mà phần lớn là do qua quá trình công
tác, rèn luyện mà nên.
Xuất phát từ quan điểm “Coi con người là động lực trực tiếp của sự phát
triển, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
Ngày nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng
trên tất cả các lĩnh vực trong đó giáo dục có vai trò quyết định đối với sự tồn
tại và phát triển của quốc gia. Để thực hiện có hiệu quả sự nghiệp giáo dục
Đảng và Nhà nước ta đã có Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban bí thư “Về việc xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”,
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X cũng đã nêu rõ:
“...Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, trước hết là cán bộ
lãnh đạo, cán bộ quản lý về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng
quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội trong điều kiện cơ chế
thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế” và xây dựng đội ngũ Đảng viên thật sự
tiên phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức
các tác giả như: "Những vấn đề về quản lý trường học" (P.V Zimin, M.I
Kônđakốp), "Quản lý vấn đề quốc dân trên địa bàn huyện", (M.I Kônđakốp).
Nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh
7
nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trưởng nhà trường cho rằng
"Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức
đúng đắn các hoạt động dạy học". Cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn
mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất quản lý giữa Hiệu
trưởng và Phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra.
Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước cho đến nay
đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục có giá trị đó là:
"Giáo trình khoa học quản lý" của tác giả Phạm Trọng Mạnh [18]; "Khoa học
tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Trung tâm nghiên
cứu khoa học tổ chức quản lý [31]; "Tâm lý xã hội trong quản lý" của Ngô
Công Hoàn [16]; ... Bên cạnh đó còn một số bài viết đề cập đến quản lý giáo
dục như: " Vấn đề kinh tế thị trường, quản lý nhà nước và quyền tự chủ các
trường học" của tác giả Trần Thị Bích Liễu - Viện KHGD đăng trên tạp chí
giáo dục số 43 tháng 11 năm 2002.
Từ trước đến nay có nhiều đề tài nghiên cứu về việc phát triển đội ngũ
CBQL trường học nói chung và CBQL trường tiểu học nói riêng. Tuy nhiên
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, huyện Cẩm Xuyên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên
cứu về giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học.
Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường
tiểu học huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và
thực tiễn trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học của địa
phương trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
"Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y bác sỹ... " đều xuất
phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ đó là: "Khối đông người
được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến
đấu".
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung
một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực
lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng
nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định.
9
Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông
người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có
kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
- Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt
Nam thì cán bộ có nghĩa là: Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong
cơ quan nhà nước. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ
chức, phân biệt với người thường không có chức vụ.
1.2.4. Khái niệm quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ
chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan".
Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản
lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định
của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành
những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch định
các chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp,
kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân
lực...để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời
gian nhất định.
ra. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những
yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng
tới mục tiêu. Đó là "bí quyết" làm việc của người quản lý được khám phá trên
sự đúc rút kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm thực tế được khái quát
hoá thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó
chính là khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý vừa
là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể
như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe..., vừa có thể là sự việc như: luật lệ,
quy chế, quy định..., cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện
trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
11
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua
lại, tương hỗ nhau. Theo Nguyễn Minh Đạo "Chủ thể làm nảy sinh các tác
động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá
trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của
chủ thể quản lý". [9]
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp
lý các tác động nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa tri thức và lao động. Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý
(đặc biệt là con người) thì phải có cơ chế đúng.
Nguyễn Minh Đạo cho rằng "Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của
hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên
môn hoá việc quản lý".[9].
Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản
trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển.
Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn
ra, quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được thực
hiện (vận hành và phát triển). Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều
kiện, phương tiện quản lý. Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân
cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực). Còn hiệu quả quản lý là sản
phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và
phẩm chất, năng lực của nhà quản lý cũng phát triển.
Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các
quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý
chí của nhà quản lý và phù hợp với các quy luật khách quan.
1.2.5. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.5.1. Khái niệm quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục.
Vậy, quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật
được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các
13
phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất
lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ.
Theo M.I. Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm
bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng
những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của
trẻ em". [19].
