NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DANH MỤC
CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
Họ và tên sinh viên
Lớp
Khóa
Khoa
: PHẠM NGỌC ANH
: NHTMB - K13
: 2010 - 2014
: Ngân hàng
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Hoài Thu, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo
tôi trong suốt thời gian làm khóa luận.
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Ngân
hàng cùng toàn thể thầy, cô của các khoa khác đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
bổ ích và quý báu trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ, động viên và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Phạm Ngọc Anh
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
Ký tự
CBTD
Ý nghĩa
Cán bộ tín dụng
CIC
Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước
DN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
7
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, ngân hàng Việt Nam không chỉ là một kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho
nền kinh tế mà còn góp phần lớn trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng
tiền. Khi tham gia sâu vào hội nhập, cạnh tranh đã thực sự là động lực to lớn cho cải
cách, đổi mới mạnh mẽ trong hoạt động ngân hàng. Để tối đa hóa khả năng sinh lời,
các NHTM Việt Nam đã đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới. Nhưng hầu như các
nghiệp vụ của ngân hàng đều tiềm ẩn rủi ro. Trong đó, hoạt động cho vay là hoạt động
tiềm ẩn rủi ro chủ yếu. Vì hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, là
hoạt động truyền thống, có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng.
Trong thời gian gần đây, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trên tổng dư nợ của các
NHTM Việt Nam là một con số không nhỏ. Mà nợ quá hạn là thước đo quan trọng
nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế. Nó tác động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động
chính của ngân hàng. Rủi ro tín dụng cao làm ngân hàng giảm lợi nhuận và có thể dẫn
tới phá sản. Trong khi đó, nhiều ngân hàng tỷ lệ nợ xấu còn vượt quá tỷ lệ cho phép theo
quy định của NHNN, cho vay tập trung vào một nhóm khách hàng; không có sự đa dạng
thời hạn xác định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi khi đáo hạn.
Nền kinh tế thị trường càng phát triển, đời sống xã hội càng cải thiện thì nhu
cầu khách hàng càng phong phú. Theo thời gian bản thân hoạt động cho vay ngày càng
mở rộng và đa dạng về hình thái giá trị, về thời hạn, về lãi suất, về phương thức thực
hiện. Mặc dù tỷ trọng hoạt động cho vay đang có xu hướng giảm trên thị trường tài
chính nhưng cho vay vẫn là hoạt động đem lại lợi nhuận quan trọng nhất cho ngân
hàng, tạo ra trên 2/3 tổng nguồn thu nhập của ngân hàng.
1.1.2. Danh mục cho vay:
1.1.2.1. Khái niệm:
Danh mục (Portfolio) là tập hợp những tài sản thuộc sở hữu của một tổ chức
hoặc của một người và được quản lý chung nhằm đến các mục tiêu đầu tư cụ thể [8].
Như vậy, có thể hiểu thuật ngữ danh mục cho vay như sau:
Danh mục cho vay là tập hợp của các khoản vay mà ngân hàng cung ứng tại
một thời điểm; được sắp xếp, phân loại theo những tiêu chí nhất định, phục vụ cho các
mục đích quản trị của ngân hàng. Các tiêu chí này, có thể là: thời hạn khoản vay, đối
tượng khách hàng, hình thức bảo đảm tiền vay, mục đích sử dụng vốn, khu vực địa lý,
chất lượng khoản vay…
Kinh tế xã hội càng phát triển, cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng gay gắt hơn.
Vì thế nhiều sản phẩm cho vay mới ra đời đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các sản
phẩm giữa các ngân hàng cũng khác nhau, hơn nữa, do đặc thù, mục tiêu, chính sách
tín dụng của từng ngân hàng mà danh mục cho vay của các ngân hàng cũng không
giống nhau. Ví dụ, khi nói đến Ngân hàng Ngoại thương thì đặc trưng danh mục cho
vay sẽ là tài trợ ngoại thương, cho các DN xuất nhập khẩu vay là chủ yếu; khi nói đến
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì đặc trưng danh mục cho vay sẽ là
hộ nông dân là chủ yếu [7].
