Nâng cao hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nộix - Pdf 31

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm vừa qua hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng đổi
mới và hoàn thiện trên tất cả các mặt nghiệp vụ. Nhưng đổi mới và hoàn thiện
lĩnh vực thanh toán qua ngân hàng là một công việc khó khăn và phức tạp. Bởi
vì, một mặt nó phải phù hợp với nền kinh tế Việt Nam còn chưa phát triển, mặt
khác lại phải nhanh chóng hoà nhập với xu thể chung của sự phát triển với các
ngân hàng trên Thế giới.
Mở rộng dịch vụ thanh toán của ngân hàng đang là vấn đề bức xúc về
nhiều phương diện đối với kinh doanh ngân hàng, hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, nhu cầu của dân cư và chuyển vốn trong toàn bộ nền kinh tế.
Hệ thống thanh toán nếu được công nghệ hoá, hiện đại hoá thì các giao dịch
thanh toán được hoàn thiện đảm bảo thanh toán an toàn nhanh chóng, vai trò to
lớn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng và doanh nghiệp.
Kích thích sản xuất và gia tăng tốc độ lưu thông hàng hoá mở rộng dịch vụ, đẩy
nhanh nhịp độ tăng trưởng và phát triển đất nước.
Những năm qua, chính phủ, ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng Thương
mại đã rất quan tâm cũng có những thay đổi đáng kể về cơ chế thanh toán và tổ
chức việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, ban hành nhiều quy định,
pháp luật chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt
phát triển rộng rãi với khối lượng ngày càng lớn hơn. Đặc biệt, đưa tin học vào
phục vụ thanh toán. Do đó, đã đạt được những thành tự đáng kế tuy nhiên, những
kết quả đạt được chỉ là bước đầu mà phải không ngừng hoàn thiện công tác
thanh toán không dùng tiền mặt để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác
thanh toán nền kinh tế đưa khoa học kĩ thuật hiện đại để hiện đại hoá công tác
thanh toán không dùng tiền mặt ở mỗi ngân hàng phải được tiến hành song song
với việc đa dạng hoá các hình thức và phương thức thanh toán nhằm đem lại
hiệu quả cao nhất cho nền kinh tế.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
1
1

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trường.
Một trong những phát minh quan trọng nhất của con người có tính đột phá,
đẩy nên văn minh của nhân loại tiến một bước dài đó là sự phát minh ra tiền tệ.
Tiền tệ ra đời và không ngừng được nghiên cứu hoàn thiện nhằm vào hai mục
tiêu chính: Sự tiện lợi và sự an toàn.
Tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó là công cụ nhiệm mầu trong quá
trình phát triển nền kinh tế, tiền tệ cũng có một quá trình lưu thông dựa trên cơ
sở của lưu thông và trao đổi hàng hoá. Do vậy, ở bất cứ xã hội nào còn sản xuất
và lưu thông hàng hoá thì còn tồn tại tiền như nội quy luật khách quan.
Cho đến đầu thế kỷ 20, khi tiền gắn liền vào quá trình sản xuất và trao đổi,
tiền được xem là có các chức năng sau: Là thước đo giá trị trao đổi của hàng
hoá, là phương tiện để lưu thông hàng hoá, là phương tiện cất giữ giá trị
phương tiện thanh toán, là phương tiện tiền tệ quốc tế và trong đó chức năng
thước đo giá trị trao đổi là quan trọng và cơ bản nhất của tiền tệ để phân biệt với
các tài sản khác. Việc dùng tiền là phương tiện trao đổi sẽ đẩy mạnh hiệu quả
của nền kinh tế, giúp cho việc lưu thông và trao đổi hàng hoá dễ dàng thuận tiện,
thúc đẩy nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển, ngoài ra còn loại bỏ được
nhiều thời gian dành cho việc trao đổi các hàng hoá và dịch vụ. Thanh toán tiền
tệ bao gồm: Thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt.
Giai đoạn đầu của sản xuất, lưu thông hàng hoá thì thanh toán giữa người
mua và người bán được thực hiện bằng tiền mặt nhưng khi sản xuất và lưu thông
hàng hoá ngày càng phát triển ở mức độ cao sẽ kéo theo việc thanh toán bằng
tiền mặt không ngừng tăng lên về số lượng, khi số lượng sản phẩm hàng hoá sản
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
3
3
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

