TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÊ THỊ TÂM
ĐÁNH GIÁ SỰ TĂNG TRƢỞNG CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 3 – 5 TUỔI TẠI TRƢỜNG
MẦM NON ĐỒNG TÂM – THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý học trẻ emhọc
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÊ THỊ TÂM
ĐÁNH GIÁ SỰ TĂNG TRƢỞNG CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 3 – 5 TUỔI TẠI TRƢỜNG
MẦM NON ĐỒNG TÂM – THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý học trẻ em
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Lê Thị Tâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 2
NỘI DUNG....................................................................................................... 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Khái quát về sự phát triển của trẻ 3 – 5 tuổi .............................................. 3
1.2. Các chỉ số tăng trƣởng của trẻ 3 – 5 tuổi ................................................... 3
1.3. Tình hình nghiên cứu về các chỉ số hình thái của trẻ mầm non...................... 5
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 8
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................. 8
2.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................. 8
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 8
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 12
3.1. Chiều cao đứng của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi............................................. 12
3.2. Cân nặng của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi....................................................... 17
3.3. Vòng ngực của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi .................................................... 22
3.4. Vòng đầu của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi ...................................................... 27
3.5. Chỉ số BMI của trẻ em theo tuổi và giới tính........................................... 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 37
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu ...................................................... 8
Hình 3.13. Biểu đồ thể hiện vòng đầu của trẻ em nam ................................... 28
Hình 3.14. Biểu đồ thể hiện vòng đầu của trẻ em nữ...................................... 29
Hình 3.15. Đồ thị biểu diễn vòng đầu của trẻ em theo tuổi và giới tính......... 31
Hình 3.16. Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng đầu của trẻ em ........................... 32
Hình 3.17. Biểu đồ thể hiện chỉ số BMI của trẻ em theo tuổi và giới tính ..... 34
Hình 3.18. Đồ thị biểu diễn mức giảm BMI của trẻ em ................................. 34
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tƣơng lai, và cũng là niềm hi vọng
của toàn nhân loại.Vì vậy, chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non là một trong
những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lƣợc của Đảng và Nhà nƣớc ta. Để thực
hiện tốt nhiệm vụ này, cần nắm vững các đặc điểm tăng trƣởng của trẻ em.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số tăng trƣởng của con
ngƣời có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã
hội và môi trƣờng tự nhiên. Do đó, các chỉ số tăng trƣởng của con ngƣời nói
chung, của trẻ em nói riêng cần đƣợc tiến hành nghiên cứu thƣờng xuyên và
có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định.
Việc nghiên cứu các chỉ số tăng trƣởng nhƣ cân nặng, kích thƣớc cơ
thể của trẻ là rất cần thiết. Nó cung cấp dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ
em ở bậc học mầm non, cũng nhƣ tạo cơ sở khoa học để đề xuất các biện
pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc một cách
toàn diện nhất.
Phƣờng Đồng Tâm là một phƣờng nằm ở rìa thành phố Vĩnh Yên,
chủ yếu làm nông nghiệp, đời sống của ngƣời dân vẫn còn gặp nhiều khó
khăn. Đến nay vẫn chƣa có một đề tài nào nghiên cứu về đặc điểm tăng
trƣởng của trẻ lứa tuổi mầm non của phƣờng để có thể dựa vào đó đề ra
các biện pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất lƣợng chăm sóc và giáo
dục trẻ em ở địa bàn này.
em Việt Nam. Theo các tác giả, thì lứa tuổi mầm non gồm hai giai đoạn:
giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi (giai đoạn tuổi thơ sớm hay tuổi vƣờn trẻ) và
giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi (giai đoạn tuổi thơ đầu hay tuổi mẫu giáo).
Trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi có những đặc điểm phát triển thể lực riêng về
tầm vóc, trọng lƣợng, kích thƣớc cơ thể cùng với sự hoàn thiện của các cơ
quan chức năng [16, 22].