10
Danh mục cho vay có ý nghĩa là công cụ để nhà quản trị định hướng cho hoạt
Theo thời hạn, cho vay được chia làm ba loại như sau:
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn từ một năm trở xuống. Cho vay
ngắn hạn thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời
của các DN và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 (hoặc 7)
năm. Loại cho vay này thường được sử dụng để tài trợ cho mục đích mua sắm tài sản
11
cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh, xây
dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 (hoặc 7) năm, nhằm mục đích
đầu tư hình thành mới tài sản cố định, xây dựng các dự án lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
Căn cứ vào ngành kinh tế:
Trong nền kinh tế, các chủ thể cần vốn hoạt động ở rất nhiều lĩnh vực khác
nhau như lĩnh vực xuất khẩu, nông nghiệp, bất động sản, đóng tàu... Danh mục cho
vay theo ngành kinh tế hình thành một định hướng cần thiết cho quá trình đầu tư tín
dụng của ngân hàng. Những ngành nào cần tập trung mở rộng, những ngành nào cần
tiết giảm ... sẽ được thể hiện thông qua tỷ trọng xác định của từng ngành trong tổng thể
dư nợ của danh mục. Danh mục cho vay theo ngành kinh tế bộc lộ rõ quan điểm của
ngân hàng: tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên chuyên môn hóa hay là đa dạng hóa cho
vay. Danh mục cho vay theo tiêu thức này có ý nghĩa rất lớn đối với các NHTM, kể cả
trong khâu hoạch định kế hoạch cũng như trong tổ chức thực hiện.
Căn cứ vào khu vực địa lý:
Phân loại khách hàng theo khu vực địa bàn hoạt động như miền Bắc, miền
Trung, miền Nam. Mỗi địa bàn có những đặc thù và cơ hội kinh doanh riêng.
Việc xây dựng tỷ trọng khoản mục cho vay theo khu vực địa lý thể hiện quan
điểm của ngân hàng trong việc hình thành thị trường mục tiêu, phù hợp với điều kiện
về cơ sở vật chất, mạng lưới hoạt động cũng như năng lực kiểm soát của đội ngũ nhân
đều tiềm ẩn một mức độ nhất định của yếu tố không chắc chắn. Do vậy, tất cả các giao
dịch, hoạt động mà ngân hàng thực hiện đều góp phần hình thành nên rủi ro tổng thể
của ngân hàng.
Rủi ro danh mục cho vay là sự kết hợp các khoản cho vay trong danh mục không
đáp ứng được toàn bộ mục tiêu của danh mục về mức độ an toàn và hiệu quả. Rủi ro
danh mục cho vay đượcBiểu
phân đồ
chia
làm
hai trúc
loại là
cá biệt
và rủi
hệ thống.
1.1.
Cấu
rủirủirorodanh
mục
chorovay
Rủi ro danh mục
Rủi ro cá biệt
Rủi ro nội tại
Rủi ro hệ thống
Rủi ro tập trung
Rủi ro cá biệt là rủi ro có nguồn gốc từ khoản cho vay riêng biệt, cụ thể thuộc một
THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm quản lý danh mục cho vay
Trong hoạt động cho vay của ngân hàng, công tác quản lý danh mục mới được
ứng dụng trong khoảng vài thập niên gần đây. Ủy ban Basel nhận định một trong
những nguyên nhân chính yếu của những bất cập trong hoạt động cho vay là kỹ năng
quản trị yếu kém, nhất là quản lý rủi ro tập trung. Đây là một trong các nội dung quan
trọng của công tác quản lý danh mục cho vay tại NHTM.
Quản lý danh mục cho vay là tập hợp các công việc liên quan đến phân tích tất
cả các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của việc lựa chọn các khoản mục
trong danh mục cho vay để tạo ra một danh mục phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân
hàng [13].
Như vậy có thể hiểu quản lý danh mục cho vay là sự tác động có chủ đích của
ngân hàng lên danh mục cho vay nhằm sử dụng và kiểm soát có hiệu quả nhất các
khoản cho vay trong danh mục cho vay để đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân
hàng từ những khoản mục này. Đối tượng bị quản lý ở đây chính là những khoản cho
vay trong danh mục và toàn bộ danh mục cho vay, chủ thể quản lý chính là nhà quản
lý ngân hàng.
