BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
--------------
NGUYỄN THỊ THANH SƠN
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ PHÁT SINH VÀ KHỐNG CHẾ DỊCH CÚM
GIA CẦM Ở NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Thú y
Mã số
: 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI - 2008
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 2008
Tác giả
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các bảng
v
Danh mục hình
vi
1.
Mở đầu
1
1.1.
Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và khu vực Đông nam á
21
2.3.
Các giải pháp phòng chống dịch
25
3.
Nội dung - nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
34
3.1.
Nội dung
34
3.2.
Nguyên liệu
34
3.3.
41
4.2.
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát sinh dịch cúm gia
cầm ở Ninh Bình
49
4.2.2. Các yếu tố nguy cơ thuộc về điều kiện kinh tế, xã hội
iv
52
4.2.3. Các yếu tố nguy cơ thuộc về đàn gia cầm
60
4.3.
70
Các biện pháp khống chế dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình
4.3.1. Biện pháp tổ chức, chỉ đạo phòng, chống dịch
70
5.2.
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới phát triển dịch bệnh
94
5.3.
Các biện pháp khống chế dịch
95
Tài liệu tham khảo
97
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
2.1.
4.1.
4.2.
4.3.
4.4.
4.5.a.
4.5.b.
4.5.c.
53
55
4.11.
4.12.
4.13.
4.14.
4.15.
4.16.
62
63
63
64
65
4.19.
4.20.
4.21.
Biến động đàn gia cầm tỉnh Ninh Bình qua các năm
Tổng đàn đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Ninh Bình năm 2006
Các trang trại nông nghiệp có trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Quy mô chăn nuôi gia cầm/hộ của tỉnh Ninh Bình
Sản lượng thịt giết mổ gia súc, gia cầm tỉnh Ninh Bình
Số lượng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình
Số lượng quầy bán thịt trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Kết quả tiêm phòngvắc xin cúm gia cầm của tỉnh Ninh Bình
67
68
4.23.
Kết quả tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm đầu Năm 2008
86
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1.
ảnh virus dưới kính hiển vi điện tử
6
2.
Mô phỏng virus cúm
7
8.
Sơ đồ Sự thay ca-(shift)
12
vii
1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là nghề chăn nuôi truyền thống của nước ta, là
nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ gia đình nông thôn và là một trong
những nghề có tác dụng đóng góp quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm
nghèo và phát triển Nông nghiệp, nông thôn. Hàng năm chăn nuôi gia cầm ở
nước ta cung cấp khối lượng thực phẩm lớn thứ hai sau chăn nuôi lợn, chiếm
17% trong tổng số thịt hơi các loại. Tốc độ tăng trưởng đàn gia cầm bình quân
khoảng 7,5-7,6 % năm, ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta đã và đang từng
bước đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con
giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và
nuôi dưỡng.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc bộ, giáp với
Thanh Hoá, Hoà Bình, Nam Định, Hà Nam, với diện tích 1.400 km2, dân số
trên 950.000 người, gồm 6 huyện, một thị xã và một thành phố. Ninh Bình có
nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh như cố đô Hoa Lư, Tam cốc Bích
động, Khu du lịch Tràng An, Nhà thờ đá, Rừng Quốc gia Cúc Phương...Là
những điểm du lịch hàng năm đón nhiều lượt khách trong và ngoài nước. Là
tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế du lịch vì thế nhu cầu tiêu dùng thực
phẩm trên địa bàn, việc phát triển chăn nuôi gắn liền với an toàn vệ sinh thực
Hiện nay dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tạm thời ổn
định nhưng nguy cơ tái phát dịch vẫn còn cao. Để chủ động trong công tác
phòng, chống dịch, vấn đề đặt ra bức thiết hiện nay là phải tìm hiểu, nghiên
cứu dịch tễ học về bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình để đưa ra
giải pháp phòng chống dịch thích hợp làm hạn chế thấp nhất thiệt hại do dịch
cúm gia cầm gây ra. Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Khảo sát
một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát sinh và khống chế dịch cúm
gia cầm ở tỉnh Ninh Bình" làm Luận văn thạc sỹ của mình, với hy vọng
2
đóng góp phần nhỏ vào khống chế dịch cúm gia cầm ở tỉnh Ninh Bình trong
thời gian tới.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được diễn biến của dịch Cúm gia cầm từ năm 2004 đến
2008 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Đánh giá ảnh hưởng một số yếu tố đến sự phát triển lây lan dịch cúm
gia cầm;
- Lựa chọn các biện pháp không chế dịch Cúm gia cầm một cách hợp lý
nhằm ngăn chặn sự phát sinh dịch xẩy ra trên địa bàn tỉnh.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1. Đối tượng
Chăn nuôi gia cầm ở tỉnh Ninh Bình.
