Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Hà Nội - Pdf 31

Chơng 1
Những vấn đề cơ bản về Phát triển dịch vụ ngân hàng
của Ngân hàng Thơng mại
1.1. Ngân hàng thơng mại và phát triển dịch vụ ngân hàng của
Ngân hàng thơng mại
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thơng mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với nền kinh
tế. Các ngân hàng có thể đợc định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các yếu tố trên không ngừng thay đổi.
Thực tế, có rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm có cả các công ty kinh doanh chứng
khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ hỗ trợ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều
đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngợc lại, ngân hàng cũng đang
mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ liên quan đến một số lĩnh vực nh bất động sản,
môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm và thực hiện nhiều dịch vụ mới
khác. Do vậy, để đa ra định nghĩa chính xác về ngân hàng thơng mại không phải là
điều dễ dàng.
Theo Peter Rose trong cuốn Quản trị ngân hàng thơng mại thì Ngân hàng là
tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Còn theo WB định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu
ở dới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi đợc rút ra với một thôngbáo ngắn hạn (tiền
gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm).
Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 quy định Ngân hàng
là loại hình tổ chức tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan.
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra Ngân hàng là một trong những định chế
tài chính, mà đặc trng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, với nghiệp vụ cơ
bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, ngân
hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm
dịch vụ của xã hội.

tồn tại của ngân hàng gắn với sự tồn tại của các dịch vụ do ngân hàng cung ứng. Do
vậy phát triển dịch vụ ngân hàng là hết sức cần thiết nhằm góp phần củng cố ngân
hàng lớn mạnh, nâng cao vị thế của ngành ngân hàng đối với nền kinh tế, khẳng định
lòng tin trong dân chúng và tự tin trong tiền trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.3.1. Từ yêu cầu của nền kinh tế
Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế theo xu hớng nền kinh tế tri thức
Dịch vụ ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của công nghệ thông
tin. Để phát triển các dịch vụ thẻ ATM; dịch vụ Internet banking; Home banking các
ngân hàng phải trang bị các thiết bị hiện đại nh máy rút tiền tự động, máy đọc thẻ
(POS), mạng trực tuyến, Website Mặt khác, dịch vụ ngân hàng là loại dịch vụ chất
lợng cao, đòi hỏi ngời cung cấp và khách hàng phải có kiến thức am hiểu nhất định
mới có thể sử dụng và vận hành. Nhiều trong số loại dịch vụ này tạo ra giá trị tăng
cao - một đặc điểm của nền kinh tế tri thức.
Dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển
Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng liên quan sâu rộng đến nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực sản xuất và đời sống nên sự phát triển của dịch vụ ngân hàng thúc đẩy sự
phát triển của các ngành dịch vụ khác. Chẳng hạn, lĩnh vực xuất nhập khẩu sẽ bị hạn
chế nếu dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không thông suốt. Đồng thời dịch vụ
thanh toán phát triển đòi hỏi lĩnh vực công nghệ thông tin cũng phải phát triển. Các
ngành nh du lịch, bu chính viễn thông, hàng không v.v cũng sẽ phát triển theo.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế về dịch vụ
Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hóa thơng mại và tự do hóa tài chính
ngày càng sâu rộng, nhu cầu thị trờng về dịch vụ tài chính phát triển rất nhanh và v-
ợt xa khả năng đáp ứng của các định chế trung gian tài chính hiện có của quốc gia.
Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính đang ngày một tăng, đặc
biệt là ở thành thị. Nhu cầu đó gắn liền với quá trình ra đời với tốc độ nhanh chóng
của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, cũng nh quá trình chuyển đổi các
doanh nghiệp Nhà nớc sang công ty cổ phần. Đó là nhu cầu về giao dịch cổ phiếu, t
vấn đầu t, quản lý ngân quỹ.v.v Sự xuất hiện các doanh nghiệp n ớc ngoài trong
nền kinh tế nh chất xúc tác, thúc đẩy sự ra đời và phát triển nhanh chóng nhu cầu thị

động kinh doanh ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt thì các ngân hàng phải đẩy
mạnh phát triển các hoạt động dịch vụ nh chuyển tiền, bảo lãnh, đại lý uỷ thác.v.v
để tăng thêm nguồn thu từ phí dịch vụ.
