Hiện thực đô thị trong tiểu thuyết Đỗ Phấn - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN KIM DŨNG

HIỆN THỰC ĐÔ THỊ
TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN KIM DŨNG

HIỆN THỰC ĐÔ THỊ
TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS. LÊ VĂN DƯƠNG

NGHỆ AN - 2013


2.2. Sự cô đơn của con người........................................................................56
2.3. Sự xung đột giữa truyền thống và hiện đại............................................66
Chương 3 NGHỆTHUẬT THỂHIỆN HIỆN THỰC ĐÔ THỊ TRONG TIỂU
THUYẾT ĐỖPHẤN.............................................................................................75
3.1. Tiểu thuyết như là sự tập hợp nhiều câu chuyện nhỏ............................75
3.2. Bút pháp trào lộng, giễu nhại và nhãn quan ngôn ngữ hậu hiện đại....78
3.3. Nghệ thuật xây dựng không gian đô thị và xây dựng chân dung con
người đô thị....................................................................................................81
KẾT LUẬN..........................................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................90


4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hiện thực đô thị là một đề tài không phải mới trong văn học Việt
Nam hiện đại, nhưng từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, nó đã được
những người cầm bút quan tâm một cách đặc biệt. Chính sự quan tâm đó đã
đưa đến nhiều kết quả đáng được ghi nhận, với một đội ngũ tác giả chuyên
khai thác đề tài này và với những tác phẩm gây được tiếng vang rộng rãi
trên văn đàn. Rõ ràng, đây là hiện tượng cần được tìm hiểu một cách sâu
sắc, thấu đáo.
1.2. Đỗ Phấn là một “ca” đặc biệt trong làng văn Việt Nam đương đại.
Xuất thân là họa sĩ nhưng ông lại chọn văn chương như một điểm đến và có
những thành công được văn giới thừa nhận, nhất là ở thể loại tiểu thuyết. Đô
thị là đề tài chính trong tiểu thuyết của ông. Vậy, đâu là cái mới, là đóng góp
riêng của Đỗ Phấn so với những nhà văn khác cùng quan tâm thể hiện đề tài
này? Cho đến nay, đây còn là vấn đề chưa được chú ý nghiên cứu.
1.3. Nói đến hiện thực đô thị thực ra chỉ là một cách để nói đến sự tồn
tại của con người trong xã hội hiện đại với bao vấn đề nhức nhối của nó. Đỗ

viết tiểu thuyết, Trần Nhã Thuỵ, trong bài Vừa nhớ vừa bịa, đăng cuối tiểu
thuyết Vắng mặt (Đỗ Phấn), Nxb Hội Nhà văn, 2010, viết: “Không còn hư
thực, lẫn lộn nữa, mà là vắng mặt. Con người soi gương và hốt hoảng không
nhìn thấy khuôn mặt mình. Nhưng sản phẩm không “nói triết”, tác giả cũng
loại trừ một lối viết ẩn dụ, hay huyền ảo, hay giễu cợt, hay luận đề… Tác giả
chỉ tập trung làm rõ những tính chất của sự thật bằng cách lấy hiện thực làm
chất lửa, và phổ lên đó cái giọng buồn, cái nụ cười thầm của mình”.
Hoài Nam, trong bài Hai họa sĩ của làng văn Việt (An ninh thế giới
cuối tháng, số 133, tháng 9 - 2012), cho rằng: “Đỗ Phấn viết cái gì và viết như


6
thế nào? “Đời sống thị dân bát nháo” - đó là một chủ đề trong tiểu thuyết của
Đỗ Phấn, một chủ đề nằm trong phối cảnh chủ đề rộng hơn: đời sống đô thị
như nó đang diễn ra. Trên phương diện này, so với những nhà văn như Hồ
Anh Thái hay Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn là người đến sau chính vì thế mà anh
phải tìm và đã tìm được lối đi riêng của mình”.
Bài Đỗ Phấn giữa chúng ta của Đoàn Ánh Dương đăng trên trang
ra ngày 20/4/2012 đã đưa ra một số đối
sánh, từ đó làm rõ thêm trong sáng tác của Đỗ Phấn như sau: “... Nguyễn Việt
Hà và Đỗ Phấn, đều từ các lĩnh vực khác muộn mằn đến với văn chương, mỗi
người mỗi kiểu, mỗi cách và đều rất độc đáo. Ở Nguyễn Việt Hà, nó đọng ở
cấu trúc nghệ thuật ngôn từ và ở Đỗ Phấn, nó lửng lơ ở ngoài cái cấu trúc
ngôn từ nghệ thuật ấy (...) Sáng tác của Đỗ Phấn không nhằm bày ra cho
người đọc cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, cũng không tham vọng cao đàm khoát
luận về giá trị, tư tưởng, tự do, chân lý. Nó chỉ bày ra một sự thụ cảm cuộc
sống một cách có nghệ thuật”.
Trên đây là các bài viết về tiểu thuyết Đỗ Phấn tuy chưa nhiều nhưng
đều có những đánh giá khá “chụm” về thành công mảng đề tài đô thị của ông.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát

- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được
triển khai qua 3 chương:
Chương 1. Tiểu thuyết Đỗ Phấn trong bức tranh chung của văn xuôi
Việt Nam hiện đại về đề tài đô thị
Chương 2. Các phương diện chủ yếu của hiện thực đô thị được phản
ánh trong tiểu thuyết Đỗ Phấn


8
Chương 3. Nghệ thuật thể hiện hiện thực đô thị trong tiểu thuyết Đỗ
Phấn


9
Chương 1
TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN TRONG BỨC TRANH CHUNG
CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VỀ ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ
1.1. Sự thể hiện đề tài đô thị trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.1.1. Khái niệm đô thị
Đô thị hoá là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển.
Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và
với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một
quá trình kinh tế, xã hội toàn thế giới - quá trình mở rộng thành phố, tập trung
dân cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hoá
những chức năng phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và
văn hoá đô thị.
Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời

Việt Nam lúc này đã có những sự thay đổi lớn trong đời sống. Với suy nghĩ
và hiện thực cũng khác trước, họ đã dần dần khẳng định mình trong xã hội.
Bộ mặt nông thôn ngày nay cũng khác nhiều so với trước đây. Người nông
dân giờ đã không còn thô mộc như người nông dân xưa. Sự thay đổi ấy hiện
dần lên từ manh quần, tấm áo lành lặn, sạch sẽ. Nhiều người đã rời bỏ công
việc nặng nhọc mà trước phải dùng sức lực lao động thủ công thì giờ được
thay thế bằng máy móc công nghiệp. Người ta có thời gian để nghe đài đọc
báo nhiều hơn, quan tâm đến đời sống chính trị nhiều hơn. Từ đó trình độ dân
trí của nông dân được nâng cao. Nền kinh tế thị trường dần lấn át vào đời
sống con người.
Đô thị hóa là một quá trình tất yếu. Việc ngăn chặn các luồng di dân
từ nông thôn vào thành thị là không thực tế và không thể. Kinh nghiệm của
các nước cho thấy, chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể ngăn cản hoàn
toàn quá trình đô thị hóa và những luồng di dân của người nghèo vào thành


11
phố. Cuộc sống đô thị trở nên hấp dẫn và cuốn hút hơn, con người muốn
thay đổi cuộc sống của mình khi đặt chân lên thành thị. Từ những miền quê
nghèo, người dân bước chân vào cuộc sống phồn hoa đô thị, với ước vọng
đổi đời, nhưng vòng xoáy cuộc sống đã cuốn con người vào cơn lốc của cơ
chế thị trường thời mở cửa. Có thể đấy là bước ngoặt lớn thay đổi vận mệnh
con người, và cũng có thể đấy là bước chân hụt khi chạm tới môi trường
thành thị.
Theo Giáo sư Đặng Vũ Khiêu, nhà triết học, nhà nghiên cứu văn hóa:
“Dưới chế độ phong kiến, giữa nông thôn và thành thị là một khoảng cách
quá xa. Thời gian gần đây, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước, chúng ta thấy nông thôn đang xích lại gần hơn với thành thị.
Quá trình đô thị hóa nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở
thành nền sản xuất hàng hóa đa ngành nghề. Lối sống thành phố du nhập vào