4
4
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
1.1.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị
trường.
TTKDTM là cách thức thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà
được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả để chuyển vào
tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau
thông qua vai trò trung gian của ngân hàng.
Đặc điểm của TTKDTM
Thứ nhất: Trong TTKDTM, tiền tệ và hàng hoá vận động ngược chiều với
nhau.
Việc thanh toán không phải thực hiện bằng cách trao trả trực tiếp tiền và
hàng giữa người mua và người bán mà được thực hiện bằng cách trích chuyển
đổi từ tài khoản tiền gửi của người mua sang tài khoản tiền gửi của người bán
sau khi hàng hoá đã hoặc đang vận chuyển từ người bán tới người mua.
Thứ hai: TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là tiền bút tệ.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của TTKDTM. Việc thanh toán được thực
hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người trả tiền chuyển vào tài khoản
của người thụ hưởng tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc bằng cách bù trừ lẫn
nhau.
Thứ ba: Trong TTKDTM, mỗi khoản thanh toán ít nhất có 3 bên tham gia
đó là: người trả tiền, người nhận tiền và các chuyên gia thanh toán.
Vai trò của TTKDTM
TTKDTM đã tạo ra những thuận lợi to lớn cho toàn bộ xã hội, thúc đẩy nền
kinh tế phát triển nhờ những ưu điểm vượt trội của nó so với thanh toán bằng
tiền mặt. TTKDTM ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của nền
kinh tế thị trường.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
5

ngân hàng, giao dịch thanh toán qua ngân hàng, từ đó rễ ràng tiếp cận và sử dụng
các sản phẩm khác của ngân hàng, làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
6
6
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Cuối cùng, TTKDTM tạo điều kiện để NHNN quản lý và điều tiết nền kinh
tế và điều hành chính sách tiền tệ của mình. NHNN có thể kiểm soát và điều hoà
khối lượng tiền trong lưu thông một cách rễ ràng hơn nhờ kiểm soát được khối
lượng tiền tín dụng mà các NHTM tạo ra ngày càng nhiều hơn.
Như vậy, TTKDTM giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Đứng trên giác độ
của ngành ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình độ quản lý, trình độ kỹ
thuật nghiệp vụ của Ngân hàng cũng như sự tín nhiệm của khách hàng. Trong
nội bộ một ngân hàng, TTKDTM không chỉ tác động đến nghiệp vụ thanh toán
mà còn tác động đến các mặt nghiệp vụ khác của ngân hàng như nghiệp vụ tín
dụng. Nếu làm tốt công tác TTKDTM thì sẽ thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng phát
triển và ngược lại. Đi đôi với sự phát triển kỹ thuật tin học, ngày nay hoạt động
ngân hàng hiện đại cũng chuyển hướng kinh doanh bằng cách mở rộng các dịch
vụ thay cho kinh doanh chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay là chủ yếu trước
đây. Trong đó, dịch vụ thanh toán đóng vai trò trọng tâm và đặc biệt quan trọng.
Kinh tế hiện đại coi hệ thống thanh toán hạ tầng cơ sở cho sự phát triển.
Nói đến thanh toán trong nền kinh tế tức là nói đến TTKDTM. Muốn có lâu dài
kinh tế – xã hội phát triển toàn diện thì phải có nền móng vững chắc. Trong đó
có một phần là trình độ phát triển của hệ thống thanh toán. Hệ thống thanh toán
phải không ngừng được củng cố và phát triển để có thể đảm đương được trọng
trách đó. Các hệ thống thanh toán cũng phải không ngừng được đa dạng hoá và
công nghệ thanh toán được nâng cao để hoàn thiện, mở rộng các hình thức
TTKDTM cho phù hợp với nền kinh tế luôn vận động và phát triển không
ngừng.
1.2. Quy định chung trong thanh toán không dùng tiền mặt.