Phân tán và hạn chế rủi ro
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt nên hoạt động kinh
4
doanh của ngân hàng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau nh rủi ro lãi suất,
rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối trong đó, hoạt động tín dụng chứa đựng rủi ro lớn
nhất. Do vậy, các ngân hàng cần phải đa dạng hóa các loại hình dịch vụ nhằm phân
tán bớt rủi ro, tránh tình trạng "tất cả các quả trứng đều để chung vào một rổ". Hơn
nữa, hoạt động dịch vụ với đặc điểm là ngân hàng không phải sử dụng nguồn vốn của
mình do vậy nó cũng góp phần hạn chế rủi ro trong kinh doanh, giữ vững sự ổn định
của ngân hàng. Khi thị trờng có những biến động thì nguồn thu từ các dịch vụ khác
nhau sẽ bổ trợ cho nhau giúp ngân hàng ổn định đợc mức doanh thu theo dự kiến.
Tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng
Nếu nh trớc đây khách hàng phải tìm đến ngân hàng để đợc cung cấp các dịch
vụ thì ngày nay trong điều kiện môi trờng cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng
phức tạp thì mỗi ngân hàng phải tìm mọi cách để mở rộng đợc thị phần và thu hút đ-
ợc khách hàng đến với mình. Muốn vậy, không có cách nào khác là phải phát triển
đa dạng các loại hình dịch vụ, cung ứng những dịch vụ tiện ích, hoàn hảo cho khách
hàng. Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin, thời gian là vô cùng quý báu,
các ngân hàng đang có xu hớng trở thành các "bách hóa tài chính" hay còn gọi là
"siêu thị dịch vụ ngân hàng" mà ở đó cung ứng các dịch vụ trọn gói đa dạng phong
phú với chất lợng tốt đáp ứng bất cứ nhu cầu nào của khách hàng có liên quan đến
dịch vụ ngân hàng. Hơn nữa, ngân hàng nào có dịch vụ mới hơn, linh hoạt và hoàn
hảo hơn đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao của thị trờng sẽ có sức thu hút khách
hàng lớn hơn. Do vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng sẽ giúp ngân hàng đứng vững và
phát triển trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trờng.
Thúc đẩy các nghiệp vụ phát triển
Các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác

ngân hàng cung cấp hoặc chủng loại trong mỗi danh mục sản phẩm dịch vụ. Do vậy,
đây là một trong những tiêu thức đầu tiên đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân
hàng.
1.2.2. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua thu phí
dịch vụ, hoa hồng đại lý hay chênh lệch giá.v.v Dịch vụ ngân hàng ngày càng
phát triển khi nguồn thu từ lĩnh vực này ngày càng cao. Trớc kia, các ngân hàng th-
ờng chỉ quan tâm đến thu nhập từ lãi cho vay. Mặc dù hiện nay, thu từ lãi cho vay
vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập song các ngân đã ngày càng chú trọng hơn
đến việc tăng doanh thu từ các hoạt động dịch vụ. Đây là một chỉ tiêu tổng hợp mà
kết quả của nó phụ thuộc vào số lợng danh mục các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp,
6
giá cả dịch vụ, chất lợng dịch vụ, uy tín của ngân hàng.v.v Số l ợng các dịch vụ
ngân hàng càng nhiều thì ngân hàng càng có khả năng tăng doanh thu.
Giá cả dịch vụ cũng là một tiêu thức mà khách hàng dựa vào đó lựa chọn ngân
hàng cung cấp dịch vụ. Khách hàng có xu hớng chọn những ngân hàng có mức thu
phí dịch vụ hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lợng sản phẩm sao cho có lợi nhất cho họ.
