1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lĩnh vực GD-ĐT, đội ngũ nhà giáo và CBQLGD là lực lượng nòng
cốt trong việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần quan trọng thực
hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước. Đội ngũ CBQL trường học là một bộ phận của đội
ngũ CBQLGD, đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm thực hiện thành công
chính sách giáo dục và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục. Vì vậy, Đảng, Nhà
nước ta cũng hết sức quan tâm phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương
tâm, tay nghề nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước". [1]
Trong thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/9/2009 của Bộ Chính trị về
tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển
GD-ĐT đến năm 2020 đã đề ra mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta có một
nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” và chỉ đạo
thực hiện bảy nhóm giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020, trong đó, một trong
những giải pháp hết sức quan trọng được đặt ra là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng” [5]
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, đội ngũ nhà giáo và CBQL
giáo dục nước ta được xây dựng ngày càng đông đảo, phần lớn có bản lĩnh chính
trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ ngày càng nâng cao. Đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng nước ta.
Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học huyện Thạch
Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
3
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường Tiểu học.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Các trường Tiểu học thuộc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.
4.3. Giới hạn về khách thể điều tra:
- Thành phần: Đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học bao gồm: Hiệu
trưởng và Phó hiệu trưởng.
- Số lượng: 64 Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng.
5. Giả thuyết khoa học.
Nếu vận dụng hợp lý một số giải pháp có căn cứ khoa học và có tính khả thi
như đã dược đề xuất trong luận văn thì sẽ phát triển được đội ngũ CBQL trường
Tiểu học huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài.
6.3. Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu
học huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong
giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Ngành giáo dục và
các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trong lịch sử Trung hoa cổ đại (những năm 500 đến 300 TCN), đã xuất hiện
tư tưởng quản lý của Khổng Tử nhằm mục đích đào tạo ra lớp người cai trị xã hội,
tư tưởng đó được xây dựng trên cốt lõi triết lý của đạo nhân với các yếu tố: nhân,
lễ, nghĩa, trí, tín, dũng. Những tư tưởng trên, tuy chưa thực sự chuyên sâu về quản
lý nhưng đã đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng về nâng cao chất lượng
những người làm công tác quản lý trong xã hội lúc bấy giờ.
Giữa thế kỷ 18, một số nhà khoa học như: Robert Owen (1771 - 1858), nhà
xã hội không tưởng vĩ đại người Anh hay Charles Babbage (1792 - 1871), nhà toán
học người Anh đã đưa ra những quan điểm: tìm giải pháp quản lý với việc nâng
cao năng suất lao động và nâng cao trình độ quản lý. Tiếp đó, Frederick Winslow
Taylor (1856 - 1915) với công trình tiêu biểu là cuốn “Những nguyên tắc quản lý
khoa học” (The Principles of Scientific Management) xuất bản năm 1911, trong
công trình này, F.W. Taylor đã đưa ra bốn nguyên tắc quản lý khoa học đề cập đến
việc tuyển chọn, huấn luyện công nhân, sự hợp tác cần thiết của người quản lý với
người bị quản lý nhằm nâng cao chất lượng của người quản lý.
Kế đó, Henri Faylor (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp có công
trình “Tổng quát về quản lý - hay Thuyết quản trị” (Adiministration Industriell et
Generale) xuất bản năm 1916 mà cống hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng
cơ bản quản lý, 16 quy tắc về chức trách quản lý và 14 nguyên tắc quản lý hành
chính. Theo ông, nếu người QL có đủ phẩm chất và năng lực, kết hợp nhuần
nhuyễn các chức năng, quy tắc và nguyên tắc QL thì chất lượng và hiệu quả công
việc, năng suất lao động được nâng cao.
Từ những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, một trường phái tiếp cận về quản lý
trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hóa giữa con người với con người đã xuất
6
hiện với công trình nghiên cứu của William (Giáo sư trường Đại học California,
Mỹ). Ông đã khẳng định, yếu tố quan trọng của văn hóa trong quản lý và nêu ra 7
yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý được mô tả trong sơ đồ 7S: Strategy
nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB thống kê Hà Nội 1999); "Tâm lý xã
hội trong quản lý"của Ngô Công Hoàn (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2002); "Tập bài
giảng lý luận đại cương về quản lý"của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội 1998)... Bên cạnh đó còn một số bài viết đề cập đến
quản lý giáo dục như: "Vấn đề kinh tế thị trường, quản lý nhà nước và quyền tự chủ
các trường học" của tác giả Trần Thị Bích Liễu - Viện KHGD đăng trên tạp chí
giáo dục số 43 tháng 11 năm 2002.
Từ trước đến nay có nhiều đề tài nghiên cứu về việc phát triển đội ngũ
CBQL trường học nói chung và CBQL trường tiểu học nói riêng. Tuy nhiên trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, huyện Thạch Hà chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về biện
pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học.
Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu
học huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn
trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học của địa phương trong điều
kiện mới.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.2.1. Khái niệm “giải pháp”.
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam,
giải pháp có nghĩa là: Phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể. Còn theo tác giả
Nguyễn Văn Đạm “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa có hệ thống cùng với
những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [10].
1.2.2 Khái niệm “Phát triển”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là "Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít
đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [28].
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát
triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ. Còn
theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả
về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con người trong
xã hội. Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo
chiều hướng tích cực, tiến lên.
- Từ điển Tiếng Việt: Đặt quản lý trong vai trò một động từ và định nghĩa:
“Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức và điều
khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [28].
9
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động liên tục, có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm duy trì tính
trồi của hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện môi trường luôn
biến động". [24].
- “Quản lý - đó là chức năng của hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau
(sinh vật, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ
hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động."(Đại bách khoa
toàn thư, Liên Xô 1977).
- Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ
Harold Koont đã đưa ra khái niệm “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của
mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể
đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá
nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến
thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [15].
- Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể QL trong
việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực
trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả
cao nhất” [17].
- Xét quản lý dưới góc độ là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải cho rằng:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [16].
Nói đến quản lý, chúng ta phải đề cập đến 5 yếu tố: Chủ thể quản lý, đối
Hệ thống quản lý giáo dục nhà trường hoạt động trong động thái đa dạng,
phức tạp. Quản lý giáo dục là quản lý các mục tiêu vừa tường minh vừa trong mối
tương tác của các yếu tố chủ đạo:
- Mục tiêu đào tạo.
- Nội dung đào tạo.
- Phương pháp đào tạo.
- Lực lượng đào tạo.
- Đối tượng đào tạo.
- Hình thức tổ chức đào tạo.
- Điều kiện đào tạo.
- Môi trường đào tạo.
- Quy chế đào tạo.
- Bộ máy tổ chức đào tạo.
12
Quản lý giáo dục chính là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát sinh
trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên để nhà trường phát triển, đạt tới chất
lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của
nền kinh tế.
1.2.7. Quản lý trường học:
1.2.7.1 Trường học:
Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ
thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà
trường, mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm
này. Do vậy, quản lý trường học nói chung và trường tiểu học nói riêng thực chất là
quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang
trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục.
Theo Đặng Quốc Bảo: "trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra
quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy - trò.
có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho nhau về mọi mặt. Chất lượng là yếu tố quan trọng
nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý.
Xét về quy mô, chất lượng, cơ cấu dưới góc nhìn về việc phát triển nguồn
nhân lực của nền kinh tế tri thức thì nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý bao gồm:
- Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chính là thực hiện quy hoạch, đào tạo,
tuyển chọn, bổ nhiệm, sắp xếp bố trí (thể hiện bằng số lượng, cơ cấu).
- Sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý là triển khai việc thực hiện các chức năng
quản lý của đội ngũ, thực hiện bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý, phẩm chất
chính trị; đánh giá, sàng lọc.
- Tạo động cơ và môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội ngũ
cán bộ quản lý phát huy vai trò của họ như thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ, chế
độ khen thưởng, kỷ luật, xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra diện rộng. Tạo cơ hội
cho cá nhân có sự thăng tiến, tạo ra những ước mơ, hoài bão kích thích cho sự phát
triển. Tạo cơ hội cho cán bộ quản lý có điều kiện học tập, bồi dưỡng, giao lưu, trao
đổi kinh nghiệm.
Từ những lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nêu trên ta thấy: Phát
triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học thực chất là xây dựng, quy hoạch,
bồi dưỡng, tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp bổ nhiệm, tuyển dụng cũng như tạo môi
trường và động cơ cho đội ngũ này phát triển. Để thực hiện tốt việc này chúng ta
cần nghiên cứu đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, số lượng và đặc trưng
15
của các trường tiểu học, bối cảnh về chính trị, kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu
chuẩn đối với cán bộ quản lý cùng những đặc điểm tâm lý của người CBQL để đề
ra nội dung, giải pháp cho phù hợp.
1.3. Một số vấn đề chung về nhà trường Tiểu học.
1.3.1. Khái niệm trường tiểu học
Nhà trường tiểu học xuất hiện ở Việt Nam từ thời thuộc pháp. Trong giai
bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên cấp học trên, hình thành những cơ sở ban đầu
về nhân cách cho HS tiểu học.
1.3.2. Vị trí, vai trò của trường tiểu học.
Khoản 1 điều 26 Luật giáo dục 2005 quy định: “Giáo dục Tiểu học được thực
hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuổi học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi” [25].