1.3.2. Phạm vi
- Về nội dung: Khảo sát các yếu tố nguy cơ ảnh hương đến sự phát
sinh, phát triển của dịch Cúm gia cầm ở Ninh Bình
- Về không gian: Địa bàn toàn tỉnh Ninh Bình;
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2004 - 2008.
xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân typ H5 và H7,
như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983-1984 là H5N2. [20].
Năm 1963, vi rút cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài
thuỷ cầm di chú dẫn nhập vào đàn gà. Cuối thập kỷ 60 phân typ H1N1 thấy ở
lợn và có liên quan đến những ổ dịch gà tây với những biểu hiện đặc trưng là
triệu chứng ở đường hô hấp và giảm đẻ. Mối liên hệ giữa lợn - gà tây là
những dấu hiệu đầu tiên về vi rút cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và
gây bệnh cho gia cầm. Những nghiên cứu về phân typ H1N1 đều cho rằng
virus cúm typ A đã ở lợn và đã truyền lây cho gà tây. Ngoài ra phân typ H1N1
ở vịt còn truyền cho lợn .
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước
năm 1970 nhưng chỉ thực sự được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm
virus cúm cao ở một số loài thuỷ cầm di trú [7].
Một số chủng virus có nhiều vật chủ gồm chim và các động vật có vú
khác. Trong vài chục năm gần đây, một số chủng virus cúm typ A điển hình
gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú
như hải cẩu, chồn và còn thấy ở cá voi là những dấu hiệu cho thấy sự liên
quan giữa các loài chim và thú trong việc truyền vi rút cúm gia cầm. [7].
2.1.3. Cấu trúc và một số đặc điểm của vi rút cúm typ A
a). Cấu trúc
Virus cúm gia cầm là loại vi rút cúm týp A, một trong 4 nhóm của họ
Orthomyxoviridae: Nhóm virus cúm A (Influenza virus A); virus cúm B
(Influenza virus B), virus cúm C (Influenza virus C) và nhóm Thogotovirus [22]
5
Hình1: Ảnh virus dưới kính hiển vi điện tử [27]
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối hoặc đôi khi có dạng hình khối
Nucleocapsid bao bọc lấy nhân của virus là tập hợp của nhiều protein
phân đoạn, có cấu trúc đối xứng xoán, độ dàI 130-150 nm, tạo vòm (loop) ở
giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, và liên lết với nhau qua cầu nối ở các peptit
tạo vòm không gian đó [22]
8
Haemagglutinin (A simplified 3D
Neuraminidase (Nacodes for neurami
model of influenza virus surface
nidase,
glycoprotein haemagglutinin)
an
antigenic
glycosylated
enzyme found on the surface of the
Courriel :
influenza viruses. It facilitates the
Virus không thể tự sinh sản, chúng phụ thuộc vào bộ máy trao đổi chất
của vật chủ và ribosomes để tự tái tạo và sinh sản
Hình 6: Sự sao chép và tái tạo [27]
d). Tính đa dạng kháng nguyên: Virus cúm type A có đặc điểm đặc trưng là
chúng thường có đột biến gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng
nguyên. Hai khả năng đột biến của virus cúm:
* Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi
10
trượt hoặc lệch lạc về kháng nguyên – antigenic drift): Đột biến điểm là
kiểu đột biến xảy ra thường xuyên, đặc biệt là đối với kháng nguyên H và
kháng nguyên N tạo ra những sự thay đổi nhỏ về trình tự nuclêotit của gen
mã hóa. Kết quả là tạo ra các phân type cúm hoàn toàn mới. Ví như quá
trình dập dịch không triệt để, vi rút vẫn tồn tại trong đàn gia cầm và biến
đổi. Gia cầm và các động vật khác (kể cả người) có thể mắc các vi rút cúm.
Loại biến dị này thường xảy ra liên tục, do sức ép miễn dịch - không gây ra
các vụ cúm lớn [10].
Biến dị điểm
Hình 7: Sơ đồ biến dị điểm
* Đột biến do tái tổ hợp di truyền (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất
kháng nguyên- antigenic shift): Đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra
định kỳ trong đó có sự sắp xếp lại các nuclêotit do sự trộn lẫn 2 bộ gen của
virus cúm khác nhau. Điều đó đã tạo nên những sai khác cơ bản về bộ gen của
virus đời con so với virus bố mẹ. Khi nhiều virus khác nhau cùng xâm nhiễm
vào một tế bào chủ, các thế hệ virus được sinh ra sau đó có thể được sinh ra
từ sự tái tổ hợp của các gen bố mẹ xuất phát từ nhiều virus khác nhau. Vì vậy
sinh sống. Nếu nguồn nước không được xử lý, nó sẽ là nguyên nhân lây nhiễm
cho gia cầm khi gia cầm uống phải nước từ nguồn nước đó.
Trong phủ tạng gà, virus tồn tại 24-39 ngày, ánh nắng chiếu trực tiếp sống
được 40 giờ còn chiếu thường thì sống 15 ngày [14].
