BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRUỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ HOÀNG YẾN
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ SỰ CÓ MẶT CỦA HỢP CHẤT ALKALOID
Ở HỌ TRÚC ĐÀO (APOCYNACEAE) THUỘC VƯỜN
QUỐC GIA VŨ QUANG – HÀ TĨNH
LuËn v¨n th¹c sÜ sinh häc
Vinh, 2011
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRUỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ HOÀNG YẾN
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ SỰ CÓ MẶT CỦA HỢP CHẤT ALKALOID
Ở HỌ TRÚC ĐÀO (APOCYNACEAE) THUỘC VƯỜN
QUỐC GIA VŨ QUANG – HÀ TĨNH
Chuyªn ngà nh Thùc vËt
M· sè: 60.42.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Phan Thị Hoàng Yến
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... 0
MỤC LỤC ..................................................................................................... 0
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU ......................................... 0
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................... 4
1.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu thực vật ............................................... 4
1.2. Nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật ................................................ 8
1.3. Nghiên cứu đa dạng về yếu tố địa lý thực vật...................................... 10
1.4. Vài nét về họ Trúc đào - Apocynaceae ................................................ 11
1.4.1. Đặc điểm chung................................................................................. 11
1.4.2. Đặc điểm hình thái.............................................................................. 12
1.4.3. Phân bố địa lý ..................................................................................... 14
1.4.4. Tình hình nghiên cứu họ Trúc đào (Apocynaceae) .......................... 15
1.5. Hợp chất nghiên cứu ............................................................................ 17
1.5.1. Hợp chất thứ cấp ............................................................................... 17
1.5.2. Hợp chất alkaloid .............................................................................. 18
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 21
2.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 21
2.1.1. Vị trí địa lý........................................................................................... 21
2.1.2. Địa hình............................................................................................... 22
2.1.3. Đất đai ................................................................................................. 23
2.1.4. Khí hậu, thuỷ văn ................................................................................. 23
2.1.5. Thảm thực vật ...................................................................................... 24
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội........................................................................... 25
CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..... 27
Bạch Mã ...................................................................................................... 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 51
Kết luận ...................................................................................................... 51
Kiến nghị .................................................................................................... 52
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ........................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 54
ẢNH MỘT SỐ LOÀI HỌ APOCYNACEAE Ở VQG
VŨ QUANG – HÀ TĨNH .......................................................................... 60
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Danh lục thành phần loài họ Trúc đào (Apocynaceae) ........................ 32
Bảng 4.2: Đa dạng thành phần loài trong các chi, tông và phân họ ..................... 35
Bảng 4.3: Sự phân bố các chi và loài theo sinh cảnh............................................. 38
Bảng 4.4: Dạng sống của các loài thuộc họ Trúc đào ở VQG Vũ Quang............ 37
Bảng 4.5: Thống kê các dạng sống của các loài thuộc nhóm cây chồi trên (Ph). 37
Bảng 4.6: Yếu tố địa lý của các loài thuộc họ Trúc đào ở VQG Vũ Quang ........ 40
Bảng 4.7: Công dụng của các loài thực vật thuộc họ Trúc đào ............................ 41
Bảng 4.8: Các loài thuộc họ Apocynaceae đang bị đe dọa ở VQG Vũ Quang ... 42
Bảng 4.9: Phản ứng tạo tủa nhận biết alkaloid của các loài thuộc họ Trúc đào .. 43
Bảng 4.10: So sánh số lượng chi, loài ở VQG Vũ Quang và VQG Pù Mát ....... 46
Bảng 4.11: Các chi giống và khác nhau ở VQG Vũ Quang và VQG Pù Mát .... 47
Bảng 4.12: So sánh số lượng chi, loài ở VQG Vũ Quang với VQG Bạch Mã ... 48
Bảng 4.13: So sánh về số chi, loài giữa VQG Vũ Quang với VQG Bạch Mã ... 49
MỞ ĐẦU
Thực vật có mối quan hệ mật thiết và đóng vai trò quan trọng trong đời
sống con người. Từ thời kỳ tiền sử con người đã kiếm cây cỏ làm thức ăn, qua
2.000 loài, phân bố chủ yếu ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có
khoảng 50 chi với khoảng 170 loài, có thể kể đến một số chi có số lượng loài
lớn và được sử dụng nhiều trong dược liệu như: Adenium, Alstonia,
Strophanthus, Rauvolfia, Catharanthus, Thevetia,… Về mặt khoa học họ
Apocynaceae là một mắt xích quan trọng trong chuỗi tiến hóa của lớp thực vật
Hai lá mầm (Dicotyledones). Một số nhà khoa học trên thế giới đã chọn họ
Trúc đào làm đối tượng nghiên cứu như Jussieu (1789), R.Brown (1810),
Schum (1895), Takhtajan (1996). Ở nước ta, các tác giả Phạm Hoàng Hộ
(1972, 1993), Trần Đình Lý (2005), Hoàng Thị Sản (2006) đã có một số công
trình nghiêu cứu về đặc điểm hình thái, phân bố và công dụng của các loài
thuộc họ này.