sống trong nhung lụa, lớn lên xinh đẹp. Thế rồi nàng yêu Trúc, con riêng của
Mộc. Trúc qua Pháp du học, Lan ở nhà buồn bã tìm đến rượu và thú vui khiêu
vũ. Nàng bị giáo sư khiêu vũ chuốc rượu và cưỡng hiếp. Nàng được ông Mộc
đưa đến nhà bác sĩ Hại để bỏ cái thai. Sau đó Lan bị Hại cưỡng dâm nhiều
lần. Cuộc đời của Lan bắt đầu trượt dốc và nàng trở thành món đồ chơi của
Mộc. Toàn bộ cuộc sống tủi nhục của Lan được cô viết thành thiên phóng sự
xã hội Một thế giới hỗn loạn. Trong thế giới ấy, mọi giá trị đạo đức truyền
thống dường như bị đảo lộn hoàn toàn. Sự sa ngã của con người trước đồng
tiền cũng được các nhà văn đặc biệt chú ý miêu tả với cảm hứng phê phán.
Trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết, đồng tiền phi nghĩa lắm lúc là tác nhân gây
nên bi kịch của gia đình, bi kịch cá nhân. Cuộc sống vật chất cũng đã làm cho
Cẩm Tâm trong Hai dòng con từ một cô gái hiền lành trở thành kẻ phá nát sự
nghiệp của cha, đẩy hai người anh đến cảnh khốn cùng. Bản thân Cẩm Tâm
cũng phải nhận lấy cái chết đau đớn và để lại các con còn thơ dại. Điều đáng


13
nói là qua hình tượng nhân vật Lan, Cẩm Tâm tác giả cũng đã chỉ ra sự lầm
lạc của họ phần là do hoàn cảnh xã hội tạo nên và cần phải cải tạo xã hội. Đó
là một cái nhìn sâu sắc, tiếng nói đầy trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc
sống con người và xã hội. Trong lời giới thiệu thiên phóng sự Một thế giới
hỗn loạn của Ly Thôn, nhà văn Anh Huy đã cho thấy phần nào ý hướng đó:
“Cô Lan, nhân vật chánh trong thiên phóng sự này là hình ảnh của một số gái
Việt và có lẽ cũng là hình ảnh của tôi, đang cùng sống trong một hoàn cảnh
ngặt nghèo nếu không gọi là số kiếp… Giờ đây mời bạn hãy đi sâu vào lòng
xã hội để cùng tôi chiêm nghiệm ít cảnh đời. Ước ao đây chỉ là một chuyến
đò đang qua một khúc sông đêm để đi đến một bến mai tươi sáng”.
Trong giai đoạn này ta không thể không nhắc tới Tự Lực văn đoàn. Tự
Lực văn đoàn chính thức thành lập năm 1933, gồm có Nhất Linh (Nguyễn
Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Ðạo (Nguyễn Tường

phất vui lẫn buồn tựa như những ngày thu nắng nhạt điểm mưa thưa".
Từ sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc vào năm 1954, số tác giả viết
về hiện thực đô thị tuy không nhiều nhưng thành tựu sáng tác trên đề tài này
thì rất đáng chú ý.
Năm 1961, Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) hoàn thành tiểu thuyết
Sống mãi với thủ đô. Hà Nội vẫn là địa bàn cho Nguyễn Huy Tưởng dồn tất
cả tâm huyết của mình; vẫn là nơi ông gửi gắm những khát vọng sáng tạo của
mình để có một Sống mãi với thủ đô mang tầm vóc sử thi về 3 ngày đêm
chiến đấu của quân dân Thủ đô. Trong Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy
Tưởng vẫn tiếp tục chọn Hà Nội làm bối cảnh hoạt động cho thế giới nhân vật
của mình. Nhưng lần này có khác trước, lần này là một Hà Nội “đa thanh”,
phức tạp và nhiều vẻ. Một Hà Nội của nhiều Hà Nội: Hà Nội phù hoa, Hà Nội
thượng lưu, Hà Nội lao động, Hà Nội lầm than, Hà Nội của mọi lớp người...
Miêu tả Hà Nội trong vẻ toàn vẹn và phức tạp của nó, Nguyễn Huy Tưởng đã


15
có những cố gắng lớn để mở rộng thế giới nhân vật. Nhiều trang Sống mãi với
thủ đô rạo rực một không khí hùng tráng của sử thi. Đọc truyện, ta khó theo
dõi được thời gian, ta bị cuốn đi trong những diễn biến lớn lao, căng thẳng
của cuộc đời, tưởng như đã xảy ra hàng năm hàng tháng, nhưng thật ra chỉ có
mấy ngày đêm. Không khí loãng tan xao xác dưới những mái trường. Quang
cảnh rạo rực chuẩn bị kháng chiến trên từng khu phố, góc nhà, đến buổi chiều
ở vườn hoa Cửa Nam, người Hà Nội vẫn vây quanh một anh thợ nặn, sống
nốt quang cảnh yên bình cuối cùng khi chung quanh đã ngột lên mùi tanh giá
của chiến tranh. Từng chuyến tàu vội vã. Đêm tản cư. Những buổi chia tay.
Vụ thảm sát Yên Ninh. Những trận đánh giằng co, căng thẳng ở Bắc Bộ Phủ,
ở nhà bưu điện Bờ Hồ... Tiếng cười nói, tiếng súng đạn, tiếng trẻ bán báo, rao
hàng, tiếng cười ấm áp, tiếng sinh hoạt của đời... bản hoà tấu của nhiều âm
thanh khác nhau đó trong truyện, nghe khác hẳn tiếng gõ quan tài bi thảm