12
f). Phân loại virus
Vi rút cúm typ A được phân typ dựa trên cơ sở xác định đặc tính
glucoprotein bề mặt, yếu tố ngưng kết hồng cầu (H) và trung hoà (N). Vi rút
cúm A thường có đột biến gen, tạo ra các phân typ hoàn toàn mới. Những
phân typ này thường gây đại dịch và được cấu tạo từ sự tái tổ hợp kháng
nguyên của vịt, lợn và con người không thể dự đoán trước được.
Trước đây, đã có lúc người ta cho rằng chỉ một phân typ cụ thể gây
nhiễm cho một vật chủ nhất định có quan hệ gần gũi về loài, vì thế thường sử
dụng các đuôi thêm vào phân typ dạng H, N. Tuy nhiên, trong thực tế chỉ một
vài phân typ cụ thể gây bệnh cho một số loài động vật thường xuyên hơn các
loài khác trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh.
Do đó, năm 1980 Tổ chức y tế Thế Giới (WHO) đã đưa ra một hệ hống
phân loại mới cho các vi rút cúm typ A và xắp xếp lại một số phân typ mà
trước đó được xem là khác nhau nhưng sau thấy có quan hệ với nhau vào một
nhóm. Đồng thời, việc đặt tên cho một vi rút cúm mới được phân lập cũng
được qui định chặt chẽ là phải thể hiện theo trình tự: Loại kháng nguyên,
nguồn gốc vật chủ, địa điểm phát hiện, số chủng thham khảo, năm phân lập
được vi rút và riêng vi rút cúm typ A phải qui định rõ các phân typ H, N. Ví
dụ (A/ gà tây/ Anh/ 79 H7N7) [7].
Đến nay, virus cúm A chia thành 15 phân typ trên cơ sở kháng nguyên
ngưng kết H(H1-H15) và N(N1-N9). sự thay đổi thành phần H và N của một vi
rút dẫn đến sự đa dạng về mặt di truyền của các tế bào vật chủ. Khi một tế bào
H2
N2
N2
H3
H3,Heq2, Hav7
N3
Nav2
H4
Hav4
N4
Nav4
H5
Hav5
N5
NAv5
Nav6
H10
Hav2
H11
Hav3
H12
Hav10
H13
H14
H15
g). Độc lực của virus
Nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy, khả năng lây nhiễm virus phụ
thuộc vào tác động của men proteaza vật chủ đến sự phá vỡ các liên kết hoá
học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết. Tính thụ cảm của ngưng kết tố và
14
sự phá vỡ liên kết của men proteaza lại phụ thuộc vào số lượng các amino axit
cơ bản tại điểm bắt đầu vỡ liên kết. Các enzym giống trypsin có khả năng phá
vỡ liên kết khi chỉ có 1 phần tử arginin, trong khi đó các men proteaza khác
lại cần nhiều amino axit cơ bản, vì thế đánh giá độc lực của vi-rút trên cơ sở
tạo ra bệnh tích đại thể, không làm chết gà [26]
2.1.4. Động vật mắc bệnh
- Vi rút cúm typ A gây bệnh chủ yếu cho gia cầm (đặc biệt ở gà),
người và động vật có vú khác.
- Năm 1959, ở Scotland đã phát hiện từ gà phân typ vi rút cúm H5 mà
trước đó, hầu hết các vi rút gây bệnh cao đều thuộc phân typ H7.
- Các phân typ vi rút cúm gây bệnh cao đối với gia cầm nuôi kể từ
năm 1959 là:
A/ Gà/Scotland/59 (H5N1)
A/ Gà tây/Anh/63 (H7N3)
A/ Gà tây/ Ontario/7732/66 (H5N9)
A/ Gà/ Victoria/ 76 (H7N7)
A/ Gà tây/ Anh/ 79 (H7N7)
A/ Gà/ Pennsylvania / 83 (H5N2)
A/ Gà tây / Ireland/ 83 (H5N8)
A/ Gà / Vivtoria / 85 (H7N7).
Cho đến nay, các vi rút kể trên đều thuộc phân typ H5 hoặc H7. Các vi
rút này thường chỉ gây ra các ổ dịch lẻ tẻ, dễ bị khống chế.
Trước năm 1955, gia cầm thường nhiễm chủng vi rút cúm có độc lực
thấp dù đã được phân lập nhưng ít được quan tâm như A/gà /Đức/N/49
(H10N7).
16
Trong những năm gần đây, các vi rút như vậy đều thấy chủ yếu trên gà
tây, hiếm thấy ở gà tại hầu hết các nước phát triển chăn nuôi gia cầm công
nghiệp. Tuy nhiên, các ổ dịch cúm gia cầm xảy ra nghiêm trọng lại do sự xuất
hiện bất thường của một vi rút có độc lực thấp nhưng biến thể để trở thành
một vi rút có độc lực cao gây thành bệnh cúm độc lực cao ở gia cầm (HPAI)