Trên thế giới, thuốc phòng và chữa bệnh hầu hết đều được điều chế từ 2
nguồn: dược liệu và hóa dược. Các hợp chất lấy từ cây cỏ vẫn chiếm một vị trí
quan trọng trong ngành dược liệu: 25% tất cả các loại thuốc của chúng ta lấy từ
thực vật. Tác dụng chữa bệnh của một số loài cây có được do trong chúng có
các chất có hoạt tính sinh học cao gọi là hợp chất thứ cấp. Có thể kể đến một số
hợp chất thứ cấp quan trọng có trong cây như: alkaloid, flavonoid, glycozid,…
Trong đó hợp chất alkaloid là hợp chất có ý nghĩa lớn trong dược liệu.
Vì những lý do trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘Điều tra
thành phần loài và sự có mặt của hợp chất alkaloid ở họ Trúc đào
(Apocynaceae) thuộc Vườn quốc gia Vũ Quang - Hà Tĩnh’’.
Mục tiêu nghiên cứu: Điều tra thành phần loài thuộc họ Trúc đào ở
VQG Vũ Quang, khảo sát sự có mặt của hợp chất alkaloid của các loài trong
họ nghiên cứu nhằm cung cấp những dẫn liệu làm cơ sở cho việc bảo tồn các
loài thực vật tại VQG Vũ Quang.
3
Nội dung:
- Thu mẫu và định danh các loài thực vật thuộc họ Trúc đào.
đó, Journefort (1656 - 1708) dùng tính chất của tràng hoa làm cơ sở phân loại,
ông chia thực vật có hoa thành nhóm không cánh và nhóm có cánh hoa [30].
Công trình nghiên cứu của Linnée (1707 - 1778) đã đạt đến đỉnh cao
của hệ thống phân loại thực vật. Ông chọn đặc điểm của bộ nhị để phân loại.
Hệ thống phân loại của Linnée rất đơn giản, dễ hiểu và được sử dụng rất rộng
rãi. Ông đã đề xướng cách gọi tên cây bằng tiếng Latinh gồm 2 từ ghép lại mà
5
ngày nay chúng ta đang sử dụng. Ông đã đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn
vị: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [30].
Robert Brown (1773 - 1858) là người đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ về tùng
bách và tuế do đó dẫn đến chỗ tách rời hai nhóm hạt trần và hạt kín [30].
Đến thế kỉ XIX thì việc nghiên cứu hệ thực vật mới thực sự phát triển
mạnh mẽ. Nhiều công trình nghiên cứu được công bố như: Thực vật chí Hồng
Công (1861), thực vật chí Anh (1869), thực vật Chí rừng Ân Độ 7 tập (1872 1897), thực vật Chí Vân Nam (1977),... Cho đến nay các loài chủ yếu tập
trung ở vùng nhiệt đới có 90.000 loài, trong đó vùng ôn đới Bắc Mĩ và Âu Á
có 50.000 loài đã được xác định [32].
Sự tồn tại và phát triển của con người phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Nếu nguồn tài nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của
chúng ta bị đe dọa nghiêm trọng. Do con người khai thác không có kế hoạch
và chiều sâu dẫn đến nguồn tài nguyên ngày càng kiệt quệ. Để tránh sự hủy
hoại tài nguyên chúng ta phải tôn trọng trái đất và sống một cách bền vững,
dù muộn còn hơn không chú ý, vì thế Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề
môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil)
tháng 6 năm 1992, có 150 nước đã ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và
bảo vệ chúng. Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn
sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời. Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn
sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of
biological diversity) [38] hay IUCN, UNEP và WWF đã đưa ra chiến lược
quyển [30]. Ngoài ra trong tập “Lĩnh Nam bán thảo”, ông đã tổng hợp được
2.850 bài thuốc chữa bệnh.
