BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN ĐÌNH QUYẾT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN
LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THỌ
XUÂN TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC HỢI
Nghệ An 2013
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học
Vinh và quá trình công tác của bản thân tại Trường THPT Lê Lợi, huyện
Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa trong các năm qua.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy
cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá 19 chuyên ngành Quản lý
giáo dục, đến Phòng đào tạo sau đại học, Khoa giáo dục của Trường Đại
học Vinh, , lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, tất cả cán bộ
quản lý và các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Tin học của 06 trường trung
học phổ thông huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã tận tình giúp đỡ, tạo
điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài luận văn
này.
: Công nghệ Thông tin
CSVC
: Cơ sở vật chất
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
KH-CN : Khoa học - công nghệ
KT-XH : Kinh tế - xã hội
SGK
: Sách giáo khoa
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UBND : Uỷ ban nhân dân
GVBM: Giáo viên bộ môn
GVCN: Giáo viên chủ nhiệm
HĐDH: Hoạt động dạy học
QTDH: Quá trình dạy học
BGH: Ban giám hiệu
TBDH: Thiết bị dạy học
Biểu đồ 2.1 Học sinh tự đánh giá về tính tự giác và ý thức học tin học…...…51
Biểu đồ 2.2 Học sinh tự đánh giá về tính tự giác làm bài tập môn Tin học …51
Bảng 2.19 Đánh giá của cán bộ quản lý ………………………………...….52
Bảng 2.20 Đánh giá của giáo viên………………………………………….53
Bảng 2.21 Học sinh tự đánh giá về trình độ tin học………………………...54
Bảng 2.22 Học sinh tự đánh giá về mức độ hứng thú học tin học …………55
Biểu đồ 2.3 Học sinh tự đánh giá về mức độ hứng thú đối với môn học …...55
Bảng 2.23 Đánh giá về mức độ hứng thú của học sinh…………………….56
Biểu đồ 2.4 CBQL,GV đánh giá mức độ hứng thú của HS về môn Tin học ..56
Bảng 2.24 Ý kiến của giáo viên về công tác quản lý giảng dạy…………….57
Bảng 2.25 Ý kiến của giáo viên về cải tiến công tác quản lý giảng dạy….…59
Bảng 2.26 Ý kiến của học sinh về ích lợi học tin học …………….……...…61
Bảng 2.27 Ý kiến của học sinh về mức độ nhờ thầy/cô hướng dẫn bài…..…63
Bảng 2.28 Khảo sát điểm bài thi tin học gần nhất………………………..…70
Bảng 3.1 Kết quả thăm dò về mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp 91
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Có thể nói rằng, một trong những thành công lớn nhất của nhân loại về
khoa học - công nghệ trong những năm cuối của thế kỷ XX là tin học, công
nghệ thông tin và truyền thông. Những ứng dụng của công nghệ thông tin và
truyền thông đã len lỏi vào mọi khía cạnh của cuộc sống và tin học đã giúp
con người học hỏi được nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá, giáo dục, khoa
học công nghệ, kỹ thuật, kinh tế thị trường, chuẩn bị hành trang trong xu thế
hội nhập thế giới và tiếp cận nền kinh tế tri thức. Tin học giúp con người học
triển KT-XH, trong đó mục tiêu tổng quát: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Để đạt mục tiêu đó thì
giáo dục và công nghệ đóng vai trò quyết định: “Giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước." [24].
Thực hiện chủ trương trên, ngành giáo dục – đào tạo tỉnh Thanh Hóa,
trong năm học 2006-2007 đã triển khai dạy tin học cho tất cả các trường trung
học phổ thông trên phạm vi toàn tỉnh.
Thời gian qua, đội ngũ giáo viên tin học ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa đã từng bước phát triển về số lượng, đảm bảo ổn định chất lượng nhưng
qua thực tế giảng dạy cho thấy, do bộ môn Tin học còn mới mẻ so với những
bộ môn khác nên kết cấu nội dung chương trình còn chưa phù hợp với nhịp
độ phát triển chung của tin học, giáo trình giảng dạy chưa đồng bộ, việc cập
nhật kiến thức cho giáo viên chưa được chú trọng. Bên cạnh đó, công tác
quản lý việc giảng dạy, quản lý cơ sở vật chất, quản lý học sinh, vấn đề cung
cấp trang thiết bị, chế độ cho giáo viên chưa được quan tâm đúng mức dẫn
đến hiệu quả việc giảng dạy tin học trong nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu
của ngành giáo dục nói riêng và của xã hội nói chung.