Tóm lại, chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi này là
phát triển và hoàn thiện [13].
1.2. Các chỉ số tăng trƣởng của trẻ 3 – 5 tuổi
Để đánh giá sự tăng trƣởng ở trẻ, ngƣời ta dùng các chỉ số khác nhau
tùy vào mục đích nghiên cứu mà lựa chọn các chỉ số riêng. Trong đó các
chỉ số hay đƣợc lựa chọn là chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu. Từ
những chỉ số cơ bản này ngƣời ta có thể suy ra các chỉ số khác nhƣ chỉ số
Pignet, BMI [13, 14, 17, 23].
3
Chiều cao đứng là một chỉ số tăng trƣởng cơ bản nhất và đƣợc sử
dụng trong hầu hết các nghiên cứu của “Nhân trắc học”. Chiều cao của
mỗi ngƣời đƣợc quyết định bởi đặc điểm di truyền, giới tính và ảnh hƣởng
của môi trƣờng sống [1, 13, 15, 19].
Ở trẻ em mầm non, chiều cao phát triển nhanh, nhất là trong những
năm đầu. Chiều cao của trẻ mầm non tăng trung bình 7 cm/năm ở giai
đoạn từ 1 đến 3 tuổi và tăng trung bình 6 cm/năm từ 3 đến 6 tuổi. Để theo
dõi sự tăng trƣởng chiều cao của trẻ em, có thể áp dụng công thức tính
gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ trên 1 tuổi [2, 13, 21].
X= 75 + 5.n
Trong đó: X – chiều cao đứng (cm); n – số tuổi(năm); 75 – chiều cao trẻ
1 năm; 5 – chiều cao tăng trung bình/năm.
Cùng với chiều cao, cân nặng của cơ thể cũng đƣợc coi là một chỉ số
Năm 1964, trong cuốn “Nhân trắc học”, F. Vaneler Rael đã đƣa ra
những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính,
lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng thang phân loại thể lực của con ngƣời
theo các chỉ số đánh giá thể lực [12].
Tại Hội nghị lần thứ bảy toàn Liên Xô về vấn đề sinh thái, sinh lý và
hình thái lứa tuổi, B.A. Nhikitic và V.P. Tresov đã công bố sơ đồ phát
triển cá thể sau khi sinh của con ngƣời. Sơ đồ cho biết khá chi tiết về sự
tăng tƣởng phát triển của con ngƣời ở mỗi giai đoạn và đã đƣợc áp dụng
rộng rãi trong nhân trắc học, giáo dục học, nhi khoa [12].
1.3.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
5
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực con ngƣời
là của một số tác giả Mondiere (1875), Huard, Bogot (1938) và Đỗ Xuân Hợp
(1943).Sau năm 1954, đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm
hình thái, giải phẫu, sinh lý của ngƣời Việt Nam [4, 14].
Năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do Giáo sƣ
Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên đƣợc xuất bản [21]. Đây là công trình đầu
tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực ngƣời Việt Nam ở mọi lứa
tuổi, trong đó có lứa tuổi trẻ Mầm non. Đây mới là các chỉ số sinh học của
ngƣời miền Bắc song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên
cứu sau này trên ngƣời Việt Nam. Sau này cũng đã có một số chƣơng
trình nghiên cứu về các đặc điểm hình thể ngƣời Việt Nam [4, 9, 10].
Năm 1989, Vũ Thị Chín cũng đã tiến hành nghiên cứu “Chỉ số phát triển
sinh lý - tâm lý trẻ em từ 0 - 3 tuổi”và đã xây dựng đƣợc biểu đồ phát triển về
chiều cao, cân nặng của trẻ [3].