Trong thời kỳ Pháp thuộc ở nước ta, do tài nguyên thực vật phong phú,
đa dạng, có hệ thống rừng rậm nhiệt đới đã hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu
phương Tây. Có thể kể đến một số công trình như: “Thực vật ở Nam Bộ”
(1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây. Pierre (1879) với tác phẩm
“Thực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả được 800 loài cây gỗ. Công trình lớn nhất
là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte và một số nhà thực vật học
7
người Pháp đã mô tả được gần 7.000 loài từ dương xỉ tới hạt kín của toàn
Đông Dương [30].
Về sau Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc
đánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây phải kể đến bộ Thực vật
chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên
(1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ
gồm 74 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có [44]. Đến
năm 1965, dựa trên cơ sở các công trình đã có, Pocs Tamas đã thống kê và mô
tả được ở miền Bắc có 5190 loài, 1660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của
Engler đồng thời ông còn đi sâu vào cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và
các yếu tố địa lý của hệ thực vật này [49].
Từ năm 1969 đến 1976, Lê Khả Kế (chủ biên) cho xuất bản sách “Cây
cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập [24]. Ở miền Nam, Phạm Hoàng Hộ
công bố 2 tập cây cỏ miền Nam Việt Nam giới thiệu 5326 loài [15].
Để phục vụ công tác nghiên cứu tài nguyên, Viện điều tra quy hoạch
rừng đã công bố 7 tập cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) [44]. Bộ danh lục
có thể nói là đầy đủ nhất về thành phần loài thực vật bậc cao ở Việt Nam
thuộc về bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản
tại Canada với 3 tập 6 quyển, đã mô tả được 10.500 loài thực vật bậc cao có
2494 loài thuộc 931 chi, 202 họ của 5 ngành [38].
1.2. Nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật
Các loài sống trong một hệ sinh thái chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố
sinh thái của nơi sống đó tạo nên. Các cá thể loài và các loài đó tập hợp nên
những quần xã riêng biệt phản ánh môi trường ở nơi đó. Khi phân tích bản
chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của vùng ôn đới người
ta vẫn thường dùng hệ thống các dạng sống của Raunkiaer (1934) và sắp xếp
các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó. Cơ sở
quan trọng nhất để sắp xếp các nhóm dạng sống đó là xem thời kỳ khó khăn
cho cuộc sống (do lạnh hay khô hay cả hai).
Hiện nay, khi nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật người ta thường
dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) [48] dựa vào vị trí của chồi so với
9
mặt đất trong thời gian bất lợi của năm. Hệ thống phân loại phổ dạng sống
được chia làm 5 nhóm dạng sống cơ bản sau:
1 - Cây có chồi trên đất (Ph)
2 - Cây chồi sát đất (Ch)
3 - Cây chồi nửa ẩn (Hm)
4 – Cây chồi ẩn (Cr)
5 – Cây chồi một năm (Th)
Hình 1: Mô tả dạng sống theo Raunkiaer (1934) [48]
Raunkiaer (1934) [48] đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng
khác nhau trên thế giới và đưa ra phổ dạng sống tiêu chuẩn sau:
SB = 48 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 8 Cr + 15 Th.
Công trình nghiên cứu hệ thực vật ở Việt Nam của tác giả Pocs Tamás
(1965) [49] đã đưa ra kết quả là: Nhóm cây chồi trên (Ph) 52.2% ; 3 nhóm cây
chồi sát đất (Ch), nhóm cây chồi nửa ẩn (He) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) là
2 - Liên nhiệt đới
3 - Cổ nhiệt đới
4 - Nhiệt đới châu Á (Ấn Độ - Malêzi)
5 - Ôn đới Bắc
6 - Đặc hữu Việt Nam
7. Các loài cây trồng
11
Một số công trình nghiên cứu về yếu tố địa lý ở các địa điểm khác nhau
đã chỉ ra được:
+ Vườn Quốc Gia Bạch Mã được tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai
Văn Phô (2003) [39] chỉ ra:
Yếu tố toàn cầu: 0.61 %
Yếu tố nhiệt đới: 62.93 %
Yếu tố ôn đới: 3.76 %
Yếu tố đặc hữu: 25.12 %
Yếu tố cây trồng: 1.64 %
+ Yếu tố địa lý của Vườn Quốc gia Pù Mát năm 2004 [38]:
Yếu tố toàn cầu: 2.40 %
Yếu tố nhiệt đới: 65.05 %
Yếu tố ôn đới: 5.35 %
Yếu tố đặc hữu: 14.19 %
Yếu tố cây trồng: 5.56 %
1.4. Vài nét về họ Trúc đào - Apocynaceae
1.4.1. Đặc điểm chung
Các cây thuộc họ Trúc đào gồm những cây cỏ, cây bụi hay cây gỗ, có khi
là cây leo, thường có nhựa mủ trắng. Lá mọc đối hay vòng 3, rất ít khi mọc so le,
nguyên, không có lá kèm hay có lá kèm dạng tuyến.
