Phân tích tình hình hoạt động và vai trò của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán trong nền kinh tế việt nam hiện nay - Pdf 31

Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

Mục lục
Giới thiệu vấn đề
Chương I. Công ty cổ phần
I.

Khái niệm và những vấn đề chung của công ty cổ phần

II.

Nguyên tắc hoạt động của công ty cổ phần

III.

Các tiêu chí và chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần

IV.

Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc dân

V.
nay

Những thành tựu và hạn chế của công ty cổ phần trong nền kinh tế Việt Nam hiện

Chương II. Thị trường chứng khoán
I.



Xuất phát từ thực tế khách quan do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị
trường ,do đó ,việc hình thành các công ty cổ phần (CTCP ) và vấn đề cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước (DNNN ) là tất yếu đối với quá trình phát triển mạnh của nền kinh tế thị
trường . Hình thức CTCP đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII ,
mà trước tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp . Trải qua quá trình phát triển của nền kinh
tế, nhất là trong giai đoạn mà cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra thì CTCP phát triển rất
mạnh mẽ. Đến những năm đầu thế kỷ XX thì CTCP đã trở thành hình thức kinh doanh rất
phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh. Với Việt Nam chúng ta, từ
khi đất nước được thống nhất, do phải giải quyết hậu quả nặng nề của chiến tranh . Mặt khác
do cơ chế kinh tế và xuất phát điểm của chúng ta thấp. Chính vì vậy, mà việc khôi phục nền
kinh tế tuy đã đạt được nhiều thành công, song cũng còn nhiều hạn chế. Do đó mà đại hội
Đảng lần thứ VI (12/ 1986) đã đánh dấu sự đổi mới của nền kinh tế Việt nam. Đó là quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, Nó
không chỉ làm thay đổi một cách sâu sắc nền kinh tế nước ta về cơ cấu kinh tế, thành phần
kinh tế và quan hệ sở hữu mà còn làm xuất hiện hình thức tổ chức kinh tế mới đó là CTCP.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và Hiến pháp 1992 đều khẳng định: Nền kinh
tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều
thành phần đó, kinh tế quốc doanh được xác định giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế
khác hoạt động theo luật và bình đẳng trước pháp luật
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đối với nước ta là tương đối mới. Trước đây chưa
có Luật doanh nghiệp thì nó hoạt động theo Luật công ty. Khi Luật doanh nghiệp ra đời
(tháng 12 năm 1999) thì công ty cổ phần được xác định đầy đủ và rõ ràng hơn, là một trong 4
loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp. Cũng chính từ đó mà công
ty cổ phần phát triển mạnh hơn và ngày càng phát huy được những ưu thế của nó trong nền
kinh tế. So với các loại hình doanh nghiệp khác thì công ty cổ phần rất có ưu thế trong việc
huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng. Mặt khác với việc hình thành thị trường
chứng khoán ở nước ta thì công ty cổ phần là điều kiện quan trọng và tiên quyết cho sự hoạt
động của thị trường này, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

của hình thức công ty cổ phần trên thế giới gồm các giai đoạn sau:
2.1 Giai đoạn mầm mống.
Trong những năm đầu của phuơng thức sản xuất TBCN các nhà tư bản lập ra các xí nghiệp
TBCN riêng lẻ, hoạt động độc lập thuê mướn công nhân và bóc lột lao động làm thuê. Dần
dần cùng với sự phát triển của sức sản xuất và chế độ tín dụng họ đã liên kết với nhau, dựa
trên quan hệ nhân thân (gia đình) và chữ tín góp vốn kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Từ
doanh nghiệp nhóm bạn dần dần phát triển thành doanh nghiệp góp vốn. Năm 1553 công ty
cổ phần đầu tiên ở Anh thành lập với số vôn 6000 bảng Anh phát hành 240 cổ phiếu, mỗi cổ
phiếu là 25 bảng Anh để tổ chức đội buôn gồm 3 chiếc thuyền lớn tìm đường sang Ấn Độ
theo hướng Đông Bắc.
Năm 1801 tại Luân Đôn sở giao dịch chứng khoán chính thức ra đời tạo ra thị trường chứng
khoán. Thị truờng chứng khoán liên quan tới doanh nghiệp cổ phần bao gồm cả cổ phần tư
nhân và doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước đứng ra thành lập. Theo Các Mác "Trong bước
đầu của nền sản xuất TBCN một số ngành sản xuất đòi hỏi một số tư bản tối thiểu mà lúc đó
từng cá nhân riêng lẻ chưa thực hiện được. Tình hình đó dẫn đến Nhà nước phải trợ cấp...
Mặt khác điều đó cũng dẫn đến việc thành lập những nơi nắm giữ độc quyền do pháp luật
thừa nhận để kinh doanh trong những ngành công nghiệp và thương nghiệp nhất định". Như
vậy trong giai đoạn này công ty cổ phần có hai loại:
+ Doanh nghiệp góp vốn hoặc doanh nghiệp nhóm bạn
Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 3