Theo nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc: " Quản lý nhà trường, quản lý
giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
- Đối tượng đào tạo.
- Hình thức tổ chức đào tạo.
- Điều kiện đào tạo.
- Môi trường đào tạo.
- Quy chế đào tạo.
- Bộ máy tổ chức đào tạo.
Quản lý giáo dục chính là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát
sinh trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên để nhà trường phát triển,
đạt tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là
sức mạnh của nền kinh tế.
1.2.5.3. Quản lý nhà trường
Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ
thống Giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của
nhà trường, mọi hoạt động phức tạp, đa dạng khác đều hướng vào hoạt động
trung tâm này. Do vậy, quản lý trường học nói chung và quản lý trường tiểu
học nói riêng thực chất là: "Quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa
hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục
tiêu giáo dục", theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, [25].
Theo Đặng Quốc Bảo: "Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn
ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy
– trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ
thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở". [2].
16
* Khái niệm Quản lý nhà trường:
Giáo dục là một bộ phận trong hệ thống xã hội, có chức năng đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ sự tồn tại và phát triển của xã hội trong tương lai.
QLGD là sự vận dụng của khoa học quản lý vào các lĩnh vực hoạt động giáo
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu
phát triển xã hội.
Quản lý nhà nước về GD&ĐT là việc nhà nước thực hiện quyền lực
công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động GD&ĐT trong phạm vi
toàn xã hội.
QLGD cũng chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và tác động của
quản lý xã hội. QLGD có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Sản phẩm giáo dục là nhân cách nên QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn,
máy móc trong việc tạo ra sản phẩm và không được phép tạo ra phế phẩm.
QLGD nói chung và quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự khác
biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội.
QLGD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính
liên tục, tính kế thừa và tính phát triển.
Trong QLGD, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự
nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau, không thể tách rời
nhau, tạo thành hoạt động QLGD thống nhất.
Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, QLGD phải quán triệt quan điểm
của quần chúng.
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta đưa ra hai loại QLGD:
- Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong
phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương.
- Quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị,
một cơ sở giáo dục.
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý (Các cấp QLGD) nhằm làm cho nhà
trường vận hành theo quy luật giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra
trong từng thời kỳ phát triển của đất nước.
18
19
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện các chính sách của nhà trường XHCN Việt Nam, mà điểm hội tụ là
quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Quản lý nhà trường bao gồm: Quản lý các quá trình giáo dục; Quản lý
các điều kiện cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực.
Các quá trình giáo dục trong nhà trường gồm 6 thành tố có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau: Mục đích giáo dục (MĐ); Nội dung (ND); Phương pháp
giáo dục (PP); Giáo viên (GV); Học sinh (HS); Phương tiện giáo dục (PT).
Bản chất của công tác quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy, điều khiển
sự vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố. Mối
quan hệ đó là do quá trình sư phạm trong nhà trường quy định.
Quản lý trường học nói chung và quản lý trường tiểu học nói riêng là tổ
chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học tập
của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục
vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích giáo dục, đào tạo.
1.2.6. Đội ngũ cán bộ quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt: Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng
chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ
thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định. [30]
Có thể hiểu đội ngũ là một tập thể gắn kết với nhau, cùng chung lý
tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một
nguyên tắc. Ví dụ: " Đội ngũ trí thức"; " Đội ngũ nhà giáo"; " Đội ngũ y bác
sỹ"...v.v. Khi xem xét đội ngũ người ta thường chú ý tới ba yếu tố tạo thành
đó là: Số lượng, cơ cấu đội ngũ; trình độ đội ngũ; phẩm chất, năng lực đội
ngũ.
năng quản lý của đội ngũ, thực hiện bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý,
phẩm chất chính trị; đánh giá, sàng lọc.
- Tạo động cơ và môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội
ngũ cán bộ quản lý phát huy vai trò của họ như thực hiện tốt các chính sách
đãi ngộ, chế độ khen thưởng, kỷ luật, xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra
21
diện rộng. Tạo cơ hội cho cá nhân có sự thăng tiến, tạo ra những ước mơ, hoài
bão kích thích cho sự phát triển. Tạo cơ hội cho cán bộ quản lý có điều kiện
học tập, bồi dưỡng, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.