- Trường tiểu học lần đầu tiên tác động đến trẻ em bằng phương pháp nhà
trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục); nơi đầu tiên tổ
chức các hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo cho trẻ em; nơi diễn ra
cuộc sống thực của các em và là nơi tạo cho trẻ em có hạnh phúc đi học.
- Trường tiểu học là cấp học nền tảng, cấp học đầu tiên của bậc học phổ
thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu
rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên cấp học trên, hình thành những
cơ sở ban đầu về nhân các cho các em. Đặc biệt này đòi hỏi sự chuẩn xác với tính
khoa học, tính nhân văn ở một nền giáo dục nhà trường, ở mỗi giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục.
- Trường tiểu học nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông do đó nội dung
giáo dục phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản nền tảng, toàn diện và hệ thống; làm
cơ sở cho sự phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách cho trẻ em, đáp ứng mục tiêu
giáo dục.
- Giáo dục tiểu học gắn với lợi ích cộng đồng dân cư, do đó luôn thể hiện
tính phổ cập đại chúng. Giáo dục tiểu học được thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần
nâng cao dân trí cho cộng đồng, vừa góp phần trực tiếp đào tạo nhân lực và cũng
tạo điều kiện thực tế để bồi dưỡng, phát hiện các nhân tài tương lai của đất nước.
Tất cả đều có cơ sở và phát triển trên nền tảng của giáo dục tiểu học.
Như vậy giáo dục tiểu học có vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục
cũng như đời sống xã hội, đòi hỏi các nhà quản lý trường học phải quan tâm và có chính
17
sách ưu tiên, ưu đãi đối với bậc học, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ
18
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo
dục;
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt
động xã hội.
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục
của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Điều 3, Điều lệ trường tiểu học nêu rõ nhiệm vụ và quyền hạn của trường
tiểu học:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương
trình giáo dục tiểu học do Bộ GD&DDT quyết định ban hành.
- Huy động trẻ em đúng độ tuổi vào lớp 1, vận động trẻ em bỏ học đến
trường, thực hiện kế hoạch phổ cập GDTH và tham gia xóa mù chữ trong phạm vi
cộng đồng.
- Quản lý giáo viên và nhân viên
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy
định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình, học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực
hiện các hoạt động giáo dục.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã
hội trong phạm vi cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Theo quy định của Điều lệ trường tiểu học ta có thể phân định các nhiệm vụ
và quyền hạn của trường Tiểu học thành 2 nhóm.
- Nhóm 1: Tổ chức các hoạt động giáo dục và đặc biệt là hoạt động dạy học
theo đúng nội dung, chương trình giáo dục tiểu học đã được Bộ GD&ĐT quy định.
- Nhóm 2: Thực hiện các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiệ cho
tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của HS. Còn HS phải chủ động tham gia vào
quá trình học tập đó để phát triển theo đúng khả năng phát triển của cá nhân.
Trong giai đoạn phát triển của đất nước ta hiện nay, Giáo dục tiểu học có vai
trò quan trọng, được xem là cấp học nền tảng, có nhiệm vụ cung cấp nhu cầu học
20
vấn cơ sở cho toàn dân. Vì vậy, việc xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và muốn nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chỉ
có thể đi theo con đường xây dựng trường chuẩn quốc gia.
1.3.6. Quy định hạng trường Tiểu học:
Hạng trường được quy định theo cơ cấu vùng, miền và theo số lớp học mỗi
trường của mỗi vùng miền. Quy định hạng trường giúp cho việc thực hiện chế độ
phụ cấp của Nhà nước đối với cán bộ quản lý nói chung, cán bộ quản lý trường tiểu
học nói riêng được công bằng hơn. Hạng trường của cấp Tiểu học được quy định
như sau:
Bảng số 1.1:
Quy định hạng trường tiểu học.
(Nguồn: Thông tư số 33/2005/TT - BGD&ĐT, Hướng dẫn thực hiện chế độ phụ
cấp chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập)
Trường tiểu học
TT
Hạng 1
Hạng 2
Hạng 3
thuộc vùng, miền
Trung du, đồng
1
Từ 28 lớp trở lên Từ 18 đến 27 lớp Dưới 18 lớp
bằng, thành phố.
thích hợp và có hiệu quả.
Đối tượng lao động quản lý giáo dục bao gồm 4 yếu tố:
+ Hệ thống tư tưởng như: Chủ trương, đường lối và các quy định…
+ Con người: gồm đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên và học sinh
+ Cơ sở vật chất: Gồm lớp học, các phòng chức năng, Thiết bị dạy học…
+ Quá trình hoạt động sư phạm
Công cụ quản lý của Hiệu trưởng bao gồm hệ thống các văn bản pháp quy,
nguồn nhân lực, tài lực, vật lực và các kỹ năng quản lý, hệ thống các công cụ này
giúp Hiệu trưởng thực hiện tốt chức năng của người quản lý.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đã được quy định trên đây, người Hiệu trưởng
cần thực hiện tốt cả hai vai trò: người giáo viên và nhà quản lý. Vì vậy, người Hiệu
trưởng cần biết những kỹ năng nhất định của người giáo viên và những kỹ năng
của nhà quản lý. Đây chính là sự khác biệt giữa hiệu trưởng và giáo viên. Hiệu
trưởng tiểu học cần có các kỹ năng: kỹ năng nhận thức, kỹ năng nhân sự và kỹ
năng kỹ thuật.