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng đã đo 17 chỉ số hình thái (Chiều cao, cân
nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số pignet,...) của ngƣời Việt Nam từ 1-25 tuổi
cứu các chỉ số thể lực của trẻ mẫu giáo là cần thiết. Nó góp phần xây
dựng các chỉ số sinh học ngƣời Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, bổ
sung số liệu cho hƣớng nghiên cứu thể lực của trẻ em, đồng thời là dẫn
liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các trƣờng Trung
học, Cao Đẳng, Đại Học sƣ phạm ngành mầm non và là dẫn liệu cho
công tác nuôi dạy trẻ mầm non đƣợc tốt hơn.
7
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là các chỉ số tăng trƣởng của trẻ em lứa tuổi
mẫu giáo từ 3 – 5 tuổi của trƣờng Mầm non Đồng Tâm thuộc thành phố
Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc; gồm 3 nhóm với 3 độ tuổi khác nhau, từ 3 đến
5 tuổi.
Tổng số trẻ tham gia nghiên cứu là 188 trẻ em, trong đó có 92 trẻ em
nam và 96 trẻ em nữ. Các trẻ có trạng thái tâm lý và sức khỏe bình
thƣờng, không có dị tật bẩm sinh và bệnh mãn tính. Phân bố trẻ tham gia
nghiên cứu theo tuổi và theo giới tính đƣợc thể hiện qua bảng 2.1.
Bảng 2.1. Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu
Tuổi
Nam
Nữ
Tổng số
3
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Trƣờng Mầm non Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Các chỉ số đƣợc nghiên cứu
- Chiều cao đứng
- Cân nặng
- Vòng ngực trung bình
8
- Vòng đầu
- Chỉ số BMI
2.3.2. Phƣơng pháp xác định các chỉ số
2.3.2.1. Chiều cao đứng
Chiều cao đứng của trẻ đƣợc đo bằng thƣớc đo polyme có vạch chia
độ chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trƣờng học của Bộ Giáo
Dục & Đào Tạo sản xuất. Đo vào buổi sáng, khi đo thƣớc dây căng thẳng
áp sát vào tƣờng nhà, vuông góc với mặt đất nằm ngang, trẻ đi chân
không, trẻ ở tƣ thế đứng thẳng trên nền phẳng, quay lƣng vào thƣớc đo,
hai gót chân áp sát nhau, hai tay bỏ thõng bên ngƣời, mắt nhìn thẳng,
đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lƣng, mông, gót chạm vào thƣớc đo.
2.3.2.2. Cân nặng
Trẻ đƣợc cân bằng cân y học Trung Quốc có vạch chia đến 0,1 kg, đo
xa bữa ăn. Khi đo, trẻ chỉ mặc quần áo mỏng, không mang giày dép, trẻ
đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai gót chân chạm nhau. Trƣớc khi đo bất
kỳ trẻ nào cân đều đƣợc chỉnh để đảm bảo độ chính xác.
2.3.2.3. Vòng ngực trung bình
Trẻ đƣợc đo ở tƣ thế đứng thẳng, chỉ mặc áo mỏng, thƣớc dây quấn
quanh ngực qua mũi ức, dƣới núm vú sao cho mặt phẳng của thƣớc dây
tạo ra song song với mặt đất. Thƣớc dây không co dãn và có vạch chia độ
Suy dinh
dƣỡng
14,0-17,0
13,9-16,8
Từ bách phân vị thứ
5 – 85
Bình thƣờng
17,4-18,3
17,0-17,8
16,8-17,9
Từ bách phân vị thứ
85 – 95
Nguy cơ béo
phì
>18,3
>17,8
>17,9
Dƣới bách phân vị
thứ 5
Suy dinh
dƣỡng
13,7-16,8
13,5-16,8
Từ bách phân vị thứ
5-85
Bình thƣờng
17,2-18,3
16,8-18,0
16,8-18,2
Từ bách phân vị thứ
85-95
Nguy cơ béo
phì
>18,3
- Độ lệch chuẩn: SD =
Trong đó:
Với n ≥ 30
: giá trị trung bình
: đại lƣợng i của X
SD: độ lệch chuẩn
n: số cá thể ở mẫu nghiên cứu
11
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Chiều cao đứng của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi
3.1.1. Chiều cao đứng của trẻ em nam
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi Trƣờng
Mầm non Đồng Tâm đƣợc thể hiện qua bảng 3.1 và hình 3.1.