NHNN ban hành quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử liên ngân
hàng; Quyết định số 309/2002/QĐ-NHNN ngày 09/4/2002 của Thống đốc
NHNN ban hành quy chế thanh toán điện tử liên ngân hàng.
Có thể nói Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện chế độ TTKDTM cho
phù hợp với nền kinh tế tạo điều kiện cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng triển
khai nhiều thể thức, hình thức thanh toán tiên tiến, từng bước hoà nhập với hệ
thống thanh toán theo thông lệ các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.2.1. Đối với khách hàng (chủ tài khoản)
1.2.1.1. Điều kiện để thực hiện TTKDTM
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
8
8
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Để tham gia thực hiện giao dịch thanh toán qua ngân hàng, người sử dụng
dịch vụ thanh toán là tổ chức, cá nhân (gọi tắt là khách hàng) phải mở tài khoản
thanh toán tại ngân hàng hoặc các tổ chức khác làm dịch vụ thanh toán.
Khách hàng được quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản, được quyền
lựa chọn sử dụng các dịch vụ thanh toán khi tiến hành thanh toán phải thực hiện
thanh toán thông qua tài khoản đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí
thanh toán theo quy định của ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.2.1.2. Quyền của chủ tài khoản
Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thông qua lệnh thanh
toán hợp pháp, hợp lệ. Chủ tài khoản được ngân hàng nơi mở tài khoản tạo mọi
điều kiện để sử dụng tài khoản của mình theo cách có hiệu quả và an toàn nhất.
- Được lựa chọn và sử dụng các dịch vụ thanh toán do Ngân hàng cung cấp
phù hợp với yêu cầu, khả năng và quy định của pháp luật.
- Được uỷ quyền cho người khác sử dụng tài khoản của mình theo quy định.
- Được yêu cầu ngân hàng nơi mở tài khoản thực hiện các lệnh thanh toán
phát sinh hợp pháp, hợp lệ trong phạm vi có số dư và có hạn mức thấu chi (nếu
được phép).

sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
- Không được cho thuê, cho mượn tài khoản, hoặc sử dụng tài khoản của
mình cho các giao dịch thanh toán đối với những khoản tiền đã có bằng chứng về
nguồn gốc bất hợp pháp.
1.2.2. Đối với ngân hàng
Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, ngân hàng và các tổ
chức làm dịch vụ thanh toán phải làm đúng vai trò trung gian thanh toán của
mình.
1.2.1.2. Quyền của ngân hàng
- Khi nhận được giấy đăng ký mở tài khoản của khách hàng, ngân hàng có
trách nhiệm giải quyết việc mở tài khoản tiền gửi của khách hàng nay trong ngày
làm việc. Sau khi đã chấp nhận việc mở tài khoản, ngân hàng thông báo cho
khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
10
10
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Ngân hàng được chủ động trích tài khoản tiền gửi cử khách hàng và có
quyền từ chối thực hiện các lệnh thanh toán theo đúng quy định.
- Trong trường hợp phát hiện người sử dụng tài khoản vi phạm các quy định
hiện hành hoặc thoả thuận đã có quyền không thực hiện các yêu cầu sử dụng
dịch vụ thanh toán của khách hàng, giữ lại tang vật và thông báo ngay với cấp có
thẩm quyền xem xét xử lý.
- Phong tỏa, đóng, chuyển đổi hoặc tất toán dư tài khoản theo quy định.
- Được quy định các biện pháp đảm bảo an toàn trong thanh toán tùy theo
yêu cầu và đặc thù hoạt động.
- Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin có lien quan khi sử dụng dịch vụ
thanh toán theo quy định.
- Phạt do khách hàng vi phạm các quy định về sử dụng tài khoản đã thỏa
thuận hoặc đã quy định.

1.3. Khái quát về có chế thanh toán không dùng tiền mặt
Nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay chưa đạt đến trình độ phát triển cao
vì thế, việc sử dụng TTKDTM còn chưa phổ biến, chủ yếu là trong các doanh
nghiệp lớn. Trong điều kiện đó, cơ chế TTKDTM của nước ta có những nội
dung riêng phù hợp với trình độ kinh tế. Trong phần này em xin nêu khái quát về
các thê thức TTKDTM và các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng
theo quy định của pháp luật hiện nay ở Việt Nam.
1.3.1. Các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng
1.3.1.1. Sự cần thiết của thanh toán vốn giữa các ngân hàng
Chức năng thanh toán của ngân hàng đang phát triển với những mô thức
phong phú, đa dạng và ngày càng chiếm giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động
kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia. Sự nhanh chóng thuận tiện an toàn và hiệu quả
trong thanh toán sẽ đảm bảo chác các dòng vốn trong nền kinh tế – xã hội được
tập trung và phân phối nhanh, đáp ứng có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế.
Ngược lại, sự chậm trễ, ách tắc trong thanh toán là biểu hiện của nền kinh tế trì
trệ kém phát triển.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
12
12
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Cùng với các nghiệp vụ khác của ngân hàng, cung cấp các dịch vụ
TTKDTM là một trong những hoạt động chính của Ngân hàng và ngày càng tạo
ra những tiện tích cho con người sử dụng. TTKDTM là sự chuyển dịch giá trị từ
tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của bên trả tiền sang tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn của bên thụ hưởng.
Trong trường hợp bên trả tiền và bên thụ hưởng đều mở tài khoản tại một
đơn vị Ngân hàng thì việc thanh toán của hai chủ thể sẽ không ảnh hưởng đến
vốn của ngân hàng và việc kiểm soát sẽ không gặp phải khó khăn lớn. Tuy
nhiên, việc thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường
không chỉ bó hẹp trong phạm vi một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán mà