Thực tế đặt ra cho các ngân hàng thơng mại là phải duy trì hai mục tiêu có tính trái
ngợc nhau (lợi nhuận cao và sức cạnh tranh về giá lớn). Nếu nh để đạt đợc mức giá
đem lại doanh thu cao thì lại ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Các
nhà quản lý ngân hàng có xu hớng định giá các sản phẩm dịch vụ dựa vào các yếu tố
nh chi phí đầu vào, chi phí quản lý và các chi phí khác. Giá cả thông thờng phải bù
đắp đủ chi phí, tuy nhiên trong quá trình thực hiện cá biệt có những sản phẩm mà
giá có thể ở mức thấp hơn chi phí của nó nhằm thu hút khách hàng sử dụng các dịch
vụ khác đem lại lợi ích tổng thể cao cho ngân hàng. Giá cả các sản phẩm dịch vụ
của ngân hàng còn đợc xem xét và cân đối với các đối thủ cạnh tranh nhằm tạo ra lợi
thế cạnh tranh về mặt giá cả. Cuối cùng, giá cả các dịch vụ ngân hàng còn chịu sự
chi phối của các chính sách vĩ mô của nhà nớc nh chính sách tỷ giá.v.v
Chất lợng của các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp có ảnh hởng đến
doanh thu hoạt động dịch vụ. Chất lợng dịch vụ có thể đợc đánh giá qua:

giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng.
1.3. Các nhân tố ảnh hởng đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng
1.3.1. Nhóm nhân tố chủ quan
Nguồn lực về tài chính
Mặc dù các dịch vụ ở đây không phải là những hoạt động cung ứng vốn song
vốn giữ một vai trò quan trọng. Để phát triển dịch vụ các ngân hàng cần có vốn để
mua sắm trang thiết bị, công nghệ, đào tạo nhân lực và mở rộng mạng lới hoạt động.
Nếu vốn nhỏ sẽ không đủ lực để đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ và nâng cao hiệu
quả của các dịch vụ sẵn có. Do vậy các ngân hàng cần phải xây dựng chiến lợc tăng
vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp, phù hợp với nhu cầu phát triển và khả
năng kiểm soát của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ.
Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thơng mại Việt Nam rất thấp, tổng vốn chủ
sở hữu chỉ hơn tỷ USD. Ngân hàng có vốn tự có lớn nhất (Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn) cũng chỉ có số vốn khoảng 290 triệu USD. Trong khi đó,
mức trung bình của các ngân hàng ở các nớc nh Thái Lan khoảng 813 triệu USD,
Singapore trên 1 tỷ USD, Ngân hàng HSBC 25,78 tỷ USD, City Bank (Mỹ) 21 tỷ
8
USD (IMF, 2006). Hơn thế nữa, vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của phần lớn các
ngân hàng thơng mại ở Việt Nam chỉ đạt mức gần 5% thấp hơn nhiều so với mức độ
tối thiểu 8% đợc quy định bởi Uỷ ban Balse về tỷ lệ an toàn tối thiểu. Chính bởi vậy,
việc mở rộng một số loại hình dịch vụ của các ngân hàng thơng mại Việt Nam còn
hạn chế, đặc biệt là những dịch vụ cần có sự đầu t vốn lớn.