Hoạt động quản lý danh mục cho vay không chỉ đánh giá rủi ro của một khoản
vay riêng lẻ mà phải kiểm soát được rủi ro tập trung, nhằm giảm thiểu tổn thất, tối đa
hóa lợi nhuận ở góc độ toàn danh mục. Qua đó thiết lập một danh mục cho vay phù
14
hợp nhất, thực hiện các biện pháp tái kết cấu lại danh mục hoặc chuyển dịch cơ cấu
cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
1.2.2. Ý nghĩa của hoạt động quản lý danh mục cho vay
Quản lý danh mục cho vay có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát rủi ro,
đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
trước được. Danh mục cho vay biến thành một tập hợp các giao dịch (quyết định) đặc
15
biệt với mức rủi ro có thể rất cao [8].
Đặc trưng của danh mục được quản lý ngẫu nhiên:
- Ngân hàng không tác động chủ động đến tỷ trọng các khoản vay theo khoản
mục mà hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu thị trường.
- Hoạt động cho vay có thể tập trung nhiều vào một lĩnh vực, khách hàng, địa bàn.
- Việc định giá và cơ cấu kém.
Ngân hàng áp dụng phương pháp này là tương đối phổ biến ở các nước đang
phát triển, các nước nhỏ, các nước có nền kinh tế chủ yếu dựa vào một vài ngành sản
xuất kinh doanh đặc thù nào đó, như nông nghiệp, xuất khẩu... mức độ hội nhập của
nền kinh tế thấp, ít chịu biến động bởi môi trường quốc tế. Trong thời kỳ kinh tế ổn
định, những hạn chế của phương pháp quản trị thụ động không được bộc lộ rõ nét. Tuy
vậy, nếu nền kinh tế biến động theo chiều hướnrg bất lợi, những ngành nghề, lĩnh vực
mà ngân hàng tập trung cho vay có dấu hiệu giảm sút hoạt động thì nguy cơ ngân hàng
gặp rủi ro tập trung tín dụng là không hề nhỏ.
1.2.3.2. Phương pháp quản lý danh mục theo kế hoạch (chủ động)
Định hướng tín dụng, các chỉ tiêu, các giới hạn cho vay được xác định trước
trong chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Mỗi khoản vay, ngoài việc đáp ứng các
yêu cầu chung, còn phải đáp ứng các yêu cầu giới hạn tín dụng định trước đối với từng
địa bàn, ngành, loại hình, nhóm khách hàng... Theo phương pháp quản lý này, mặc dù
ngân hàng không thể tác động làm thay đổi nhu cầu vay của từng khách hàng, từng
giao dịch cụ thể, nhưng hoàn toàn có thể thiết kế được một danh mục cho vay mà rủi
ro trên danh mục được kiểm soát thông qua tỷ trọng dự kiến của các loại tài sản cho
vay. Đó chính là danh mục tối ưu, là tiền đề để ngân hàng thực hiện tốt mục tiêu kinh
doanh đã hoạch định.
Đặc trưng của danh mục thuộc quản lý theo kế hoạch:
Bên cạnh đó, một mục tiêu đặc trưng khác mà quản lý danh mục cho vay cần
thiết phải hướng tới đó là giới hạn tổn thất của toàn danh mục trong khả năng chịu
đựng của mỗi ngân hàng. Mức tổn thất dự kiến phù hợp với khả năng chịu đựng bằng
vốn tự có của ngân hàng được gọi là tổn thất mục tiêu. Con số này phải được xác định
ngay từ khi hoạch định mục tiêu quản trị danh mục cho vay của ngân hàng, bên cạnh
con số mục tiêu về lợi nhuận.
1.2.4.3. Xây dựng chính sách quản lý danh mục cho vay
Để đạt mục tiêu quản lý danh mục cho vay, ngân hàng cần thiết phải xây dựng
các chính sách có vai trò đảm bảo tính thống nhất trong toàn bộ tổ chức, tạo cơ sở cho
17
việc điều hành kinh doanh một cách chủ động và hướng dẫn các bộ phận trong việc
thực thi công việc.
Các chính sách phải do Ban điều hành soạn thảo và được Hội đồng quản trị
ngân hàng thông qua. Chính sách được hiểu là hệ thống các văn bản mang tính pháp
quy của ngân hàng, có ý nghĩa “dẫn đường” trong tổ chức thực hiện danh mục cho
vay… Nói cách khác, chính sách chỉ ra cách thức để ngân hàng với các nguồn lực hiện
tại, đạt tới mục tiêu là một danh mục cho vay tối ưu trong tương lai.