Thực chất của thanh toán liên hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng này
đến ngân hàng kia để phục vụ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ của hai khách
hàng (mua và bán) khi cả hai khách hàng không cùng mở tài khoản tại một ngân
hàng, hoặc là chuyển cấp vốn, điều hòa vốn trong nội bộ một hệ thống ngân
hàng.
Tùy theo đặc điểm của từng hệ thống ngân hàng, để tiến hành tổ chức hệ
thống thanh toán liên hàng một cách thích hợp. Chẳng hạn có những hệ thống
ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán liên hàng toàn hệ thống, nhưng có một số
hệ thống ngân hàng còn thiết lập thêm hệ thống thanh toán giữa các chi nhánh
ngân hàng trong cùng một tỉnh, một thành phố và thực hiện kiểm soát, đối chiếu
liên hàng nội tỉnh theo sự ủy quyền của cấp Trung ương.
Phương thức này được phát triển qua rất nhiều giai đoạn theo sự phát triển
của ngành ngân hàng và tình hình ứng dụng tin học trong ngân hàng.
* Giai đoạn thanh toán liên hàng truyền thống
Việc ứng dụng tin học chưa cao, các ngân hàng xử lý, giao nhận chứng từ,
kiểm soát và đối chiếu chứng từ bằng công nghệ thủ công. Do vậy phương thức
kiểm soát và đối chiếu đã chuyển từ kiểm soát tập chung, đối chiếu tập chung
sang kiểm soát tập chung, đối chiếu phân tán.
+ Phương thức “Kiểm soát tập chung, đối chiếu phân tán”: Theo phương
thức này, các chi nhánh trực tiếp chuyển tiền cho nhau, trung tâm thanh toán làm
nhiệm vụ kiểm soát tất cả các chuyển tiền sau đó lập hồ sơ đối chiếu gửi các chi
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
14
14
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
nhánh nhận tiền để Ngân hàng này đối chiếu (đối chiếu phân tán ở các ngân hàng
nhận chuyển tiền).
(2)

Chú giải

Chú giải:
1. Ngân hàng A chuyển tiền qua mạng về TTTT để TTTT chuyển tiếp về
ngân hàng B.
2. TTTT truyền chuyển tiền về ngân hàng B
3. Cuối ngày TTT đối chiếu cho tất cả các ngân hàng.
4. Các ngân hàng xác nhận đối chiếu gửi TTTT.
Trong giai đoạn công nghệ thống tin đã phát triển như vũ bão và được áp
dụng rộng rãi trong hoạt động ngân hàng, các ngân hàng Việt Nam đang chuyển
dần từ thanh toán liên hàng truyền thống sang thanh toán liên hàng điện tử, tiến
tới xây dựng hệ thống thanh toán hiện đại nhằm xử lý các khoản thanh toán
chuyển tiền một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn và quản lý chặt chẽ vốn
trong thanh toán.
Do ứng dụng công nghệ thông ngân hàng hiện đại nên việc kiểm soát và đối
chiếu khớp đúng được thực hiện ngay trong ngày trên hệ thống máy vi tính theo
quy trình.
Việc chuyển tiền đi từ NHA sẽ qua trung tâm kiểm soát và đối chiếu để
kiểm soát trước khi chuyên cho NHB.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
Trung tâm thanh
toán
(3)
(4)
(1)
(3)(4)(2)
Ngân hàng B
Ngân hàng A
16
16
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Cuối ngày, các đơn vị chuyển tiền điện tử có nhiệm vụ lập và gửi báo cáo