Nguồn nhân lực
Yếu tố con ngời luôn đợc đánh giá cao, thậm chí là quan trọng nhất của mọi sự
thành công. Các ngân hàng muốn đa ra đợc những sản phẩm dịch vụ tốt, có chất l-
ợng cao cũng nh thu hút đợc khách hàng thì cần phải có trong tay một đội ngũ cán
bộ có năng lực. Năng lực ở đây thể hiện ở nhiều mặt: về chuyên môn nghiệp vụ thì
cần phải nắm vững, có kiến thức chuyên sâu, am hiểu các mặt nghiệp vụ. Đồng thời
các cán bộ ngân hàng cũng cần phải là những ngời năng động nhanh nhẹn, có tác
phong của con ngời trong thời đại mới. Bởi đây là sản phẩm dịch vụ nên công tác

hàng có thể phát triển đa dạng hơn các sản phẩm dịch vụ của mình. Do vậy, việc
ngân hàng đi tắt đón đầu các công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ tạo cơ hội để phát
triển dịch vụ ngân hàng.
Hoạt động Marketing ngân hàng
Các yếu tố cơ bản của hệ thống Marketing Ngân hàng là nghiên cứu thị trờng,
xây dựng và thực hiện trên cơ sở chiến lợc thị trờng. Ngày nay, khái niệm Marketing
trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm: làm sáng tỏ thị trờng hiện tại và xu hớng của nó
để cung ứng sản phẩm dịch vụ, lựa chọn những lĩnh vực có lợi hơn và xác định nhu
cầu của khách hàng tại những lĩnh vực đó để cung ứng sản phẩm; xây dựng mục tiêu
ngắn - dài hạn để phát triển và đa ra những dịch vụ mới. Marketing không chỉ tiến
hành thực hiện sản phẩm mà còn là chiến lợc và triết lý của mỗi ngân hàng, nó đòi
hỏi sự chuẩn bị công phu, phân tích thấu đáo và tích cực của tất cả các phòng ban từ
lãnh đạo đến nhân viên.
Nhiệm vụ của Marketing dịch vụ ngân hàng là xác định đợc các thị trờng dịch
vụ tiềm năng, lựa chọn thị trờng cụ thể và làm sáng tỏ nhu cầu của khách hàng và
quan trọng hơn cả là phải xây dựng đợc chơng trình đồng bộ và kế hoạch hoạt động
để đảm bảo thành công những mục tiêu chính của nó.
Nh vậy, Marketing ngân hàng có thể xem nh quá trình tìm kiếm thị trờng (hiện
tại và tơng lai) có lợi cho sản phẩm ngân hàng. Quá trình này giúp ngân hàng xây
dựng mục tiêu rõ ràng, con đờng hình thành, phơng pháp để thực hiện kế hoạch và
10
những phơng án để thành công.
Mục tiêu chiến lợc hoạt động ngân hàng
Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều có mục đích, tôn chỉ hoạt động của riêng
mình. Trong từng giai đoạn cụ thể, các tổ chức thờng đề ra những mục tiêu riêng.
Mục tiêu là đích cuối cùng mà tất cả của ngân hàng là phát triển đa dạng các loại
hình dịch vụ và tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ phải đạt ít nhất là 20% trên tổng
thu nhập ròng. Từ mục tiêu đó, các ngân hàng mới xây dựng một chiến lợc để đạt đ-
ợc các mục tiêu đã đề ra. Chiến lợc là đa ra những kế hoạch cụ thể, một chơng trình
hành động bao gồm việc sử dụng hữu hiệu các tiềm lực để đạt đợc các mục tiêu nhất

Nam còn có những hạn chế. Hiện cha có những văn bản pháp lý mang tính điều
chỉnh chung cho các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt trong các lĩnh vực thanh toán quốc
tế, ngân hàng điện tử. Một số quy định của pháp luật còn cha thống nhất, ảnh hởng
đến khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Mặt khác, các quy định về bảo vệ bí
mật thông tin cho ngời sử dụng dịch vụ ngân hàng cha đợc đảm bảo tính hiệu quả,
đồng thời pháp luật Việt Nam cha nâng cao khả năng đối phó với các hành vi vi
phạm, gian lận trong dịch vụ ngân hàng. Chính những điểm này, đã làm hạn chế
việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng và ảnh hởng sự phát triển dịch vụ ngân hàng nói
chung.