Từ những lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nêu trên ta thấy:
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học thực chất là xây dựng,
quy hoạch, bồi dưỡng, tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp bổ nhiệm, tuyển dụng
cũng như tạo môi trường và động cơ cho đội ngũ này phát triển. Để thực hiện
tốt việc này chúng ta cần nghiên cứu đặc điểm của từng địa phương, vùng
miền, số lượng và đặc trưng của các trường tiểu học, bối cảnh về chính trị,
kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu chuẩn đối với cán bộ quản lý cùng những đặc
điểm tâm lý của người CBQL để đề ra nội dung, giải pháp cho phù hợp.
1.3. Một số vấn đề chung về nhà trường tiểu học
1.3.1. Vị trí của trường tiểu học
Điều 2 - Điều lệ trường Tiểu học xác định: "Trường Tiểu học là cơ sở
giáo dục của bậc Tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng". [5].
Tiểu học là bậc học nền tảng ban đầu trong việc hình thành, phát triển
nhân cách của con người. Đó là cơ sở nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ
thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ
em tiếp tục học nên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét
1.3.3. Nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động quản lý của trường tiểu học
1.3.3.1. Trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau
đây:
Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương
trình giáo dục tiểu học do Bộ GD&ĐT quy định.
Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1, vận động trẻ em bỏ học đến trường, thực
hiện kế hoạch PCGDTH - CMC.
Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh.
Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
Phối hợp với gia đình học sinh để thực hiện tốt các hoạt động giáo dục.
23
Tổ chức giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia hoạt động xã hội.
1.3.3.2. Hoạt động quản lý của trường tiểu học
Trường tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường tiểu học vừa là một thiết chế xã hội trong quản lý quá trình đào tạo
trung tâm vừa là một bộ phận của cộng đồng trong guồng máy giáo dục quốc
dân. Hoạt động quản lý của trường tiểu học thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt
động quản lý, mang tính xã hội, tính khoa học, tính kỹ thuật và nghệ thuật cao.
Chủ thể quản lý của trường tiểu học chính là bộ máy quản lý giáo dục
trường học (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng).
Trong các trường tiểu học hiện nay cơ cấu bộ máy quản lý và các mối
quan hệ, phối hợp các lực lượng quản lý bao gồm:
- Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng do nhà nước bổ nhiệm chịu trách
nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường. Hiệu trưởng được bổ nhiệm
theo nhiệm kỳ, quản lý các hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng.
- Tổ chức Đảng trong nhà trường tiểu học lãnh đạo nhà trường và hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
chính, tài sản của nhà trường;
+ Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp
nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật, phê
duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức
kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong
nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
+ Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý;
tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ
cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
+ Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính
trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
+ Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối
với cộng đồng. [6]
Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng để đảm bảo thực hiện được những
yêu cầu về nhiệm vụ và quyền hạn nêu trên, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục của
25
giai đoạn hiện nay, đòi hỏi người Hiệu trưởng phải không ngừng rèn luyện, phấn
đấu toàn diện về phẩm chất lẫn năng lực. Người Hiệu trưởng không chỉ là người
đại diện Nhà nước về mặt hành chính, thực thi các hoạt động quản lý trường học
mà còn là nhà sư phạm, nhà giáo dục có tâm hồn, thường xuyên chăm lo việc
nâng cao năng lực sư phạm và bồi dưỡng tâm hồn nhà giáo cho đội ngũ, có nhạy
cảm, giàu lòng nhân văn, có nghệ thuật đối xử khéo léo, có khả năng cảm hóa con
người. Người Hiệu trưởng không chỉ là người đi đầu trong công tác xã hội hóa
giáo dục, biết duy trì, phát triển và sáng tạo các định hướng giá trị của nhà trường
mà còn là người có khả năng tổ chức trong thực tiễn, luôn tìm tòi đổi mới hoạt
động quản lí, đổi mới các hoạt động sư phạm của nhà trường. Đặc biệt, để thực
hiện các nhiệm vụ đổi mới giáo dục trong thời kỳ CNH - HĐH hiện nay, người