Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Cơ sở II Trường Đại học Lao độngXã hội Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 31

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
………….o0o………….

TRẦN VĂN THÀNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CƠ SỞ II
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Huân

NGHỆ AN, 2013
LỜI CẢM ƠN


ii

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và
gia đình. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm
ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Giáo dục Trường Đại học Vinh
cùng quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản lý Giáo dục khóa

1.2.1 Quản lý, cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý 8
1.2.2 Phát triển, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý 13
1.3 Một số vấn đề về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường đại học. 14

1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của trường đại học trong sự nghiệp
giáo dục, đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội. 14
1.3.2 Tính tất yếu và yêu cầu của việc phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý ở các trường đại học. 19
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở
trường đại học 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
CƠ SỞ II TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI 27
2.1 Khái quát về Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội 27

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 27
2.1.2 Quy mô đào tạo 28
2.1.3 Bộ máy quản lý Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội 28
2.1.4 Đội ngũ cán bộ 30
2.1.5 Cơ sở vật chất 31
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội 32

2.2.1 Thực trạng về cơ cấu, trình độ cán bộ quản lý 32
2.2.2 Thực trạng về chất lượng cán bộ quản lý 33
2.2.2.1 Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp 34


iv
2.2.2.2 Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm 36
2.2.2.3 Về mặt năng lực quản lý 38

3.2 Các giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội 52


v

3.2.1 Giải pháp 1: Cụ thể hóa tiêu chuẩn của cán bộ quản lý 52
3.2.1.1 Mục đích của giải pháp 52
3.2.1.2 Nội dung giải pháp 53
3.2.1.3 Cách thức thực hiện 55
3.2.1.4 Điều kiện thực hiện 56

3.2.2 Giải pháp 2: Làm tốt công tác đánh giá thực trạng cán bộ quản lý
56
3.2.2.1 Mục đích của giải pháp 56
3.2.2.2 Nội dung giải pháp 57
3.2.2.3 Cách thức thực hiện 57
3.2.2.4 Điều kiện thực hiện 58

3.2.3 Giải pháp 3: Xây dựng và thực hiện tốt quy hoạch cán bộ quản
lý 59
3.2.3.1 Mục đích của giải pháp 59
3.2.3.2 Nội dung giải pháp 59
3.2.3.3 Cách thức thực hiện 59
3.2.3.4 Điều kiện thực hiện 60

3.2.4 Giải pháp 4: Tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ QL
và khuyến khích tự bồi dưỡng cho cán bộ quản lý và đội ngũ kế
cận 61
3.2.4.1 Mục đích của giải pháp 61
3.2.4.2 Nội dung giải pháp 62

Bộ GD&ĐT:

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ LĐTB&XH:

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

QL

Quản lý

CBQL:

Cán bộ quản lý

GD

Giáo dục

GDĐH:

Giáo dục đại học

GDĐT

Giáo dục đào tạo

GV:



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Lý do về mặt lý luận: Giáo dục là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát
triển xã hội. Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục đã có những phát triển
mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc mở rộng quy mô, tăng
cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người và chuẩn bị nguồn nhân lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy vậy, sự phát triển giáo dục của nước ta
còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, công tác quản lý giáo
dục còn kém hiệu quả.
Chiến lược phát triển giáo dục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 28/11/2001 đã chỉ rõ: “Nguyên nhân của những yếu kém bất cập trước
hết là do yếu tố chủ quan, trình độ quản lý giáo dục chưa theo kịp với thực
tiễn và nhu cầu phát triển khi nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa phối hợp tốt
và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội; chậm đổi mới cả
tư duy và phương thức quản lý... Năng lực của cán bộ quản lý giáo dục các
cấp chưa được chú trọng nâng cao. Một số bộ phận cán bộ quản lý và giảng
viên suy giảm về phẩm chất đạo đức. Nhằm khắc phục nguyên nhân những
yếu kém trên, Nghị quyết đại hội Đảng khẳng định: “giải pháp then chốt là
đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục - đào tạo”.
Ban bí thư trung ương Đảng đã Ban hành chỉ thị số 40-CT/TW ngày
15/06/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục. Chỉ thị nêu rõ “năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo
dục chưa ngang tầm với nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục”. Chế độ,
chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm



3

- Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại Cơ sở II
Trường Đại học Lao động - Xã hội, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại Cơ sở II
Trường Đại học Lao động - Xã hội.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp
tài liệu liên quan đến đề tài và khái quát hóa những nhận định độc lập.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực tế, tổng kết
kinh nghiệm giáo dục, lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp thống kê toán học.
7. Những đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Luận văn đã góp phần khái quát những vấn đề cơ bản về
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay. Phân
tích những vấn đề cơ bản của quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác phát
triển đội ngũ cán bộ quản lý nói chung, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đại
học nói riêng.
- Về thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý tại Cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội, luận văn
đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác này và đề xuất một số giải
pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại của Nhà trường.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường đại học.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Cơ
sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội
Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại Cơ sở

NĐ số 31/2011/NĐ-CP ngày 11-5-2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều


5

của NĐ số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của luật Giáo dục; Dự thảo chiến lược phát triển giáo
dục giai đoạn 2011-2020. [14];
Với xu hướng kế thừa, nhiều nhà khoa học Việt Nam như: Phạm Minh
Hạc, Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Gia Quý, Trần Kiểm…đã
chắt lọc những vấn đề tinh túy nhất của hầu hết các tác phẩm quản lý của
ngước ngoài để thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về sự phát
triển của công tác quản lý. Đáng lưu ý là các tác phẩm :”Cơ sở khoa học quản
lý” (Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Mỹ Lộc) [12]; “Những luận cứ khoa học
cho viêc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH –HĐH đất
nước” (Nguyễn Phú Trọng – Trần Xuân Sầm)[11];
Xét ở góc độ nghiên cứu quản lý giáo dục, dựa trên quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học nước ta tiếp
cận quản lý giáo dục và quản lý trường học để đề cập tới việc phát triển công
tác quản lý trường học, tiêu biểu nhất có:” Phương pháp luận khoa học giáo
dục” (Phạm Minh Hạc)[13]; “Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” (Trần Kiểm) [18].
Các nhà quản lý giáo dục các cấp cũng đã có nhiều nghiên cứu, đề xuất
những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên
nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục.
Tại trường đại học sư phạm Hà Nội, trong một số luận văn thạc sỹ,
chuyên ngành quản lý giáo dục có những tác giả nghiên cứu cùng hướng với
đề tài như: Hoàng Quốc Huy (2010), Trần Quốc Thắng (2010), Nguyễn xuân
Trường (2006), Nguyễn Hữu Chương (2011), Nông Như Ngà (2012), Nguyễn
Thị Chi Mai (2012)…

Từ những năm 70-80 của thế kỷ XX, một trường phái tiếp cận về quản lý
trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hóa giữa con người với con người đã
xuất hiện với công trình nghiên cứu của William (Giáo sư trường Đại học


7

California, Mỹ). Ông đã khẳng định, yếu tố quan trọng của văn hóa trong
quản lý và nêu ra 7 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý được mô tả
trong sơ đồ 7S : Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style (cách thức),
System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc
biệt là Staff (đội ngũ). Thông qua mô hình và phân tích đặc điểm của 7 yếu tố
trên, chúng ta sẽ thấy giá trị của chất lượng đội ngũ người quản lý.
Khi xã hội công nghiệp có sự bùng nổ thông tin và chuyển dần thành xã
hội thông tin, các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý có các công trình về
quản lý trong môi trường luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống,
quản lý tình huống và vấn đề chất lượng người quản lý thực sự đã được đề
cập tới với những yêu cầu và cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ. Cụ thể
một số công trình nổi tiếng, đó là của Harold Koont, Cyrii Odonell, Heinz
Weihrich với tác phẩm nổi tiếng: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” [7],
công trình này đề cập nhiều hơn về yêu cầu chất lượng của người quản lý.
Ngoài ra, ở Liên Xô (cũ), các công trình nghiên cứu – xét ở góc độ lý luận
giáo dục học của các tác giả đã đề cập tới lực lượng giáo dục, trong đó nêu rõ
vai trò, vị rí, chức năng của cán bộ quản lý trường học, tiêu biểu là công trình
của các nhà khoa học nổi tiếng như : Ilina T.A với tác phẩm Giáo dục học (tại
tập 3: Những cơ sở của công tác giáo dục ; Savin N.V với tác phẩm giáo dục
học(ở chương 22, tập 2: Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà trường)
Năm 1991, tổ chức UNESCO đã xuất bản cuốn “Quản lý hành chính và
sư phạm” của Jean Valerien, nhằm giới thiệu các modul về vai trò, chức năng,
trách nhiệm, yêu cầu chất lượng và nhiệm vụ của người hiệu trưởng trường

đích của nhóm”. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong
đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian tiền bạc,


9

vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lý là một trong những loại hình
lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng
tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt
được thành công theo ý muốn.
Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quan lý) lên
khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…
bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp
và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển
của đối tượng”
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người
quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đặt
ra. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những
yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng
tới mục tiêu. Đó là “bí quyết” làm việc của người quản lý được khám phá trên
sự đúc rút kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm thực tế được khái quát
hóa thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó
chính là khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: quản lý vừa
là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý gồm hai phần: chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể
như: Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe…, vừa có thể là sự việc như luật lệ,
quy chế, quy định…Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện

Tổ chức: là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các
thành viên, bộ phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch. Nhờ việc tổ chức có hiệu
quả, người quản lý có thể phối hợp điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực.