Chính vì vậy việc xây dựng một chính sách hợp lý có vai trò hết sức quan trọng
trong việc quản lý hiệu quả danh mục cho vay. Các chính sách quản lý danh mục bao gồm:
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng là chính sách do Hội đồng quản trị ban
hành, được thiết kế nhằm hướng dẫn và/hoặc kiểm tra định hướng và hoạt động của tổ
chức cho vay. Chính sách tín dụng cung cấp cho CBTD và nhà quản lý một khung chỉ
dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục cho vay.
Một chính sách tín dụng tốt bao gồm những nội dung sau:
- Thể hiện rõ tiêu chuẩn của danh mục cho vay.
- Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với từng CBTD và ban thẩm định
DPRR cho từng khoản vay theo nguyên tắc được phép xác định giá trị tài sản bảo đảm
để khấu trừ ra khỏi số tiền được trích lập với tỷ lệ trích lập tương ứng với các nhóm
nợ. Việc trích lập DPRR nhằm mục đích giúp các ngân hàng chủ động đối phó với các
tổn thất dự kiến.
1.2.4.4. Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng
Xếp hạng tín dụng được thực hiện để đánh giá khả năng trả nợ của các khoản
vay. Hệ thống xếp hạng tín dụng đưa ra kết quả xếp hạng của từng khách hàng, phản
ánh khả năng vỡ nợ của chính khách hàng đó. Từ đó, xác định được chất lượng tín
dụng và mức độ rủi ro trong từng loại sản phẩm, lĩnh vực, ngành nghề cũng như từng
nhóm đối tượng khách hàng. Đây là cơ sở để đánh giá chất lượng cũng như thiết kế
danh mục cho vay tối ưu.
Ủy ban Basel đưa ra hai hệ thống xếp hạng tín dụng là (i) xếp hạng nội bộ cơ
bản và (ii) xếp hạng nội bộ cao cấp [9].
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cơ bản
Mỗi ngân hàng xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để đo lường khả
năng vỡ nợ của mỗi khách hàng, tổn thất dự kiến được quyết định bởi bộ phận hoặc cơ
quan giám sát, cơ quan giám sát đưa ra các tiêu thức xác định các khoản nợ có vấn đề.
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cao cấp
Mỗi ngân hàng xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để đo lường
khả năng vỡ nợ của mỗi khách hàng, tổn thất dự kiến do ngân hàng quyết định, ngân
hàng đưa ra cách thức xác định các khoản nợ có vấn đề.
1.2.4.5. Đo lường rủi ro danh mục cho vay
Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng
Đo lường rủi ro tín dụng của danh mục cho vay dựa trên các chỉ số rủi ro cơ
bản như sau:
- Tình hình nợ quá hạn
19
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro
tín dụng
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro tín dụng phản ánh khả năng bù đắp của ngân hàng
20
đối với các khoản nợ có rủi ro cao - mà ngân hàng đã xác định không có khả năng thu
hồi, đây là chỉ tiêu quan trọng giúp ngân hàng nhận biết và duy trì khả năng chống đỡ
của ngân hàng. Một khi ngân hàng không đảm bảo được cho điều này thì ngân hàng đó
sẽ đứng trước nguy cơ phá sản.
Các chỉ tiêu trên đều phản ánh khả năng bù đắp thiệt hại của ngân hàng trước
những rủi ro đã gặp và có thể gặp phải. Các chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng
chống đỡ rủi ro tín dụng của ngân hàng càng tốt, đảm bảo sự vận hành liên tục của
ngân hàng dù ngân hàng có bị thất thoát vốn. Song nếu số tiền để dự phòng cao thì chi
phí cho hoạt động của ngân hàng lớn, lợi nhuận thu được sẽ giảm đi. Vì vậy, vấn đề
đặt ra đối với nhà quản trị là xác định dự phòng bao nhiêu là đủ để có thể bù đắp thiệt
hại cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra với danh mục của mình, đồng thời vốn kinh tế và
chi phí cho việc trích lập dự phòng là thấp nhất mà vẫn đảm bảo cho ngân hàng hoạt
động an toàn.