Bảng 3.1. Chiều cao đứng của trẻ em nam
Chiều cao đứng (cm)
Tuổi
Số trẻ em có
chiều cao trong
n
±SD
Tăng
Max Min
(1)-(2)
112
95
17
80,00
5
32
108,06 ± 5,13
6,56
118
98
20
68,75
Tổng
92
Tăng trung
80
3
4
5
Tuổi
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng của trẻ em nam
3.1.2. Chiều cao đứng của trẻ em nữ
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi Trƣờng
Mầm non Đồng Tâm đƣợc thể hiện qua bảng 3.2 và hình 3.2.
13
Bảng 3.2.Chiều cao đứng của trẻ em nữ
Chiều cao đứng (cm)
chiều cao
N
Tuổi
Số trẻ em có
±SD
32
99,41 ± 3,97
5,47
109
92
17
68,75
5
32
106,84 ± 3,61
7,43
114
98
16
81,25
Số liệu trong bảng 3.2 cho thấy, chiều cao của trẻ em nữ tăng liên tục theo
tuổi. Chiều cao trung bình của trẻ em nữ lúc 3 tuổi là 93,94 ± 3,77 cm và lúc 5
tuổi là 106,84 ± 3,61 cm, tăng trung bình 6,45 cm/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng
chiều cao trung bình của trẻ em nữ không đều qua các năm. Giai đoạn từ 3 đến 4
tuổi tăng 5,47 cm/năm và tăng 7,43 cm/năm ở giai đoạn từ 4 đến 5 tuổi.
Mức độ khác nhau về chiều cao giữa trẻ em nữ cao nhất với trẻ em nữ thấp
nhất trong cùng một độ tuổi khá lớn, thay đổi từ 16 – 17 cm. Tỉ lệ trẻ em nữ có
chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi là 72,92%. Tỉ lệ này
thấp nhất là 68,75% lúc 3,4 tuổi và cao nhất là 81,25% lúc 5 tuổi. Nhƣ vậy, trẻ
em nữ lúc 5 tuổi có chiều cao đồng đều hơn so với các lứa tuổi còn lại.
3.1.3. So sánh chiều cao đứng của trẻ em theo tuổi và giới tính
Kết quả so sánh chiều cao đứng của trẻ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính
đƣợc thể hiện qua bảng 3.3, hình 3.3 và hình 3.4.
Bảng 3. 3. Chiều cao đứng của trẻ em theo tuổi và giới tính
Chiều cao đứng (cm)
Nam (1)
Tuổi
Nữ (2)
1-
P
2
(1-2)
4
30
101,50 ± 4,01
5,13
32
99,41 ± 3,97
5,47
2,09
Chiều cao
(cm)
120
110
108.06
106.84
101.5
100
96.37
99.41
93.94
Nam
90
Nữ
80
70
Tuổi
Tuổi
5
2
3
4
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao của trẻ em
3.2. Cân nặng của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi
3.2.1. Cân nặng của trẻ em nam
Kết quả nghiên cứu cân nặng của trẻ nam 3 – 5 tuổi Trƣờng Mầm non
Đồng Tâm đƣợc thể hiện qua bảng 3.4 và hình 3.5.
Bảng 3.4. Cân nặng của trẻ nam
Cân nặng (kg)
Tuổi
n
±SD
Tăng
Số trẻ em có cân nặng
Max
Min
(1)
0,89
23
13,5
9,5
76,67
5
32
18,44 ±2,58
2,06
25,8
14
11,8
78,13
Tổng 92
Tăng trung
bình/năm
10
5
Tuổi
0
3
4
5
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện cân nặng của trẻ em nam
18