11

Chỉ đạo: đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý, lãnh đạo
bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm
vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Kiểm tra: thông qua một cá nhân, hay một nhóm tổ chức để xem xét thực
tế, theo dõi, giám sát thành quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những
hoạt động sai. Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý.
Với các chức năng đó, quản lý có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển xã hội. Nó nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo trật tự, kỷ cương
trong bộ máy và nó là nhân tố tất yếu của sự phát triển.
Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn
ra, quan hệ tương tác giữa các chủ thể quản lý và khách thể quản lý được thực
hiện (vân hành và phát triển). Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều
kiện, phương tiện quản lý. Đó không chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân
cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực). Còn hiệu quả quản lý là sản
phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển và
phẩm chất, năng lực của nhà quản lý cũng phát triển.
Tóm lại: quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các
quá trình và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý
chí của nhà quản lý và phù hợp với các quy luật khách quan.
• Cán bộ quản lý
 Định Nghĩa
Theo nghĩa riêng: Cán bộ quản lý là những người làm việc trong bộ máy,
là người tực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ

chức năng , nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ
thống (tổ chức) và cùng một mục đích nhất định. [19]
Có thể hiểu đội ngũ là một tập thể gắn kết với nhau, cùng chung lý
tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một


13

nguyên tắc. Ví dụ: “đội ngũ trí thức”; “đội ngũ nhà giáo”; “đội ngũ y, bác
sỹ”…v.v. Khi xem xét đội ngũ người ta thường chú ý tới ba yếu tố tạo thành
đó là: số lượng, cơ cấu đội ngũ; trình độ đội ngũ, phẩm chất, năng lực đội
ngũ.
Theo đó, đội ngũ cán bộ cán bộ quản lý trường đại học được hiểu là tập
hợp những người làm công tác quản lý ở các trường đại học, là những người
thực hiện điều hành quá trình giáo dục, đào tạo diễn ra trong trường đại học,
đây là những chủ thể quản lý trong nhà trường.
1.2.2 Phát triển, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Phát triển là quá trình biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Theo quan điểm này thì tất cả sự vật, hiện tượng,
con người và xã hội hoặc tự bản thân biến đổi hoặc do bên ngoài làm cho biến
đổi tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Như vậy, “Phát triển” là một khái
niệm rất rộng, nói đến “Phát triển” là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự đi
lên đó thể hiện việc tăng lên về số lượng và chất lượng, thay đổi về nội dung và
hình thức.
Phát triển đội ngũ quản lý thực chất là xây dựng và phát triển cả ba yếu
tố : quy mô, chất lượng, cơ cấu. Trong đó, quy mô được thể hiện bằng số
lượng. Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong bố trí về nhiệm vụ…hay nói cách khác
là tạo ra một ê kíp đồng bộ, đồng tâm có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho nhau về
mọi mặt. Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát
triển đội ngũ quả lý.

Các trường đại học được tổ chức và hoạt động theo quy định của điều lệ
trường đại học theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg, ngày 22/09/2010 của
Thủ tướng Chính phủ [16], Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10
tháng 11 năm 2010 và thay thế Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 10
tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành “Điều lệ trường
đại học”. Điều lệ này áp dụng đối với các đại học, trường đại học và học viện


15

(sau đây gọi chung là trường đại học) trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đại
học, trường đại học tư thục, trường đại học có yếu tố nước ngoài hoạt động
theo điều lệ này và quy chế tổ chức và hoạt động của đại học, trường đại học
tư thục, quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục. Các loại hình
trường và loại trường đại học:
- Các loại hình trường đại học bao gồm: công lập, bán công, dân lập và
tư thục, được quy định tại Điều 13 Nghị định số 43/2000/ NĐ-CP ngày 30
tháng 8 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Giáo dục [4]
- Các loại trường đại học bao gồm: đại học, trường đại học và học viện,
được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 43[5]
- Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu đào tạo nhân
lực và quy hoạch mạng lưới các trường đại học trong từng thời kỳ, Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục các
trường đại học trọng điểm của nhà nước.
 Nhiệm vụ và quyền hạn của các trường Đại học: Theo điều lệ ban
hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg, ngày 22/09/2010 của Thủ
tướng chính phủ có quy định về nhiệm vụ của các trường đại học như sau:
- Xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược và kế hoạch tổng thể phát
triển nhà trường qua từng giai đoạn, kế hoạch hoạt động hàng năm.

của địa phương và đất nước; thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
- Liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y
tế, nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với
sử dụng, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bổ sung nguồn tài
chính cho nhà trường.


17

- Xây dựng, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về đội ngũ công chức, viên
chức, các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ và hợp tác quốc tế của
nhà trường, về quá trình học tập và phát triển sau tốt nghiệp của người học;
tham gia dự báo nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo của trường.
- Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao, chuyển nhượng kết quả
hoạt động khoa học và công nghệ, công bố kết quả hoạt động khoa học và
công nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của nhà trường.
- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật
chất; được miễn, giảm thuế, vay tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Chấp hành pháp luật về giáo dục; thực hiện xã hội hóa giáo dục.
- Giữ gìn, phát triển di sản và bản sắc văn hóa dân tộc.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp
luật.
 Vai trò
Trường đại học là một thiết chế vô cùng quan trọng của xã hội và trong
bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu. Nhận thức về vai trò và sứ mạng
của trường đại học là nền tảng để hoạch định chính sách giáo dục, để tìm
kiếm giải pháp xây dựng những trường đại học thực sự có chất lượng, đáp
ứng được nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status