Ý thức cá nhân trong tiểu thuyết của Nhất Linh giai đoạn 19321939 - Pdf 26

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Với tư cách là một thành viên của cộng đồng, cá nhân đã xuất hiện
cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Trải qua quá trình phát triển lâu
dài của xã hội, với ý thức về bản ngã và bản sắc, từ tự phát đến tự giác, cùng
với những cuộc cách mạng dân chủ, vị trí của cá nhân từng bước được xác lập
như một chủ thể xã hội.
Việt Nam đầu thế kỷ XX đã chứng kiến sự chia tay dần dần của văn đàn
đối với kiểu nhà văn mang tư tưởng Nho giáo, dùng văn để truyền đạt đạo lý
thánh hiền, đem gương sáng đạo đức để giáo hóa. Văn học từ đây đến gần
hơn với con người và cuộc sống trong tính hiện thực của nó, quan tâm ngày
một sâu sắc hơn đến vấn đề cá nhân. Với tôn chỉ “trọng tự do cá nhân”, Tự
lực văn đoàn trở thành tổ chức văn học quan tâm đặc biệt đến vấn đề cá nhân
ở nửa đầu thế kỷ XX. Nhất Linh là người sáng lập Tự lực văn đoàn, đồng thời
cũng là linh hồn của nhóm. Cuộc đấu tranh bằng văn hóa, văn học nhằm xác
lập và cổ súy ý thức cá nhân diễn ra trong phần lớn sự nghiệp của Nhất Linh,
chính là hoạt động căn bản và bao trùm nhất, tập trung đầy đủ nhất chân dung
cũng như đóng góp của ông cho công cuộc đấu tranh giải phóng con người.
1.2. Nghiên cứu các hoạt động văn hóa, sáng tác văn học của Nhất Linh
là việc làm cần thiết để hiểu thêm quá trình vận động của tư tưởng, văn học
dân tộc, xác định rõ hơn vị trí của ông ở cương vị nhà cải cách - nhà văn này.
Đến nay, không ít người đã làm điều ấy. Ông đã được đề cập tới trong một số
công trình và từng bị coi là hiện tượng phức tạp. Tuy vậy, chưa có một nghiên
cứu nào tìm hiểu kĩ lưỡng và có tính hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác
của Nhất Linh, cũng như chưa khảo sát thật đầy đủ, khách quan về sự tác
động của nền văn hóa phương Tây, của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
cũng như nền giáo dục Tây học đến những quan điểm, tư tưởng xã hội và
2
nghệ thuật của nhà văn. Vì vậy, nghiên cứu về Nhất Linh để từ đó có cái nhìn
thật toàn diện, thật khách quan về con người tư tưởng và sự nghiệp của nhà

2.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung khảo sát 7 cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh trong giai
đoạn 1932- 1939, bao gồm: Gánh hàng hoa (cùng Khái Hưng) năm 1933,
Đời mưa gió (cùng Khái Hưng) năm 1934, Nắng thu năm 1934, Đoạn tuyệt
năm 1935, Lạnh lùng năm 1936, Đôi bạn năm 1937, Bướm trắng năm 1939.
Ngoài ra, để góp phần soi sáng cho vấn đề nghiên cứu, luận án cũng mở rộng
khảo sát đối với toàn bộ sáng tác văn chương, các hoạt động ngoài văn
chương của Nhất Linh và một số sáng tác của Tự lực văn đoàn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án đề ra mục tiêu phân tích các bình diện chính của ý thức cá nhân
trong tiểu thuyết của Nhất Linh giai đoạn 1932-1939. Đồng thời, làm rõ sự
vận động, phát triển của ý thức cá nhân trong tiểu thuyết của Nhất Linh ở từng
giai đoạn, góp phần khẳng định chắc chắn chỗ đứng của tác giả này trong tiến
trình hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc và vị trí hàng đầu của ông trong tư cách
là nhà văn đấu tranh cho giải phóng cá nhân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định các nhiệm vụ chính tập trung nghiên cứu là:
- Làm sáng tỏ khái niệm ý thức cá nhân, tìm hiểu cơ sở hình thành ý
thức cá nhân trong tiểu thuyết của Nhất Linh giai đoạn 1932-1939.
- Trình bày, phân tích diện mạo và diễn biến của ý thức cá nhân trong
các tiểu thuyết của Nhất Linh.
- Làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm Nhất Linh trong
việc thể hiện các bình diện của chủ nghĩa cá nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu
4
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu, tiếp cận tổng thể tác giả,
chủ yếu như sau:
- Phương pháp tiếp cận lịch sử
Xem xét hoạt động và sáng tác văn học của Nhất Linh trong bối cảnh