Các mô hình đo lường rủi ro của danh mục cho vay
Trên thế giới hiện có nhiều loại mô hình đo lường rủi ro do các ngân hàng, tổ
chức tài chính áp dụng. Việc định lượng chính xác mức tổn thất trên danh mục cho
vay, sẽ giúp ban điều hành tìm biện pháp điều chỉnh cơ cấu danh mục, đảm bảo tổn
thất không vượt quá khả năng giới hạn của ngân hàng.
-
Đo lường rủi ro khoản vay riêng lẻ
theo cách này được gọi là VaR tuyệt đối. Tuy nhiên nhằm mục đích xác định vốn kinh
tế mà ngân hàng cần nắm giữ, VaR thường được xác định bằng chênh lệch giữa tổn
thất ngoài dự tính và tổn thất dự tính, trong đó tổn thất dự tính và tổn thất ngoài dự
tính được xác định từ phân phối tổn thất trong tương lai của ngân hàng.
Mặc dù các ngân hàng ở các nước phát triển đều áp dụng những mô hình đo
lường rủi ro tín dụng khác nhau phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng, các
mô hình đo lường VaR tín dụng hiện nay đều dựa trên bốn nhóm mô hình chính:
CreditMetrics của JP Morgan, PortfolioManager của KMV, CreditRisk+ của Credit
22
Suisse và CreditPortfolioView của McKinsey [3].
Mỗi một mô hình có cách tiếp cận khác nhau để tính toán các yếu tố đầu vào để
xác định VaR của danh mục cho vay. Không thể có mô hình hoàn toàn phù hợp với tất
cả mọi ngân hàng mà căn cứ vào đặc điểm riêng của mình mà nhà quản trị ngân hàng
sẽ quyết định nên áp dụng mô hình nào.
1.2.4.6. Giám sát thực hiện danh mục cho vay
Quá trình giám sát danh mục cho vay được thực hiện thường xuyên tại cơ sở và
do bộ phận quản lý rủi ro thực hiện, sau đó trình lên ban điều hành, để từ đó có các
quyết sách hợp lý, đúng thời điểm. Giám sát danh mục cho vay được thực hiện khi
danh mục cho vay thực tế đã hình thành.
Giám sát danh mục có các ý nghĩa sau:
Một là nhằm phát hiện kịp thời những khách hàng xin vay vượt quá tỷ trọng của
loại tài sản cho vay đã được xây dựng, có biện pháp loại bỏ những khoản vay đó mà
không ảnh hưởng đến mối quan hệ của ngân hàng đối với khách hàng xin vay. Mặt
khác, giám sát cũng nhằm phát hiện kịp thời những dấu hiệu cảnh báo của một danh
mục cho vay có mức độ rủi ro cao, tạo điều kiện cho nhà quản trị nhận định đúng về
chất lượng tổng thể danh mục cho vay, từ đó có các biện pháp điều chỉnh thích hợp.
Mục tiêu của các điều chỉnh này là giảm thiểu rủi ro tập trung, thay đổi cơ cấu danh
hết sức quan trọng và cần thiết đối với ngân hàng. Để điều chỉnh danh mục các ngân
hàng có thể áp dụng hướng điều chỉnh nội bảng hoặc là điều chỉnh ngoại bảng.
Điều chỉnh nội bảng
Trong hướng điều chỉnh nội bảng, ngân hàng sẽ tác động trực tiếp lên quy mô
hoặc cơ cấu danh mục cho vay của ngân hàng. Chẳng hạn để cải thiện cơ cấu danh
mục và cân bằng rủi ro trên phạm vi toàn danh mục thì sử dụng biện pháp như: tích
cực thu hồi nợ của các ngành, khu vực mà dư nợ đang có chiều hướng tập trung rủi ro
cao, tăng dư nợ cho vay các khu vực còn tiềm năng; còn nếu muốn trực tiếp thay đổi
cơ cấu danh mục thì thực hiện mua bán nợ… Ngoài các biện pháp điều chỉnh trực tiếp
trên danh mục như trên, ngân hàng cũng có thể gia tăng khả năng chống đỡ rủi ro danh
mục bằng cách tăng vốn tự có để tăng khả năng chịu đựng rủi ro, tăng trích lập DPRR.