1.4.1.2. Phó Hiệu trưởng:
Điều lệ trường Tiểu học của Bộ Giáo dục quy định: Phó Hiệu trưởng là
người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng do UBND
22
cấp huyện bổ nhiệm đối với trường công lập, bán công, công nhận đối với trường
dân lập theo đề nghị của trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo” [7 ,10].
1.4.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng và Hiệu phó:
1.4.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng:
Theo Điều lệ trường tiểu học, Hiệu trưởng trường tiểu học có những nhiệm
vụ và quyền hạn cơ bản sau:
+ Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch dạy học, giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện
trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
định. [7, Tr 9 - 10]
1.4.3. Quy hoạch, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý.
Quy hoạch đội ngũ CBQL là một trong những hoạt động quản lý của người
quản lý và các cơ quan quản lý giúp cho người quản lý và cơ quan quản lý biết
được số lượng, cơ cấu tuổi, trình độ cơ cấu chuyên môn, cơ cấu giới...của đội ngũ
cán bộ quản lý từ đó có những biện pháp điều chỉnh phù hợp. Quan trọng hơn việc
quy hoạch làm cơ sở chủ yếu mang tính định hướng cho việc vận dụng và thực
hiện các chức năng cơ bản của quản lý vào hoạt động quản lý trong các trường tiểu
học nói riêng, trong ngành giáo dục nói chung.
Để hoàn thiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, cấp quản lý phải lập kế
hoạch cho sự cân đối trong tương lai bằng cách so sánh số lượng CBQL cần thiết
với số lượng CBQL hiện có, phân tích độ tuổi, trình độ, năng lực, khả năng làm
việc, thời gian công tác của từng người trong đội ngũ, để ấn định số lượng cần thiết
đưa vào quy hoạch. Mặt khác cấp quản lý còn phải căn cứ vào nhu cầu, quy hoạch
mạng lưới trường lớp trong tương lai theo kế hoạch phát triển để tạo nguồn CBQL
cũng như các nguồn lực khác. Quy hoạch với phương châm "động"và "mở": Một
chức danh có thể quy hoạch nhiều người, một người có thể quy hoạch nhiều chức
danh. Quy hoạch thường gắn kết với các khâu: Nhận xét, đánh giá, đào tạo, bồi
dưỡng, luân chuyển, sắp xếp, sử dụng, bãi miễn. Quy hoạch luôn được xem xét,
đánh giá, bổ sung, điều chỉnh hàng năm, có thể đưa ra khỏi quy hoạch những người
không đủ tiêu chuẩn ra khỏi quy hoạch, bổ sung vào quy hoạch những nhân tố mới,
có triển vọng. Quy hoạch cán bộ phải mang tính khoa học, thực tiễn, vừa tạo được
nguồn lực, vừa tạo được động lực thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của cán bộ.
1.4.4 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người cán bộ quản lý trường
tiểu học giai đoạn hiện nay.
a. Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp:
24
- Phẩm chất chính trị
25
- Học tập, bồi dưỡng:
Học tập, bồi dưỡng và tự rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức;
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; năng lực lãnh đạo và quản lý nhà
trường;
Tạo điều kiện và giúp đỡ cán bộ, giáo viên, nhân viên học tập, bồi dưỡng và
rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm.
b. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm:
- Trình độ chuyên môn:
Đạt trình độ chuẩn đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối
với giáo viên tiểu học;
Hiểu biết chương trình và kế hoạch giáo dục ở tiểu học;
Có năng lực chỉ đạo, tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục có hiệu quả phù
hợp đối tượng và điều kiện thực tế của nhà trường, của địa phương;
Có kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, y tế, văn hóa, xã hội liên quan
đến giáo dục tiểu học.
- Nghiệp vụ sư phạm:
Có khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và giáo dục nhằm
phát huy tính tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh;
Có khả năng hướng dẫn tư vấn, giúp đỡ giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm của giáo dục tiểu học;
Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng
dân tộc nơi công tác phục vụ cho hoạt động quản lý và giáo dục.
c. Năng lực quản lý trường tiểu học:
- Hiểu biết nghiệp vụ quản lý:
Hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục theo quy định;
Vận dụng được các kiến thức cơ bản về lý luận và nghiệp vụ quản lý trong
lãnh đạo, quản lý nhà trường.