Môi trờng kinh tế
Một nền kinh tế phát triển là môi trờng thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt
động kinh doanh nói chung và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng nói riêng. Nền
kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có lãi, hoạt động sản
xuất kinh doanh đợc mở rộng nhờ đó mà thu nhập của ngời dân cũng tăng lên. Do
vậy, sẽ làm tăng cờng nhu cầu sử dụng các dịch vụ của ngân hàng nh dịch vụ thanh
toán, dịch vụ môi giới đầu t Ngân hàng sẽ không thể đẩy mạnh phát triển các dịch
vụ nếu nh các hoạt động kinh doanh nói chung diễn ra một cách trì trệ, kinh tế kém
phát triển. Vì thế sự phát triển ổn định của nền kinh tế, đời sống nhân dân đợc nâng
cao là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của dịch vụ ngân hàng.
Mặt khác, sự ổn định của tiền tệ cũng là một yếu tố quan trọng. Nếu nh đồng
tiền bị mất giá nền kinh tế khủng hoảng sẽ kìm hãm sự phát triển của dịch vụ ngân
hàng. Khi đó, doanh nghiệp có xu hớng hạn chế đầu t, ngời dân có xu hớng rút tiền
để tiêu dùng và mọi ngời không muốn sử dụng các phơng tiện thanh toán không
12
dùng tiền mặt trong trờng hợp này, nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng khác cũng bị
hạn chế.
Môi trờng chính trị - xã hội
Môi trờng chính trị - xã hội bao gồm các yếu tố nh chính trị, dân số, trình độ
dân trí, thu nhập Dịch vụ ngân hàng chỉ có thể phát triển trong một môi tr ờng
chính trị ổn định, không có nhiều biến động bất thờng. Có nh vậy, ngời dân và

dụng công nghệ hiện đại hóa ngân hàng song thực tế cho thấy trình độ công nghệ
các ngân hàng Việt Nam vẫn còn ở mức thấp. Do vậy, về lâu dài để phát triển dịch
vụ các ngân hàng thơng mại Việt Nam cần phải chú trọng hơn đến yếu tố công
nghệ.
Môi trờng cạnh tranh
Hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, các ngân hàng chịu sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt giữa các ngân hàng thơng mại trong nớc và với các ngân hàng nớc
ngoài. Hiện nay, ở Việt Nam cung cấp dịch vụ ngân hàng có 05 Ngân hàng Thơng
mại Nhà nớc, 01 Ngân hàng chính sách và xã hội, 37 Ngân hàng Thơng mại cổ
phần, 06 Ngân hàng liên doanh, 37 Chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, 09 Công ty tài
chính, 13 Công ty cho thuê tài chính, 01 Quỹ tín dụng Trung ơng, gần 900 Qũy tín
dụng nhân dân cơ sở và một số định chế tài chính khác. Do vậy để thu hút đợc
khách hàng và chiếm lĩnh đợc thị phần về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng các ngân
hàng phải chú trọng đến việc nâng cao chất lợng sản phẩm, phong cách phục vụ
khách hàng đó, các ngân hàng phải áp dụng các công nghệ hiện đại, phát triển các
sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng. Nhờ đó mà các dịch vụ ngân hàng ngày
càng đợc mở rộng và hoàn thiện.