Hoa đơn độc hoặc tập hợp lại thành cụm hoa vô hạn hoặc cụm hoa hình
Kibatalia,... Một số rất ít chi vừa có thân leo và vừa có cây bụi (Strophanthus). Ở
chi Carissa có gai ở nách lá do chồi tạo thành. Cây gỗ lớn hay gỗ nhỏ cũng gặp
ở một số chi trong họ này (Alstonia, Winchia, Couma, Lepinia, Aspidosperma,
Kopsia, Hunteria, Plumeria, Thevetia,...). Cây thân thảo sống lâu năm gặp ở
Catharanthus, Amsonia, Apocynum. Thân có vỏ mọng nước gặp ở Adenium,
Pachypodium,... Điều đáng chú ý ở đây là cây thân thảo, sống 1 năm chưa gặp ở
họ Trúc đào [25].
b, Lá
Dạng lá chung và điển hình của họ Trúc đào là đơn, nguyên, có 2 mặt rõ
ràng, mép không có răng cưa, gân lá kiểu lông chim, không bao giờ có lá kép.
Các lá xếp đối chéo thập, rất ít khi có lá mọc vòng (Rauvolfia, Winchia, Alstonia,
13
Craspidospermum, Nerium). Trong một số trường hợp ngoại lệ vừa có lá mọc
vòng, vừa có là mọc đối cùng tồn tại trên một cây (Melodinus, Amsonia,
Rhazya,...), ở đây có mối tương quan giữa kiểu sắp xếp lá mọc xoắn với thân có
vỏ mọng nước. Ở nách cuống lá gần như luôn luôn có tuyến nâu hoặc cấu trúc
dạng tuyến. Lá kèm không phát triển, nhưng ở một số chi có vết tích lá kèm rõ
(Tabernaemontana) [25].
c, Cụm hoa
Cụm hoa của họ Trúc đào gồm 2 kiểu chính là xim (Cyma) và chùm
(Racemus). Ở kiểu cụm hoa xim chiếm ưu thế tuyệt đối và gặp ở phần lớn các
taxon thuộc hệ thực vật cổ nhiệt đới. Kiểu cụm hoa chùm chỉ gặp chủ yếu trong
một số chi và loài thuộc hệ thực vật tân nhiệt đới. Cụm hoa một hoa chỉ gặp ở
vài chi và loài đặc biệt. Đó là hiện tượng thứ sinh do sự tiêu giảm số lượng hoa
của các cụm hoa nhiều hoa tạo thành.
d. Hoa
Hoa họ Trúc đào hoàn toàn lưỡng tính, đối xứng, mẫu 5, rất ít khi mẫu 4
và chỉ ở chi Tetradoa mẫu 6. Bao hoa phân hóa thành đài và tràng rõ ràng. Sơ đồ
là dạng tiến hóa nhất trong họ.
- Hạt: Hạt của họ này có nhiều hình dạng khác nhau, gần tròn hay hình
elip dài, hình mắt chim hay hình trứng dài bị ép,... Hạt của cá taxon có quả hạch,
quả mọng, quả đại nạc, không có cơ quan phát tán nhờ gió [25].
1.4.3. Phân bố địa lý
Họ Trúc đào phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chỉ có
khoảng 10 chi có mặt ở vùng ôn đới như Amsonia, Apocynum, Goniama,
Nerium Poacynum, Trachomitum, Vinca,...
- Các chi có đại diện ở cả châu Á, châu Phi và châu Mỹ là: Alstonia,
Amsonia, Rauvolfia, Tabernaemonta.
- Các chi có đại diện ở cả châu Phi và châu Mỹ là: Alstonia, Rauvolfia,
Tabernaemonta, Malouetia.
- Các chi có đại diện ở cả châu Á và châu Phi là: Alstonia, Carissa,
Cerbera, Rauvolfia, Strophanthus, Voacanga, Wrightia.
15
- Cỏc chi cú i din c chõu v chõu M l: Alstonia, Amsonia,
Tabernaemonta.
- Madagascar cú 24 chi thỡ 7 chi l c hu ca vựng. chõu i
Dng cú 4 chi, Notonerium l c hu ca chõu lc ny.