3
Giáo dục THPT ở huyện Thọ Xuân trong những năm qua đã thu được
những thành tích đáng kể, nhưng hiện nay đang đứng trước sự thay đổi lớn về
thế hệ đội ngũ giáo viên, về cải cách chương trình, làm cho cả giáo viên và
học sinh gặp nhiều khó khăn. Vấn đề thay đổi nội dung, chương trình, phương
pháp giảng dạy; vấn đề phân ban... là một trong những khó khăn đối với đa số
GV và HS. Trong những năm qua chất lượng dạy học ở các trường THPT
Huyện Thọ Xuân đã thu được một số kết quả đáng khích lệ, nhưng vẫn còn
nhiều mặt hạn chế.
trường có đặc điểm, hoàn cảnh tương tự.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học tin
học ở trường THPT.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và quản
lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THPT Thọ Xuân.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt
động dạy học môn Tin học ở trường THPT huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất những giải pháp quản lý nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tin học ở các trường THPT
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
Nghiên cứu thực tiễn và tổ chức thăm dò tính khả thi của các giải pháp
đã đề xuất ở Trường THPT huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, các tài liệu nhằm
xác lập cơ sở lý luận của đề tài.
5
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra phiếu hỏi.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục, lấy ý kiến chuyên gia.
7.3. Phương pháp thống kế toán học:
Nhằm xử lý số liệu thu được
8. Những đóng góp của luận văn.
được giáo dục) và ông cho rằng giáo dục là cần thiết cho mọi người (hữu giáo vô
loại).
Đầu những năm 60 của thế kỷ XX đã có nhiều nơi (tại Pháp, một số bang
của Hoa kỳ, ...) nghiên cứu và thử nghiệm về việc dạy tin học và kỹ thuật
tính, chủ yếu qua môn Toán. Trong thời điểm đó, tình hình chung tại các nước
này là giảng dạy còn nặng về lý thuyết, học sinh không thực hành trên máy.
Cuối những năm 70, tin học và kỹ thuật tính chuyển sang một giai đoạn mới
có sự biến đổi về chất. Máy tính bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh
vực nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Do những đòi hỏi của sự phát triển kinh
tế xã hội và sự cho phép về điều kiện kinh tế - kỹ thuật nên tin học đã chính
thức được đưa vào trường học. Vào những năm 80, với việc ứng dụng ngày
càng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là ở các nước phát
triển, nhiều quốc gia đã lần lượt xây dựng chiến lược tin học, ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông mà một bộ phận quan trọng của chiến lược là
xác định cách thức đưa tin học vào trường phổ thông [7].
Hiện nay, các nước phát triển đã xác định lộ trình đưa bộ môn Tin học
7
vào giảng dạy ở trường phổ thông theo hai dạng: tự chọn cho cấp trung học
cơ sở, tiểu học và chính thức cho cấp trung học phổ thông. Tất cả các nước
đều khuyến khích sử dụng máy tính để dạy các môn học khác, coi máy tính là
một phương tiện dạy học đồng thời là phương tiện để đổi mới phương pháp
giảng dạy.
PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi; PGS.TS Phạm Minh Hùng; PGS.TS Thái Văn
Thành khi nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn
nghiệp vụ của giáo viên” đã khẳng định: “Tùy theo các bậc học, trong từng nội
dung hoạt động chuyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp
khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
vận động riêng của nó”. Quản lí là: “nhằm thiết lập sự phối hợp những công
việc giữa các cá nhân và thực hiện những chức năng chung nảy sinh từ sự vận
động của toàn bộ cơ sở sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng
lẻ của nó”.
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lí” tác giả Harold
Kontz viết: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ
lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà
quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt
được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít
nhất”.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (Trung tâm biên soạn từ điển Hà
Nội tập 1 - 1995), quản lý là:
“Quản là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;
Lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định”
[43]
9
Tác giả Hà Sĩ Hồ cũng cho rằng: “Quản lí là một quá trình tác động có
định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các
thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định ”.
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ (2001) thì: “Quản lí là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn”.
Tác giả Nguyễn Văn Lê (1985) lại cho rằng: “Quản lí không chỉ mang
tính khoa học, mà còn mang tính nghệ thuật”. Cũng như các tác giả khác, Ông
cho rằng mục đích của công việc quản lí chính là nhằm đạt hiệu quả tối ưu
1.2.2. Chức năng quản lý.
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua
đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu
nhất định.
Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau
mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Thực chất các chức
năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động quản lý. Ta có thể hiểu chức
năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể
thiếu được của chủ thể quản lý.
Các chức năng quản lý đều có tính độc lập tương đối, nhưng chúng
được liên kết, gắn bó qua lại và qui định lẫn nhau. Với các cách tiếp cận khác
nhau, người ta thường phân chia các chức năng quản lý ra làm hai nhóm
chính: nhóm chức năng quản lý chung và nhóm chức năng quản lý cụ thể.
Phản ánh nội dung của quá trình QL, chúng ta có nhóm chức năng quản lý
11
chung bao gồm 4 chức năng QL cơ bản: chức năng kế hoạch hoá, chức năng
tổ chức, chức năng chỉ đạo - điều hành, chức năng kiểm tra - đánh giá.
- Chức năng kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên, có vai trò định
hướng cho toàn bộ hoạt động. Căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức
và căn cứ vào nhiệm vụ được giao, vạch ra mục tiêu của tổ chức và xây
dựng chương trình hành động, tìm biện pháp, cách thức tốt nhất để thực
hiện mục tiêu.
- Chức năng tổ chức: Nội dung của chức năng tổ chức là việc thiết lập
cấu trúc của bộ máy quản lý (tổ chức công việc, sắp xếp con người). Đây là
quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định
nhằm thực hiện tốt mục tiêu của kế hoạch.
1.2.3. Quản lí nhà trường.
1.2.3.1. Quản lý nhà trường.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý nhà trường:
Tác giả Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý nhà trường là những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của
chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường
(GV, nhân viên và người học…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học
của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục”.
Tác giả Trần Kiểm (1997): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với
ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS”.
Như vậy, ta có thể hiểu quản lý nhà trường là tập hợp các tác động của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà
trường thực hiện các mục tiêu dự kiến. Quản lý giáo dục trong nhà trường về
cơ bản, chính là quản lý các thành tố của quá trình dạy học, các thành tố đó có
thể được mô tả như sơ
đồ sau:
MT
GV
HS
ND: Nội dung
QL
ND
PP: Phương pháp
PP
- Khái niệm dạy học:
Cũng theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm dạy học là "dạy để nâng cao
trình độ học vấn và phẩm chất của người khác theo một chương trình nhất
định".
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác
động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri
14
thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để
trên cơ sở đó phát triển năng lực tư duy và hình thành thế giới quan khoa học.
Hoạt động dạy học có ý nghĩa vô cùng to lớn:
- Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong khoảng thời
gian ngắn có thể nắm được một tri thức nhất định.
- Dạy học là con đường quan trọng nhất, giúp học sinh phát triển một
cách có hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực
tư duy sáng tạo.
- Dạy học là một trong những con đường chủ yếu góp phần giáo dục cho
học sinh thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức. Như vậy dạy
học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường.
1.2.4.2. Quá trình dạy học.
a. Khái niệm
Quá trình dạy học là toàn bộ hoạt động của giáo viên và học sinh do giáo
viên hướng dẫn nhằm giúp cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ xảo
và trong quá trình đó phát triển được năng lực nhận thức, năng lực hành động,
hình thành những cơ sở của thế giới quan khoa học.
b. Cấu trúc của quá trình dạy học
QTDH với tư cách là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như:
Mục đích và nhiệm vụ dạy học; nội dung dạy học; thầy với hoạt động dạy; trò
16
+ Quy luật thống nhất biện chứng giữa nội dung dạy học và phương
pháp, phương tiện dạy học.
+ Quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy và học.
+ Quy luật thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng kế hoạch, việc tổ
chức, việc điều chỉnh và việc kiểm tra hoạt động của học sinh trong chu trình
dạy học...
e. Nhiệm vụ dạy học:
- Tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học và
hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng để thực hành vận dụng các tri thức đó.
Các tri thức này phải đảm bảo cơ bản, phổ thông, hiện đại và sát thực tiễn
Việt Nam.
- Tổ chức, điều khiển người học hình thành, phát triển năng lực hoạt
động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.
- Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển thế giới quan khoa
học, nhân sinh quan và các phẩm chất, thói quen hành vi đạo đức đáp ứng yêu
cầu xã hội.