14
Chơng 2
tHựC TRạNG HOạT ĐộNG DịCH Vụ NGÂN HàNG TạI NGÂN HàNG
NÔNG NGHIệP Và PHáT TRIểN NÔNG THÔN
Chi nhánh tây Hà Nội
2.1. Sơ lợc về lịch sử hình thành của Ngân hàng Nông nghiệp Tây
Hà Nội
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Tây Hà Nội (hay
còn gọi là Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội) là chi nhánh cấp 1 trực thuộc Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đợc thành lập theo quyết định
số 317359 DNNN. Trụ sở chính của chi nhánh ở số 115 Nguyễn Lơng Bằng, Ph-
ờng Nam Đồng, Quận Đống Đa, Hà Nội là nơi có nhiều tiềm năng phát triển
kinh tế. Lúc mới thành lập, Ngân hàng chỉ có 03 phòng giao dịch, đến năm 2004

Nông nghiệp Tây Hà Nội đã triển khai đợc 27 sản phẩm dịch vụ. Trong khi chỉ mới
ba năm về trớc, ngoài hoạt động tín dụng chỉ có khoảng trên dới mời sản phẩm dịch
vụ, tập trung chủ yếu là thanh toán trong nớc và thanh toán quốc tế. Gần đây, Ngân
hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội đã triển khai đợc thêm một số sản phẩm dịch vụ mới
nh: dịch vụ Phonebanking, dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union, dịch vụ thẻ,
dịch vụ thu hộ, chi hộ
Bảng 2.1.Các sản phẩm dịch vụ hiện có tại Ngân hàng Nông nghiệp Tây HN
TT
Tên sản phẩm
TT
Tên sản phẩm
I,
Thanh toán trong nớc
III
Bảo lãnh
1 Séc
IV
Dịch vụ thẻ
2
ủy nhiệm chi
1
Thẻ rút tiền từ máy ATM
3
ủy nhiệm thu
2 Thẻ ghi nợ
4 Hối phiếu 3 Thẻ tín dụng
5 Chuyển tiền mặt 4
Đại lý thanh toán thẻ quốc tế
6 Chuyển tiền điện tử
V Thu đổi ngoại tệ

cao song kết quả mang lại vẫn còn hạn chế, tỷ lệ thu phí thấp.
Bảng 2.2. Kết quả thu phí dịch vụ
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Tăng giảm
Số phí
Tỷ trọng Số phí Tỷ trọng Số tiền
%
Thanh toán trong nớc 2.620 20,0 3.374 25,8 754 28,8
Thanh toán quốc tế 5.872 44,9 5.183 39,6 -689 -11,7
Bảo lãnh 1.154 8,8 1.807 13,8 653 56,6
Thu đổi ngoại tệ 1.513 11,6 2.049 15,6 536 35,4
Thẻ 255 1,9 338 2,6 83 32,5
Dịch vụ ngân quỹ 14 0,1 26 0,2 12 85,7
Dịch vụ khác 1.653 12,7 318 2,4 -1.335 -80,7
Cộng 13.081 100 13.095 100 14 0,1
Nguồn:Báo cáo kết quả công tác của Tổ tiếp thị Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội
năm 2006, 2007.
Để thấy rõ hơn thực trạng hoạt động dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng Nông
nghiệp Tây Hà Nội, em xin đợc đi sâu phân tích từng dịch vụ cụ thể:
2.2.1. Dịch vụ thanh toán
2.2.1.1. Dịch vụ thanh toán quốc tế
17
Hoạt động thanh toán quốc tế là một trong những hoạt động dịch vụ quan
trọng, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng. Kết quả đạt đợc cụ thể qua các
năm nh sau:
Đối với thanh toán hàng nhập khẩu:
Bảng 2.3. Kết quả thanh toán hàng nhập khẩu
Đơn vị: Nghìn USD
TT

nhờ thu
Số món 474 427 -9,9% 346 -18,9%
Trị giá
17,359 11,546 -33,4% 16,890 46,3%
4
Thanh toán
TTR
Số món 1260 1615 28,1% 1682 4,1%
Trị giá
41,661 69,637 67,2% 55,520 -20,2%
Nguồn:Báo cáo công tác TTQT tại NHNN TÂY HN năm 2005, 2006, 2007.
18
Biểu đồ 2.1: Kết quả thanh toán hàng nhập khẩu
Đơn vị: Nghìn USD
Thanh toán hàng nhập khẩu là hoạt động thanh toán cơ bản trong thanh toán
quốc tế tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Tây Hà Nội. Chi
nhánh thực hiện đầy đủ các hình thức thanh toán nh L/C, thanh toán nhờ thu D/P,
nhờ thu D/A, thanh toán TTR trong đó thanh toán L/C chiếm tỷ trọng cao về trị giá
thanh toán.