Văn học thời kì này với lăng kính đa chiều, dưới nhiều góc độ quan sát
khác nhau, tạo nên những mảng màu chân thực, sống động và đa dạng của
cuộc sống muôn mặt đời thường.
Dưới ống kính soi chiếu này, con người trong tiểu thuyết Việt Nam hiện
lên rất phức tạp, là sự đan cài nhiều tính cách khác nhau trong một con người.
Đó là: Mùa lá rụng trong vườn (1984) của Ma Văn Kháng; Cuốn gia phả để
lại (1988) của Đoàn Lê. Một đi vào những rạn vỡ trong đời sống gia đình
trước sự xâm nhập của nền kinh tế thị trường. Một đi vào vấn đề gia tộc và
dòng họ với những lủng củng, xung đột, bất an, vẫn là do sự chi phối của đồng
tiền. Một tiểu thuyết mang tên Phố (1993) của Chu Lai lấy đề tài từ “phố nhà
binh”. Chỉ riêng tên truyện cũng đã gợi nên những góc nhìn mới, những sắc
màu lạ trong cái thời đất nước mở cửa... Đến cả những pháo đài kiên cố nhất
như “phố nhà binh” cũng không tránh được những rạn vỡ, lung lay để có một
hình hài mới cho cả phần xác và phần hồn của nó. Đã đi qua thời kì chiến tranh


17
bom đạn, thời kì hoà bình, đời sống được nâng lên tầm cao mới, con người mới
được thể hiện qua tác phẩm với nhiều phương diện khác nhau. Quan niệm về
con người trong văn học sau 1986 là một quan niệm đầy biện chứng. Con
người ở đây hiện lên chân thực như nó vốn có, không bị thần thánh hoá, lí
tưởng hoá. Họ được đặt trong bầu không khí ngổn ngang của hiện thực, sự xô
bồ của thời buổi kinh tế thị trường, trước sự bon chen, tranh dành quyền lợi
của con người. Chính vì thế, khi đọc tiểu thuyết hôm nay người đọc như nhận
diện được chính mình, mọi người xung quanh mình, xã hội mình đang sống
một cách trung thực và trọn vẹn hơn, không tô hồng hay bóp méo sự thật, đó là
hiện thực vốn có không phải là hiện thực như mình mong muốn.
Chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước ta đã thúc đẩy nền kinh tế
phát triển một cách mạnh mẽ và thu được nhiều thắng lợi. Vị trí nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao, đời sống người dân được cải thiện vượt bậc.

gái buông thả, những cảm giác bức bối khi phải sống với người chồng không
như mong ước, những thèm khát dẫn tới cuộc tình vụng trộm và trận đánh
ghen bẽ bàng; lần thứ ba bức thư tuyệt mệnh của ông Địa đã xé toang tất cả,
làm rõ vì sao lại có cái chết oan uổng của thằng cháu ngoan ngoãn, học giỏi
và được tất cả mọi người yêu mến. Không chỉ phê phán sự tha hóa, cái xấu
xa, ông cảm nhận thấm thía những lầm lẫn, hạn chế của cả một thời. Nhận
thức quá khứ và thực trạng đời sống, tiểu thuyết Lê Lựu còn có khả năng dự
báo xu thế phát triển tất yếu và những đổi thay trong xã hội. Có thể nói đây là
sự khởi đầu của dòng văn học “tự vấn”, một hướng đi mới của tiểu thuyết
nước ta mà trước đó chưa có.
Nỗi buồn chiến tranh (1990) của Bảo Ninh là một bổ sung cần thiết cho
bức tranh thấm đẫm không khí anh hùng một thời của dân tộc, qua tính cách
và số phận một chiến binh, từ là anh lính trinh sát trong chiến tranh, được
sống để trở về, rồi trở thành “nhà văn phường” có nơi sinh và nơi ở là Hà Nội.