1.2.4.3 Hiệu quả.
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “Hiệu quả” được định nghĩa là:
“Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại” [43]. Hiểu một cách cụ thể
hơn, hiệu quả của hoạt động quản lý là kết quả hoạt động của hệ thống quản
lý cụ thể được phản ánh trong các chỉ tiêu khác nhau của đối tượng quản lý
cũng như trong bản thân hoạt động quản lý, đồng thời những chỉ tiêu đó có
những đặc trưng về số lượng và chất lượng.
Như vậy, khái niệm hiệu quả phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi
phí và lợi ích, giữa đầu tư với kết quả thực thu trong môi trường và thời gian
nhất định, mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm hay
một giải pháp nào đó.
18
1.2.6. Quản lý hoạt động dạy học
Trong trường học mọi hoạt động đều hướng vào phục vụ hoạt động dạy
học và quản lý trường học trọng tâm là QL HDDH. Quản lý HĐDH là quản lý
việc chấp hành các quy định (điều lệ, quy chế, nội quy v.v…) về hoạt động
giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS, đảm bảo cho hoạt động đó
được tiến hành tự giác, có nề nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao.
Quản lý HĐDH là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình
dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Từ quan niệm về quản lý HĐDH như trên và với sự phân biệt HĐDH với
QTDH, chúng tôi cho rằng: Quản lý HĐDH không đồng nhất với quản lý
QTDH. Quản lý QTDH là quản lý các thành tố của quá trình và các điều kiện
để đảm bảo cho sự vận động của các thành tố đó. Quản lý HĐDH là quản lý
hoạt động của chủ thể dạy học nhằm hình thành và phát triển hoạt động học
cho người học.
Quản lý HĐDH trong nhà trường cần phải chú ý cả ba cấp độ:
1- Hiệu trưởng, Ban giám hiệu quản lý HĐDH trong nhà trường.
Công tác quản lý của Hiệu trưởng, BGH với HĐDH là một bộ phận của
quản lý quá trình giáo dục trong nhà trường. Điều đó có nghĩa là quản lý
QTDH và những hoạt động giáo dục khác được thực hiện ngoài các môn học.
Như vậy, quản lý của BGH với hoạt động dạy học sẽ được thực hiện ở tầm vĩ
mô (xét trong khuôn khổ trường học). Cụ thể là:
Dựa vào kế hoạch nhiệm vụ năm học, Hiệu trưởng chỉ đạo HĐDH trong
nhà trường với các nội dung sau:
- Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy học của các
tổ chuyên môn: Nhóm chuyên môn và GV.
20
Theo giới hạn của đề tài , chúng tôi tập trung nghiên cứu về quản lý của
Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học trong trường THPT.
1.2.7. Quản lý dạy học tin học ở trường THPT
Tin học là môn học mới, chưa có sẵn mạch kiến thức cơ bản cần dạy
trong trường phổ thông như các môn học truyền thống khác, vì vậy trước
hết cần định hướng một cách tổng thể những kiến thức, kỹ năng, phương
pháp dạy tin học trong trường phổ thông từ đó xây dựng chương trình tương
ứng cho từng cấp học, tránh lãng phí và tránh tình trạng chồng chéo khi
triển khai chính bộ môn Tin học giữa các cấp học cũng như giữa các môn
học của cùng một cấp học.
Dạy tin học ở trường phổ thông nhằm cung cấp các kiến thức phổ
thông và hình thành các kỹ năng cơ bản của tin học, CNTT cho học sinh làm
cơ sở ban đầu cho việc đào tạo nguồn nhân lực tương lai, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hướng tới kinh tế tri thức, vào
cuộc sống cá nhân trong bối cảnh xã hội ngày càng chịu sự tác động mạnh
mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông như tinh thần kế hoạch tổng thể
Chương trình Quốc gia về CNTT do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 211/TTg ngày 07/4/1995:“Đẩy mạnh việc phổ cập giáo
dục tin học trong nhà trường trung học là biện pháp hết sức quan trọng để
chuẩn bị cho thế hệ trẻ tiếp cận với các kiến thức và phương tiện hiện đại
của công nghệ thông tin, tạo cơ sở rộng lớn cho việc chọn lựa đào tạo
một cách nhanh chóng đội ngũ chuyên nghiệp về công nghệ thông tin
sau này”.
Theo quy định của Bộ GD&ĐT, Tin học là môn học bắt buộc và không
phân hoá theo ban ở cấp THPT, tuy nhiên do hạn chế về thời lượng của bộ
môn, về điều kiện phát triển KT-XH ở các vùng miền khác nhau, về đội