Qua bảng số liệu trên, ta thấy kết quả hoạt động thanh toán hàng nhập khẩu
tại Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội năm 2006 đã có sự tăng trởng rõ rệt so với
năm 2005 đặc biệt đối với hình thức thanh toán L/C (tăng 13,6%) và thanh toán
TTR (tăng 67,2%). Sang năm 2007, kết quả đạt đợc thấp hơn so với năm 2006, chỉ
riêng thanh toán nhờ thu là tăng 46,3% còn lại các chỉ tiêu khác đều giảm. Một
trong những nguyên nhân là do kết quả của việc lựa chọn khách hàng trong đầu t tín
dụng. Một số khách hàng có lợng giao dịch thanh toán hàng nhập tơng đối lớn song
do không đáp ứng đủ các quy định về cho vay nên Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà
Nội đã từ chối cho vay dẫn đến việc họ chuyển sang thanh toán qua ngân hàng khác.
19
Đối với thanh toán hàng xuất:

Chuyển tiền đến
(TTR)
Số món 168 652 288,1% 408 -37,4%
Trị giá
8,432 19,680 133,4% 12,132 -38,3%
Nguồn:Báo cáo công tác TTQT tại NHNN TÂY HN năm 2005, 2006, 2007.
Biểu đồ 2.2: Kết quả thanh toán hàng xuất
Đơn vị: Nghìn USD
Thanh toán hàng xuất còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu thanh toán quốc tế
tại Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội cả về doanh số thanh toán và số món thực
hiện. Kết quả đạt đợc năm 2007 đều thấp hơn so với năm trớc.
Nh vậy, phần lớn khách hàng có quan hệ thanh toán quốc tế với Ngân hàng
20
Nông nghiệp Tây Hà Nội là các doanh nghiệp nhập khẩu, các đơn vị xuất khẩu còn
quá ít. Điều này dẫn đến tình trạng, đôi lúc nguồn thu ngoại tệ từ hàng xuất không
đủ để đáp ứng nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán hàng nhập của khách hàng. Do vậy,
mất cân bằng về cung cầu ngoại tệ vẫn xảy ra và đây là một trong những khó khăn
trong công tác thanh toán quốc tế tại chi nhánh.
Tuy nhiên, chi nhánh luôn chú trọng đến việc phát triển hoạt động thanh toán
quốc tế. Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội đã có quan hệ với 890 ngân
hàng tại 110 quốc gia. Đây là một con số cho thấy mạng lới đại lý thanh toán tại các
nớc tơng đối rộng.
Về đối tợng khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội đã có sự
chuyển hớng trong việc lựa chọn khách hàng thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế.
Bên cạnh các khách hàng truyền thống là các doanh nghiệp Nhà nớc, các đơn vị
xuất nhập khẩu thuộc các Tổng công ty lớn và các đơn vị có quan hệ tín dụng với
chi nhánh, Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội nay cũng chú trọng hơn đến các
khách hàng vãng lai, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cả các cá nhân.
Đặc biệt, dịch vụ chuyển tiền phi thơng mại gần đây rất phát triển. Đây là
dịch vụ chuyển tiền ra nớc ngoài nhằm phục vụ các mục đích nh chữa bệnh, học tập,

Tổng số phí thu đợc từ hoạt động thanh toán quốc tế năm 2006 đạt 378,188
USD và năm 2007 là 325,718 USD (giảm 14%).