có tài khoản gửi tại NHNN (cùng hoặc khác chi nhánh, sở giao dịch NHNN) các
khoản thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN của các ngân hàng cũng đều
phát sinh trên cơ sở các khoản thanh toán của khách hàng và của nội bộ các ngân
hàng như các khoản điều chuyển vốn, các khoản vay trả giữa các ngân hàng với
nhau.
Các NHTM phải mở tài khoản tại NHNN và trên tài khoản tiền gửi phải
thường xuyên có đủ số dư để thanh toán kịp thời. Những trường hợp thanh toán
vượt quá số dư sẽ không được chấp nhận ngoại trừ NHNN có xác nhận một hạn
mức thấu chi hoặc cho vay qua đêm.
Trong quá trình giao dịch các NHTM sử dụng các mẫu chứng từ theo quy
định của NHNN, trên chứng từ phải có mẫu và dấu chữ ký đã đăng ký khi mở tài
khoản.
1.3.1.2.4. Thanh toán theo phương thức ủy nhiệm chi hộ, thu hộ
Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ là phương thức thanh toán giữa hai ngân hàng theo
sự thỏa thuận và cam kết với nhau, ngân hàng này sẽ thực hiện thu hộ hoặc chi
hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán của các khách hàng có
mở tài khoản tại ngân hàng kia.
Để tiến hành thanh toán theo phương thức UNT hộ, chi hộ hai ngân hàng
phải ký hợp đồng để thống nhất với nhau về nguyên tắc thủ tục và nội dung
thanh toán. Các nghiệp vụ thanh toán thu hộ, chi hộ phát sinh được hạch toán
vào tài khoản thu hộ, chi hộ giữa các ngân hàng. Theo định kỳ thỏa thuận, hai
ngân hàng đối chiếu doanh số và số dư tài khỏan thul chi hộ để thanh toán cho
nhau và tất toán số dư của tài khoản này.
1.3.1.2.5. Phương thức mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau để thanh toán
Điều kiện để thực hiện thanh toán: Để thanh toán theo phương thức này đòi
hỏi ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng này phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
18
18
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

19
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
hiện quyết toán tổng tức thời tại trung tâm thanh toán quốc gia sau khi phê duyệt
thực hiện duyệt lệnh, nếu tài khoản tại trung tâm thanh toán đủ số dư, hệ thống
sẽ tự động xử lý và hạch toán. Việc thực hiện rất nhanh chóng, chính xác
(khoảng 10 giây). Trường hợp thanh toán quá số dư sẽ thực hiện thấu chi theo
quy định của thống đốc.
Đối với luồng giá trị thấp (dưới 500 triệu đồng và lệnh thanh toán thường)
được thực hiện quyết toán bù trừ theo phiên. Khác với luồng giá trị cao, luồng
giá trị thấp yêu cầu đơn vị thanh toán phải có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán hoặc phải đảm bảo hạn mức nợ ròng theo quy định của NHNN. Đối
với những bệnh đúng quy định thì được thực hiện và chuyển ngay cho đơn vị thụ
hưởng. Việc giải quyết toàn vốn giữa các ngân hàng thành viên không diễn ra
đồng thời cùng lúc với lệnh thanh toán, mà nó được thực hiện vào những thời
điểm nhất định bằng phương thức bù trừ để tổng hợp số phải thu hoặc phải trả
cho thức bù trừ để tổng hợp số phải thu hoặc phải trả cho từng thành viên. Kết
quả bù trừ sẽ được hạch toán vào tài khoản tiền gửi thanh toán của các thành
viên tham gia tương ứng mở tại sở giao dịch NHNN.
Thời gian và độ an toàn cho cả luồng giá trị cao và luồng giá trị thấp là
ngang nhau, chỉ khác nhau về phương diện xử lý kỹ thuật.
Như vậy, thanh toán điện tử liên ngân hàng đã rút ngắn thời gian gấp hàng
trăm lần so với thanh toán thủ công trước kia về phía khách hàng thì được hiệu
quả rất nhiều lợi ích từ dịch vụ này, trong đó phí dịch vụ thanh toán.
1.3.1. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành
Theo Nghị định 64/2001/NĐ-CP về hoạt động thanh toán qua các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày
26/03/2002 của NHNN ban hành về quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ
chức dịch vụ thanh toán, Quy định 1092/QĐ - NHNN ngày 08/10/2002 về việc
ban hành thủ tục thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Có 5
hình thức TTKDTM hiện nay đang được áp dụng tại Việt Nam bao gồm:

Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
21
21
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
luật thì thời hạn đó được lùi đến ngày làm việc tiếp theo ngay sau ngày nghỉ theo
quy định.
Thời hạn thanh toán Séc
Thời hạn thanh toán Séc là 6 tháng kể từ ngày ký phát Séc được nộp vào
ngân hàng xin thanh toán và tờ Séc được thanh toán có điều kiện. Trong thời hạn
xuất trình thì tờ Séc được thanh toán vô điều. Trong thời hạn thanh toán Séc (Sau
30 ngày) sau thời hạn xuất trình ngân hàng sẽ tiếp tục thanh toán tờ Séc nếu
không nhận được thông báo đình chỉ của người ký phát.
Các loại Séc:
* Séc chuyển khoản là loại Séc do chủ tài khoản phát hành và giao dịch trực
tiếp cho người thụ hưởng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ và các khoản thanh
toán khác.
* Séc bảo chi là một loại Séc thanh toán được ngân hàng đảm bảo khả năng
chi trả bằng cách trích trực tiếp số tiền trên Séc từ tài khoản tiền gửi của người
trả tiền sang tài khoản riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ Séc đó,
hoặc phong tỏa số dư trên tài khoản tiền gửi của người ký phát.
Do không được đảm bảo khả năng thanh toán bởi ngân hàng thanh toán
hoặc được sự bảo lãnh của bên thứ 3, mà khả năng thanh toán của Séc phụ thuộc
vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người ký phát nên trong thanh toán bằng
Séc phụ thuộc vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người ký phát nên trong
thanh toán bằng Séc chuyển khoản luôn phải đảm bảo nguyên tắc ghi Nợ trước,
ghi Có sau. Nguyên tắc này thể hiện trong từng trường hợp như sau:
1.3.2.1.2. Quy trình thanh toán và kế toán Séc chuyển khoản
a. Séc chuyển khoản thanh toán cùng chi nhánh ngân hàng
Quy trình thanh toán
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q

(3b)
(1a)
23
23
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Chú giải:
1a. Người ký phát trao Séc cho người thụ hưởng Séc.
1b. Người thụ hưởng Séc trao hàng hóa, dịch vụ cho người ký phát.
2. Người thụ hưởng Séc nộp bản kê nộp Séc vào ngân hàng thu hộ để nhờ
thu hộ tiền.
3.Ngân hàng thu hộ chuyển Sé và bảng kê hộp Séc sang tiên ngân hàng
thanh toán.
4.Ngân hàng thanh toán sau khi Nợ tài khoản người ký phát sẽ chuyển tiền
vào báo Có cho ngân hàng thu hộ.
5. Ngân hàng thu hộ ghi Có và báo có cho người thụ hưởng.
Quy trình hạch toán
Tại ngân hàng thu hộ
Khi nhận được các chứng từ liên quan từ ngân hàng thanh toán tiền chuyển
sang, kế toán kiểm soát và hạch toán:
Nợ: Tài khoản thanh toán vốn giữa các ngân hàng.
Có: Tài khoản tiền gửi thanh toán người thụ hưởng.
Tại ngân hàng thanh toán
Khi nhận được bảng kê nộp Séc kèm theo các tờ Séc người thụ hưởng nộp
vào hoặc do ngân hàng thu hộ chuyển sang, kế toán kiểm soát tính hợp pháp,.
hợp lệ của chứng từ. Các tờ Séc đủ điều kiện thanh toán sẽ hạch toán:
Nợ: Tài khoản người ký phát
Có: Tài khoản thanh toán vốn giữa các ngân hàng.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp TC46Q
(1b)
(5)

(5)
(3)
(2)
Người thụ hưởng
Ngân hàng thu hộNgân hàng thanh toán
Người ký phát
(4)
25
25

Trích đoạn Chuyển tiền điện tử Thành tựu đạt được 1 Những mặt tồn tại: Phương hướng để tổ chức thực hiện:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status