19
“Nỗi buồn” - Nỗi buồn chiến tranh như tên đầu của nó, hoặc “Thân phận” Thân phận tình yêu, như một tên khác của nó, gần như đã chỉ ra được nét
riêng, độc đáo của một tiểu thuyết từng gây ra nhiều ý kiến khác nhau trong
các lớp người đọc, với nhiều tâm thế đọc. Nhưng dẫu ý kiến đánh giá có khác
nhau và gay gắt đến mấy, thì đây vẫn là tác phẩm gợi được nhiều ám ảnh nhất
và sẽ có sự sống bền lâu nhất nối dài được mối quan tâm của người đọc, cả
trong nước và nước ngoài về đề tài cuộc chiến ở Việt Nam, trong các khoảng
lùi của thời gian...
Sau 1986, hiện thực được phản ánh trong văn học không chỉ là hiện
thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng. Mà đó là hiện
thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự,
phức tạp đan dệt nên những mảng nổi, mảng ngầm của cuộc sống. Đời sống
đô thị là một hiện thực phong phú lôi cuốn sự chú ý của nhiều nhà văn. Ở đó
có vô vàn mối quan hệ chằng chịt của con người dệt lên như những mảnh lưới

phẩm mang đậm màu sắc sinh hoạt thế sự đời tư, đời thường, đánh dấu những
đổi mới trong tư duy nghệ thuật về cuộc sống và con người.
Thả tâm hồn mình trước buồn vui, âu lo của cuộc sống, đón đợi nguồn
cảm xúc sáng tạo nghệ thuật trước những hạnh phúc, khổ đau, những thắng
thua được mất của đời người, ngòi bút Ma Văn Kháng rất nhạy cảm với các
giá trị tinh thần đã nâng đỡ con người vượt lên những lam lũ khốn khó của
cuộc đời. Tìm cho mình điểm tựa là giá trị nhân văn chân chính cổ truyền, Ma
Văn Kháng không ngừng sáng tạo, không ngừng tự đổi mới ngòi bút. Khi
Mưa mùa hạ xuất hiện, làng văn đã ngỡ ngàng, sửng sốt, tưởng đây là một Ma
Văn Kháng mới. Nhiều dư luận khen, chê trái ngược nhau xung quanh tác
phẩm, song Ma Văn Kháng vẫn vững tin ở mình bởi đó là nỗi niềm lo âu mà
cũng là lời kêu cứu từ tác phẩm. Tại sao những người tốt như bố con Trọng
thì lại có một cuộc sống khổ cực, bất hạnh, còn những kẻ độc ác, đầy dã tâm


21
như Hưng, Hảo, Thưởng, mụ Nhuần lại sống phè phỡn, sung túc? Đó là
những tiêu cực, bất công đã xuất hiện ngày một nhiều trong xã hội, nó sẽ trở
thành những mối hiểm họa khôn lường nếu trong mỗi người chúng ta không
tự ý thức được.
Nếu nông thôn thường đại diện cho những nếp sống, nếp nghĩ người
Việt Nam thời xưa thì thành thị lại thường đại diện cho một lối sống, cách
nghĩ của con người thời hiện đại. Ở thành thị, với sự phong phú, ngổn ngang,
bề bộn, trắng đen, phải trái lẫn lộn, đan xen biết bao là biến động, khiến con
người bị chi phối bởi lối sống gấp gáp, xô bồ, chỉ biết chạy theo đồng tiền mà
quên đi mọi đạo lý trên đời. “Thành phố vẻ như là nơi đây sinh đẻ ra sự vô
danh, thái độ bàng quan cá nhân và các thói lệ tầm thường”. Đắm mình trong
môi trường ấy, con người không thể thuần nhất trong tính cách của mình. Từ
Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Ngày đẹp trời, Đám cưới không có
giấy giá thú... là hàng lọat kiểu loại nhân vật, phong phú, đa dạng, phức tạp.

những nhọc nhằn, thiếu hụt của cuộc đời hè phố. Bởi vậy trong sáng tác của
ông có xuất hiện những âm thanh hỗn tạp của đô thị với những cảnh đời lam
lũ khác nhau.
Nguyễn Việt Hà là cây bút đặc sắc thuộc thế hệ những người không trải
qua chiến tranh. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Việt Hà luôn có cái nhìn
sắc sảo về thành thị, thanh niên và giới trí thức. Luôn thường trực trong tâm
niệm của tác giả sự nỗ lực hàng đầu đó là không ngừng làm phong phú kĩ
thuật kể chuyện vượt lên trên cả nội dung và nghệ thuật để có thể đạt tới lối
viết như là chủ đề văn học.
Nguyễn Việt Hà là cây bút độc đáo, có đóng góp không nhỏ cho sự
phát triển của văn học đương đại Việt Nam. Đằng sau những sáng tác của ông
là một câu hỏi lớn về cuộc nhân sinh khiến con người ta phải bàng hoàng, trăn
trở và day dứt. Những mặt trái chiều của cuộc sống, những góc khuất trong