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

+ Doanh nghiệp do Nhà nước lập bằng hình thức phát hành trái khoán (Ở Mỹ gọi là cổ
phần công cộng) hoặc doanh nghiệp Nhà nước góp vốn.

dịu mâu thuẫn giữa lao động và tư bản đồng thời thu hút vốn một cách thuận lợi
- Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần tại các nước ngày càng hoàn thiện, pháp luật ngày
càng kiện toàn và mỗi nước đều có những đặc điểm riêng.
3.
Điều kiện để hình thành công ty cổ phần.
3.1. Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn
Công ty cổ phần là công ty có nhiều người đứng sở hữu. Nếu công ty chỉ thuộc một chủ sở
hữu thì dù chủ sở hữu đó là một cá nhân hay một tổ chức thì đó không phải là công ty cổ

Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 4


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

phần mà thuộc một loại hình công ty khác có thể là công ty tư nhân, công ty TNHH một
thành viên hay Công ty liên doanh ( nếu chủ sở hữu là Nhà nước).
3.2.
Những người có vốn muốn tham gia đầu tư để kinh doanh thu lợi nhuận
Đây là hình thức đầu tư mạo hiểm nhất so với các hình thức đầu tư khác như mua công trái,
trái phiếu, gửi ngân hàng... Trong kinh doanh có khả năng bị phá sản nhưng bù lại là hình
thức đầu tư có hứa hẹn nhất và không bị lạm phát với món tiền lớn.
3.3.
Lợi nhuận thu được phải có đủ sức hấp dẫn người có vốn tham gia kinh doanh
Nếu lợi nhuận trong kinh doanh mang lại lớn hơn lợi tức ngân hàng hoặc lợi tức do đầu tư
vào các lĩnh vực khác và lớn hơn đủ mức cần thiết thì người có vốn mới sẵn sàng góp vốn
vào công ty cổ phần để tham gia kinh doanh.

đồng cổ đông ( mỗi cổ phần có một phiếu biểu quyết), được nhân cổ tức với mức theo quy
Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 5


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

định của Đại hội đồng cổ đông... Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần
phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất là 6 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định của
điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát, yêu cầu triệu
tập họp Đại hội đồng cổ đông .
2.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần.

Do đặc điểm nhiều chủ sở hữu trong công ty cổ phần nên các cổ đông không thể trực tiếp
thực hiện vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ trực
tiếp quản lý công ty bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành và
Ban kiểm soát.
Đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, là Đại hội của những cổ
đông sở hữu đối với công ty cổ phần. Đại hội cổ đông có 3 hình thức là: Đại hội hội đồng cổ
đông thành lập, Đại hội đồng cổ đông bất thường và Đại hội hội đồng cổ đông.
Hội đồng quản trị là bộ máy quản lý của công ty cổ phần bao gồm những thành viên
có trình độ chuyên môn cao và quản lý giỏi để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ do Đại hội hội
đồng cổ đông giao phó. Số thành viên do Đại hội cổ đông quyết định và được ghi vào điều lệ
của công ty. Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề
liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội


tiêu chí và chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần.
Bảng báo cáo hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần sữa việt nam.

Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 7


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

Nhận xét các số liệu chỉ số tài chính.
1.

Chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA).

Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản( ROA): tỷ số này dung để đo lường khả năng sinh lời
trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này lớn hơn 0 có nghĩa là doanh nghiệp làm
ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp càng làm ăn có hiệu quả. Tỷ số này còn cho
biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tại ra thu nhập cho doanh nghiệp.
Công thức:

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản(ROA) = ( lợi nhuận sau thuế / bình quân tổng tài sản)
x 100%.

Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 8

42.73% điều này có nghĩa là một đồng vốn bỏ ra sẽ thu được 42.73 đồng lợi nhuận. Ta thấy
hiệu quả sử dụng vốn của công ty rất cao khi tạo ra được lợi nhuận từ nguồn vốn ban đầu, vì
vậy ngành sữa là một ngành đầy tiềm năng và mang lai lợi nhuận cao trong thời gian tới.
IV.

VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN.

Với những đặc điểm rất riêng của mình công ty cổ phần có vai trò quan trong đối với việc
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, cụ thể là:
- Công ty cổ phần có khả năng tập trung vốn nhanh chóng với quy mô lớn để thực hiện các
hoạt động sản xuất kinh doanh khổng lồ mà không nhà tư bản riêng biệt nào có thể tự mình
làm nổi. C.Mác đã đánh giá vai trò này của công ty cổ phần như sau: "Nếu như cứ phải chờ
Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 9


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

cho đến khi tích luỹ làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương việc
xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn không có đường sắt. Ngược lại qua
công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện được việc đó chỉ trong nháy mắt"
- Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn bởi vì : Thứ nhất, do
hình thức tự cấp phát tài chính bằng huy động vốn đã đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp
nâng cao sự quan tâm đến sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Mặt khác do sức ép của cổ đông do
việc đòi chia lãi cổ phần và muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán khiến
doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiêụ quả sử dụng đồng vốn. Thứ hai, là do lợi nhuận
của các công ty cổ phần là khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau thúc đẩy nên có thể dẫn

tính “kín đáo”.
Những hạn chế của công ty cổ phần không phải là không đáng kể,tuy nhiên không phải là vô
phương khắc phục.Việc giảm bớt những hạn chế của công ty cổ phần phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như sự hoàn hảo của pháp luật,tính hiệu quả cũng như niềm tin của pháp luật,trình độ
phát triển chung của nền kinh tế,trình độ phát triển cao của dân trí,và có một bộ máy nhà
nước có kỷ cương phép tắc.Trong những điều kiện ngược lại,công ty cổ phần dễ trở thành
một mắt xích trong hệ thống làm ăn không lương thiện, gây thiệt hại cho các cổ đông cũng
như cho cả xã hội.
Từ một cách nhìn như vậy,chúng ta thấy rằng,không có một lý do gì để cản trở sự ra đời của
công ty cổ phần trong nền kinh tế nước ta hiện nay.Nhưng điều đó không có nghĩa là rồi đây
chúng ta cho các công ty cổ phần ra đời một cách ào ạt theo kiểu phong trào.Thực tiễn đã chỉ
ra rằng,nó cần phải có bước đi thận trọng và liên tục,phù hợp với sự phát triển tự nhiên của
đời sống kinh tế như nó cần phải có.

CHƯƠNG II. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 12


Bài tiểu luận
I.

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Thị trường chứng khoán( Securities Market) được xuất hiện đầu thế kỷ XV ở các nước Tây
Âu như: Bỉ, Hà Lan, Anh. Thị trường chứng khoán được định nghĩa theo Longman
Dictionary of Business English, 1985 như sau: An organized market where securities are

Page 13


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

London, nơi mà sau này được gọi là sở giao dịch chứng khoán London. Các “mậu dịch
trường” khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu.
II.
KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ NHỮNG THUẬT NGỮ CƠ
BẢN CÓ LIÊN QUAN
1.
Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tố chức phát hành, gồm: trái phiếu,
cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh.
Thị trường chứng khoán ( Securities Market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động
giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài
chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh- hợp đồng tương lai, quyền chọn,
bảo chứng phiếu, chứng quyền.
Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu
tư và phát triển kinh tế, do đó các tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền
kinh tế nói chung. Mặt khác, thị trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, nơi tập trung
nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các giao dịch
các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn. đặc tính đó khiến cho TTCK cũng
là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng thong qua các hoạt động
gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư, tổn thất cho thị trường và cho
toàn bộ nền kinh tế.
2.

một công ty chứng khoán hơn là để chỉ một nhân viên môi giới. Nhân viên môi giới của một
công ty chứng khoán còn được dùng phổ biến bằng từ "registered representative" (đại diện
giao dịch) hoặc "account executive" (AE) tuỳ theo họ nằm đâu trong mối quan hệ công tắc.
Quần chúng đầu tư thì gọi họ bằng "customer?s man" hay "stockbroker".
c.

Phát hành chứng khoán.