Mặc dù các biện pháp điều chỉnh nội bảng được xem là khá đơn giản về mặt kỹ thuật,
tuy nhiên một số biện pháp này thường có độ trễ về thời gian, tính khả thi không cao
hoặc là gây ảnh hưởng đến quan hệ với khách hàng.
Điều chỉnh ngoại bảng
Điều chỉnh ngoại bảng không can thiệp vào quy mô, cơ cấu của danh mục cho
vay mà chủ yếu làm giảm độ rủi ro tập trung trên danh mục. Những kỹ thuật hiện đại
mà các NHTM sử dụng để điều chỉnh cơ cấu danh mục bao gồm hoán đổi rủi ro tín
dụng, chứng khoán hóa các khoản nợ… Phần lớn trong số các công cụ này xuất hiện
khá muộn (từ đầu thập niên 80 đối với chứng khoán hóa nợ; trong những năm 90 đối
với hoán đổi rủi ro tín dụng) và phát triển mạnh từ sau những năm 2000, vì vậy chúng
được xem là những công cụ hiện đại tham gia vào điều chỉnh danh mục, để phân biệt
với các công cụ truyền thống như mua bán nợ (xuất hiện từ cuối thập niên 60).
Xu hướng phổ biến của các ngân hàng hiện đại là sử dụng phối hợp cả biện
pháp ngoại bảng với các biện pháp nội bảng, để tận dụng các ưu, nhược điểm của mỗi
loại bổ sung cho nhau. Phần 1.2.5 tiếp sau đây sẽ đi sâu vào đặc tính của các công cụ
này và sự vận dụng chúng trong quản lý danh mục cho vay của NHTM.
24
Nguồn: [1]
25
Do các khoản cho vay được chuyển ra khỏi bảng cân đối tài sản của ngân hàng
cho vay ban đầu, nên sẽ làm giải phóng một lượng vốn của ngân hàng khởi tạo. Điều
này cũng cho phép ngân hàng sử dụng nguồn quỹ mới được giải phóng để tài trợ cho
những ngành nghề, khu vực kinh doanh có lợi nhuận cao, phát triển những dòng sản
phẩm mới nhằm đa dạng hóa danh mục. Hơn thế nữa rủi ro không hoàn trả của những
khoản cho vay sẽ được chuyển sang cho các nhà đầu tư, từ đó giảm thiểu rủi ro tập
trung trên danh mục cho vay của ngân hàng.
Tóm lại, sử dụng công cụ chứng khoán hóa các khoản nợ có ý nghĩa khác nhau
đối với các loại hình định chế tài chính. Đối với ngân hàng khởi tạo, chứng khoán hóa
sẽ đem đến cho ngân hàng một trong những lợi ích như: chuyển giao và phân tán rủi
ro; khai thác được nguồn vốn mới, quay vòng vốn; giảm yêu cầu về vốn pháp lý; gia
tăng nguồn quỹ; giảm thấp chi phí và cuối cùng là nâng cao các hệ số phản ánh năng
lực tài chính của ngân hàng. Xét ở góc độ quản lý danh mục cho vay, chứng khoán hóa
là biện pháp tái cấu trúc lại khoản nợ, giảm rủi ro tập trung trên danh mục cho vay của
ngân hàng.
1.2.5.3. Phái sinh tín dụng
Phái sinh tín dụng là công cụ cung cấp cho những nhà kinh doanh hoặc bảo
hiểm rủi ro tín dụng bằng việc cô lập rủi ro tín dụng từ những giao dịch cơ bản.
Hiệp định Basel quy định mức vốn an toàn tối thiểu để bù đắp rủi ro tín dụng
nên ngân hàng cần một giải pháp bảo hiểm rủi ro tín dụng qua đó giảm thiểu nhu cầu
vốn mà không phải bán các danh mục tài sản của mình. Phái sinh tín dụng chính là
công cụ giúp ngân hàng mua, bán rủi ro tín dụng mà không cần chuyển giao danh mục
tài sản. Trong số các loại phái sinh tín dụng, công cụ được sử dụng nhiều nhất trong
quản lý danh mục cho vay là hoán đổi tín dụng (Credit Swaps) và quyền chọn tín dụng
(Credit Options).