23
sâu thẳm tâm hồn con người được Nguyễn Việt Hà tái hiện rất sinh động và
tinh tế. Đó là không khí trì trệ nhàm chán ở một số công sở, là những nhân vật
trí trức có tài trong sáng nhưng bất cần, lập dị... Trước những cái hỗn tạp của
cuộc sống đời thường được thể hiện rất thành công, Nguyễn Việt Hà còn
mang những giây phút trong trẻo, những khát khao, ước vọng để con người ta
tự nhìn lại chính mình và có thể tìm thấy mình trong đó.
Sự độc đáo của Cơ hội của Chúa thể hiện trước hết ở cái nhìn đời sống
của nhà văn. Trong Cơ hội của Chúa, ta không tìm thấy đâu là lý tưởng, bản
ngã, đâu là ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Thế cuộc hỗn loạn, trớ trêu. Các
thang bảng giá trị đời sống tan tành đổ vỡ. Cả những niềm tin tôn giáo cũng
trở nên đáng ngờ vực, mong manh. Qua lối “umua đen” của nhà văn, đâu đâu
cũng thấy “những khái quát xanh rờn” về thời buổi, đại loại: “thị trường còn
trinh nguyên nhưng đã tự làm suy yếu bằng thói buôn bán thủ dâm”; “các
company nhiều như nấm sau mưa, nơi liên doanh của quan chức cơ hội với

Tất cả những thói tật của cuộc đời được đưa lên cùng một mặt sân giá trị sòng
phẳng. Nhà văn không thể, và cũng chẳng có quyền năng gì để phán xử
chúng. Anh ta hiểu rõ sự bất lực của mình trong việc đòi lại trật tự cho cái đời
sống đó. Tốt hơn cả, là chơi với nó.
Lối trần thuật kính vạn hoa ở đây khiến bạn đọc có thể nhìn đối tượng
từ nhiều góc độ, và cũng xoá đi ảo tưởng nhà văn là kẻ nhân danh Thượng đế
để minh định nhân vật, phán xét cuộc đời. Anh ta, một cách đầy gắng gỏi, chỉ
thực hiện việc tổ chức trần thuật. Vấn đề đánh giá nhân vật, sự kiện, có chăng,
là “thực quyền” của/ở mỗi bạn đọc. Hiện thực đời sống dưới những cái nhìn
khác nhau là đa tầng, không thuần nhất và cũng chẳng đáng tin. Nhà phê bình
Đoàn Cầm Thi gọi Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà là “tiểu thuyết của
những cái tôi”. Viết văn với anh ta cũng chỉ là một cứu cánh mơ hồ. Trong
Khải huyền muộn, qua kiểu “nhân vật nhà văn”, bao câu hỏi về nhà văn và
cuộc giằng co với ngôn từ, về vai trò - sứ mệnh của nhà văn đương đại được


25
Nguyễn Việt Hà tập trung mổ xẻ. Văn chương hoá ra chẳng phải cái túi càn
khôn để “đựng” cuộc đời như người ta vẫn tưởng. Nhà văn, trước sau, cuối
cùng thì cũng chỉ là kẻ đáng thương. Bất lực trước cuộc đời, anh ta loay hoay
với ngôn từ. Và, cả ngôn từ rồi cũng bất lực. Nó chẳng thể biện minh được
cho các sứ mệnh lớn lao mà trước nay nó oằn mình mang gánh…
1.2.3. Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái sinh ngày 18-10-1960 nguyên quán ở Quỳnh Đôi - Quỳnh
Lưu, Nghệ An nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Ông theo bậc đại học
nghành quan hệ quốc tế. Sau khi tốt nghiệp, ông đã tham gia viết báo và làm
công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu - Mĩ, đặc biệt là Ấn Độ. Ông là một
nhà ngoại giao, một nhà nghiên cứu Ấn Độ, một giảng viên. Hiện nay ông là
tiến sỹ ngành văn hóa phương Đông, công tác tại bộ ngoại giao Việt Nam.
Hồ Anh Thái bắt đầu viết văn lúc 18 tuổi, trong 30 năm cày ải trên cánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status