2.2.1.2. Dịch vụ thanh toán trong nớc
Thanh toán nội địa cũng đem lại nguồn thu phí dịch vụ đáng kể cho Ngân
hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội. Thực hiện tốt dịch vụ này giữ một vai trò khá quan
trọng bởi nó có ảnh hởng rõ rệt đến các hoạt động nghiệp vụ khác nh huy động tiền
gửi, cho vay và các dịch vụ khác đi kèm. Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà
Nội thực hiện nhiều hình thức thanh toán khác nhau nhng chủ yếu là chuyển tiền
điện tử, thanh toán liên ngân hàng và thanh toán song phơng. Đặc biệt là hình thức
thanh toán chuyển tiền điện tử gần đây phát triển rất mạnh. Với lợi thế của hệ thống
Ngân hàng Nông nghiệp là có màng lới rộng khắp các tỉnh thành trong cả nớc và là
22
NHTM duy nhất có chi nhánh đến tận cấp xã, thôn nên nhiều khách hàng đã lựa
chọn chuyển tiền qua Ngân hàng Nông nghiệp. Trong khi đó Ngân hàng Nông
nghiệp Tây Hà Nội lại cũng có màng lới trải rộng các quận nội thành với 04 chi
nhánh cấp 2 và 06 phòng giao dịch trực thuộc nên rất thuật lợi cho công tác phát
triển dịch vụ thanh toán nội địa.
Tốc độ thanh toán của khách hàng qua Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội
cũng đợc đẩy mạnh. Kể từ khi thực hiện chơng trình hiện đại hóa ngân hàng
-KoreBank thì những món chuyển tiền trong cùng hệ thống Ngân hàng Nông
nghiệp vào Thành phố Hồ Chí Minh hay các tỉnh phía Nam cũng chỉ trong thời
gian một vài tiếng là khách hàng đã có thể nhận đợc tiền. Với khối lợng giao dịch
bình quân trên 1800 chứng từ/ ngày (chỉ tính riêng tại Hội sở ngân hàng) đòi hỏi
cán bộ công tác kế toán thanh toán phải nỗ lực hết mình, không quản ngại gian
khó để đáp ứng yêu cầu thanh toán nhanh chóng, kịp thời, chính xác và an toàn tài
sản của khách hàng. Chính vì vậy đã thu hút đợc một lợng khách hàng tơng đối lớn
đến mở tài khoản thanh toán, chuyển tiền nhằm tạo nguồn tiền gửi cũng nh tăng thu
phí dịch vụ.
Riêng tại Hội sở của Ngân hàng Nông nghiệp Tây Hà Nội trong năm 2007,
tổng số món thanh toán đi là 130.249 món với doanh số 39,930 tỷ đồng tăng 21% so

Năm
2006
Tăng
trởng
2006 so
với
2005
Năm 2007
Tăng
trởng
2007 so
với
2006
1 Doanh số Bảo lãnh 897.642 1.967.527 63,4% 2.994.459 101,1%
2
Số d bảo lãnh cuối năm 93.807 156.438 66,7% 286.198 82,9%
Trong đó: DN quốc doanh
91.825 111.687 21,6% 148.194 32,6%
Các thành phần KT khác
1.982 44.751 125,7% 138.004 208,3%
3 Thu phí bảo lãnh 762 1.126 47,7% 1.678 49,1%
Nguồn:Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh NHNN TÂY HN năm 2005, 2006, 2007.
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy hoạt động dịch vụ bảo lãnh có sự tăng tr-
ởng mạnh trong mấy năm gần đây. Doanh số bảo lãnh và số d bảo lãnh qua các năm
đều tăng cao. Nếu nh năm 2005, doanh số bảo lãnh trong năm của toàn Ngân hàng
24
Nông nghiệp Tây Hà Nội chỉ đạt có 897.642 triệu đồng thì đến năm 2007 đã lên tới
2.994.459 triệu đồng tăng 233,6% so với năm 2005.
Về cơ cấu các món bảo lãnh cũng có sự thay đổi. Bảo lãnh cho các doanh
nghiệp quốc doanh năm 2005 chiếm tới 97,8% số d bảo lãnh cuối năm thì tỷ lệ này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status