Khái niệm về phát hành chứng khoán: Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là
phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một
tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng.
Phương thức phát hành chứng khoán: Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị
trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
Phát hành riêng lẻ (Private Placement): Là việc công ty phát hành chào bán chứng
khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư
có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu
trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng.
o

Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán có
thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất
định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt
một mức nhất định.
o

d.

Niêm yết chứng khoán.

Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao

cấp các dịch vụ cho việc phát hành và thu hồi chứng khoán cũng như các phương tiện tài
chính và các hoạt động như chi trả lợi tức và cổ tức.
Có 2 hình thức giao dịch chứng khoán : hình thức tập trung và hình thức phi tập trung.
Hình thức tập trung: là cổ phiếu được niêm yết lên và và thông qua đó người mua có thể
trao đổi công khai với nhau. Hiện tại ở Việt nam có 3 sàn giao dịch chứng khoán tập trung:
Sàn HOSE (SGD chứng khoán TP HCM) : Các loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư,
trái phiếu đã được đăng ký niêm yết tại SGDCK TP. HCM.


Sàn HNX (SGD chứng khoán HN): Các loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái
phiếu đã được đăng ký niêm yết tại SGDCK Hà Nội.


Sàn Upcom (SGD chứng khoán HN): Cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi đăng ký giao
dịch tại sàn Upcom – SGDCK Hà Nội.


Hình thức phi tập trung: các loại chứng khoán được giao dịch với nhau khi chưa chính
thức niêm yết lên sàn giao dịch. Hình thức giao dịch này tiềm ẩn nhiều rủi ro rất lớn.
2.

Chứng khoán nợ và trái phiếu.

2.1.

Khái niệm:

Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (Chính phủ hay
doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc
cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn. Trên giấy chứng nhận này có ghi mệnh giá

Số vốn huy động

SPH

:

Số trái phiếu phát hành

Ví dụ : Công ty A muốn huy động 10 tỷ đồng, bằng cách phát hành 10.000 trái phiếu, vậy
mỗi trái phiếu có mệnh giá là :
MG = 10.000.000.000đ/10.000=1.000.000 đ
Tỷ suất lãi trái phiếu là lãi suất danh nghĩa (Coupon interest Rates) của trái phiếu quy định
mức lãi mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm. Thông thường có 2 phương thức trả lãi : 6
tháng/lần và 1 năm/lần.
Mỗi trái phiếu có ghi lãi suất của tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu
trái phiếu một số tiền lãi vào một ngày xác định và có thể theo định kỳ. Trái phiếu phát hành
với một tỷ lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thị trường tại thời điểm
chào bán trái phiếu. Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá của
trái phiếu. Lãi trái phiếu có thể được quy định trả hàng năm, hay thanh toán nửa năm một
lần.
Số tiền nhà đầu tư nhận được hàng năm bằng lãi suất coupon, hay còn gọi là lãi suất cuống
phiếu nhân với mệnh giá trái phiếu.
Ví dụ : Công ty A nói trên quy định mức lãi trái phiếu là 9%/năm, như vậy hàng năm trái chủ
nhận được số tiền lãi là :
9% *1.000.000 =90.000 đ
Giá mua : Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở
hữu trái phiếu. Giá mua có thể bằng mệnh giá, có thể cao hơn mệnh giá hoặc thấp hơn mệnh
giá. Tuy nhiên, dù loại giá mua là loại giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá
trái phiếu. Và đến ngày đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được trả lại vốn gốc bằng với
mệnh giá trái phiếu.

2.3.

Đặc điểm của trái phiếu.

Trái phiếu là một loại giấy nợ do chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài
hạn hay còn gọi là chứng khoán nợ, có kỳ hạn nhất định, cuối kỳ đáo hạn phải trả vốn gốc
cho trái chủ.
Tỷ suất lãi trái phiếu được xác định trước và tính lãi trên mệnh giá. Tỷ suất lãi này là lãi
coupon hay lãi cuống phiếu có ý nghĩa là lợi suất danh nghĩa của trái phiếu mà nhà đầu tư
được hưởng hàng năm. Tuỳ theo loại trái phiếu mà tỷ suất này cố định hay thả nổi hoặc có
thể bằng không.
Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ
đông.
Với những đặc điểm trên, trái phiếu doanh nghiệp được xem như loại chứng khoán có mức
độ rủi ro thấp hơn cổ phiếu.
2.4.

Điều kiện để phát hành trái phiếu ở việt nam.

Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau đây :
Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 18


Bài tiểu luận

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn




Trái phiếu thu nhập ( Income bonds)



Trái phiếu có thế chấp ( Mortgage bonds)



Trái phiếu không có thế chấp( Debenture)



Trái phiếu có thể chuyển đổi ( Convertible bonds)



Trái phiếu có thể chuộc lại ( Callable bonds)



Trái phiếu có lãi suất ổn định ( Straight bonds)



Trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating rate bonds)



Trái phiếu chiết khấu ( Zero coupon bonds)




Thay đổi tỷ giá hối đoái

3.

Chứng khoán vốn và cổ phiếu.

3.1.

Khái niệm.

GVHD: TS.Nguyễn Minh Tuấn

Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, vốn của nó được hình thành từ sự
góp vốn của rất nhiều người. Khi mới thành lập, công ty cổ phần chia vốn điều lệ bằng
những phần bằng nhau, mỗi phần vốn là một cổ phần (share), người góp vốn vào công ty qua
việc mua cổ phần gọi là cổ đông (shareholder), cổ đông nhận một giấy chứng nhận cổ phần
gọi là cổ phiếu (stock), tuỳ thuộc vào trách nhiệm và quyền hạn của cổ đông đối với công ty
cổ phần mà cổ phiếu chia làm 2 loại : Cổ phiếu thường (common stock) và cổ phiếu ưu đãi
(prefreed stock).
3.1.1. Cổ phiếu thường.
Là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông, đối với công ty cổ
phần. Người mua cổ phiếu thường trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông. Cổ
đông nắm giữ cổ phiếu thường là một trong những người chủ của doanh nghiệp nên là người
trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như lãnh chịu mọi rủi ro trong kinh
doanh, do đó cổ phiếu thường có những đặc điểm sau.
Đặc điểm cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn.


Thứ nhất, phần vốn góp xem như góp vĩnh viễn không được rút lại. Lúc cần lấy vốn
lại, họ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần trên thị trường bằng cách bán cổ
phiếu cho một nhà đầu tư khác.

Thư hai, trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay phá sản của công ty
chỉ giới hạn trên phần vốn góp trên cổ phiếu. Nếu công ty làm ăn không hiệu quả xem như
họ mất phần vốn đã được bỏ ra để mua cổ phiếu.
Quyền lợi :
Là một trong những người chủ công ty, những cổ đông có quyền lợi như sau :

Quyền có thu nhập : Cổ đông thường được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với số cổ
phiếu sở hữu gọi là cổ tức từ kết quả có lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Khác với trái chủ, việc công ty không có khả năng trả cổ tức cho cổ đông, cổ đông không có
quyền đưa Ban lãnh đạo của công ty ra trước pháp luật.

Quyền được chia tài sản thanh lý : Trong trường hợp rủi ro, công ty bị giải thể, cổ
đông cũng được chia phần giá trị tài sản khi thanh lý, nhưng là người cuối cùng được hưởng
giá trị tài sản còn lại khi thanh lý.

Quyền bỏ phiếu : Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào những
chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia các đại hội đồng cổ đông và bỏ phiếu
quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Nếu không tham dự được, cổ đông thường có
Lớp VB15KT002-Đề tài 31

Page 21


Bài tiểu luận




Cổ phiếu thu nhập ( income stocks)



Cổ phiếu chu kỳ ( cyclical stocks)



Cổ phiếu theo mùa ( seasonal stocks)



Công ty tăng trưởng và cổ phiếu tăng trưởng.



Công ty thận trọng và cổ phiếu thận trọng.



Công ty chu kỳ và cổ phiếu chu kỳ.



Công ty đầu cơ và cổ phiếu đầu cơ.

Những nhân tố ảnh hưởng giá cổ phiếu


Tỷ số P/E thấp thì có nghĩa là lợi nhuận trên một cổ phần của công ty càng cao hoặc giá trị
trường của cổ phiếu thấp.
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong
tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường
thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.

EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu. Đây là phần
lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị
trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh
nghiệp, được tính bởi công thức:
EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu
thông.
EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây
cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS
thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công
thức tính trên.
Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức
là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ
ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ
thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính
của từng doanh nghiệp để đảm bảo "chất lượng" của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa
vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các
chỉ số khác.


Các chỉ số ROA và ROE như đã trình bày ở phần công ty cổ phần.

Sau đây là những phân tích 1 vài công ty để làm rõ hơn vấn đề này.

Lớp VB15KT002-Đề tài 31


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status