Vit Nam, h Trỳc o phõn b khp c nc, nhng tp trung nht l
vựng i nỳi, ni cũn thm thc vt t nhiờn tn ti. vựng ng bng, trng c
v thm thc vt cõy trng rt it gp cỏc i din ca h ny. Do yờu cu v ỏnh
sỏng nờn phn ln cỏc loi thng cú mt mộp rng tha. Di tỏn rng rm
cú rt it loi tn ti, mt s it loi ca chi Tabernaemontana v Rauvolfia. Chi
Ixodonerium cú th c coi l chi c hu ca Vit Nam, bi vỡ cha tỡm thy
c cỏc nc khỏc [25].
1.4.4. Tỡnh hỡnh nghiờn cu h Trỳc o (Apocynaceae)
Các cây thuộc họ Trúc đào gồm những cây cỏ, cây bụi hay cây gỗ, có
cho biết họ này gồm khoảng 200 chi và 2.000 loài, phân bố rộng rãi khắp thế
giới, chủ yếu ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở nước ta có khoảng 50 chi
như:
Adenium,
Aganonerion,
Alstonia,
Strophanthus,
Catharanthus,
Thevetia,... với khoảng 170 loài, thường mọc trên các đồi hoặc ở rừng thưa,
một số loài cây trồng. Chất nhựa mủ trong cây ở họ Trúc Đào thường có tính
độc (như ở các chi Nerium, Strophanthus), hoặc có vị đắng y học dùng làm
thuốc. Ở một số ít cây chất nhựa trắng này lại có tính đàn hồi như Cao Su.
Trong cây, sợi libe rất vững chắc và dài, có thể dùng lấy sợi. Do đó việc
nghiên cứu một số hợp chất thứ cấp (alkaloid, glycozid tim,...) là rất cần thiết
để phòng ngừa cũng như sử dụng chúng vào mục đích chữa bệnh [31].
Đặc biệt, trong Thực vật chí Việt nam, Tập 5: Họ Trúc đào Apocynaceae của Trần Đình Lý (2005). Tác giả không chỉ nghiên cứu đặc
điểm hình thái các loài, hệ thống phân loại, mối quan hệ thân cận giữa các chi
mà còn phát hiện ra nhiều loài mới của Apocynaceae ở Việt nam và đưa ra
khóa phân loại chi tiết cho họ này [25].
17
Từ những công trình mang ý nghĩa khoa học đó, các nhà khoa học
đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của hệ thống phân loại thực vật
và có lượng tiêu thụ toàn cầu khoảng vài kilogam.
1.5.2. Hợp chất alkaloid
1.5.2.1. Khái niệm về alkaloid
Đã từ lâu các nhà khoa học tìm thấy trong cây các hợp chất tự nhiên,
những hợp chất này thường là những axit hoặc những hợp chất trung tính.
Đến năm 1806 một dược sĩ Friedrich Wilhelm Sertuner phân lập được một
chất từ nhựa thuốc phiện có tính kiềm và gây ngủ mạnh đã đặt tên là Morphin.
Năm 1810 Gomes chiết được chất kết tinh từ cây Canhkina và đặt tên nó là
“Cinchonino”. Đến năm 1819, một dược sĩ là Wilhelm Meissner đề nghị xếp
các chất lấy từ thực vật ra thành một nhóm riêng và ông đề nghị gọi là
alkaloid, do đó người ta ghi nhận Meissner là người đầu tiên đưa ra khái niệm
về alkaloid.
Sau này người ta cũng đã tìm thấy alkaloid không những có trong thực
vật mà có trong động vật như cóc Bufo chứa những chất độc như Bufotenin,
bufotenidin,...
Ngoài tính kiềm, alkaloid còn có những đặc tính khác như có hoạt tính
sinh học mạnh, có tác dụng với một số thuốc thử gọi là thuốc thử chung của
alkaloid. Sau này Pôlônôpski đã định nghĩa: “Alkaloid là những hợp chất hữu
cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường gặp trong
thực vật và đôi khi trong động vật, thường có dược lực tính mạnh và cho
những phản ứng hoá học với một số thuốc thử chung của alkaloid”.
Người ta đã biết tận dụng nhiều alkaloid làm thuốc trị bệnh có giá trị,
các alkaloid có phản ứng kiềm và có tác dụng dược lực mạnh với một liều
nhỏ. Chúng có tác dụng mạnh nhiều hay ít lên hệ thần kinh trung ương và
thường là trên hệ thần kinh thực vật. Một số alkaloid được xếp vào những
loại thuốc có độc mạnh như: cocain, morphin, colchicin [2].
19
1.5.2.2. Phân bố alkaloid