5.3. Từ kết quả của Luận án, xác định đầy đủ hơn vị trí của Nhất Linh
trong đời sống văn hóa- xã hội, văn học của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, nội dung chính của luận án gồm 4
chương:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Ý thức cá nhân và cơ sở hình thành ý thức cá nhân của Nhất
Linh
Chương 3. Diện mạo và diễn biến của ý thức cá nhân trong tiểu thuyết
Nhất Linh
Chương 4. Ý thức cá nhân trong tiểu thuyết của Nhất Linh, nhìn từ
phương diện nghệ thuật
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Về chủ đề cá nhân trong văn học Việt Nam
Vấn đề “ý thức cá nhân” thu hút sự quan tâm của văn chương nghệ
thuật từ rất sớm, đến nay, đã có nhiều thành tựu. Các tác giả đã đi sâu và khai
thác ý thức cá nhân trên nhiều bình diện.
1.1.1. Trong văn học trung đại
Trong văn học trung đại, giới nghiên cứu vẫn tồn tại hai luồng ý kiến
khác nhau về vấn đề ý thức cá nhân. Khuynh hướng thứ nhất cho rằng văn học
cổ trung đại thể hiện tính “phi ngã” (đồng nghĩa với việc không có cái tôi cá
nhân). Khuynh hướng thứ hai khẳng định ý thức cá nhân đã được thể hiện
trong văn học trung đại, ở một số tác giả với mức độ đậm nhạt khác nhau. Từ
góc độ của mình, chúng tôi thấy khuynh hướng thứ hai hoàn toàn có cơ sở.
Văn học Lý- Trần, giai đoạn đặt nền móng cho văn học viết, đã quan
tâm tới con người trong tư cách cá thể. Theo đánh giá của giáo sư Trần Đình
Sử, ý thức cá nhân trong văn học Lý- Trần, “được thức tỉnh trong vai trò tự
cứu, tự tìm đường giải thoát, tự tìm thấy yên tĩnh, hoà nhập với thiên nhiên

cợt với những tật xấu, nhưng qua đó, thể hiện thái độ ngạo đời của một nhà
nho bất đắc chí.
Có thể nói, ý thức cá nhân đã xuất hiện trong văn học Trung đại, từ thời
Lý- Trần cho tới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX. Trải qua gần 10 thế kỉ, ý
thức cá nhân có sự vận động để đến dần với nhận thức đầy đủ về nó. Trong sự
vận động đó, ý thức cá nhân trong văn học Lý- Trần đặt những viên gạch đầu
tiên trong việc quan tâm tới con người cá thể, suy tư, chiêm nghiệm về nhân
sinh, vũ trụ; rõ nét ở Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát và tiêu biểu với Nguyễn Khuyến, Tú Xương cuối thế kỉ XIX, đầu thế
8
kỉ XX. Dù đó là một ý thức cá nhân ở dạng chớm nở, nhưng không phải là
chưa xuất hiện. Với sự hiện diện này, có thể nói không phải văn học trung đại
là phi ngã- với nghĩa là không có con người cá nhân, mà là siêu ngã- với nghĩa
là kiểu cá nhân trung đại có phần nghiêng về loại hình. Nó chưa hoàn toàn là
cá nhân cá thể gắn với đời tư như sau này.
1.1.2. Trong văn học nửa đầu thế kỷ XX
Giai đoạn này, với những biến động lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, ý
thức cá nhân xuất hiện với màu sắc mới, thể hiện khá đậm đặc trong các sáng
tác thuộc khuynh hướng lãng mạn.
Tản Đà là người ý thức rất rõ về cái tài và sự đa tình ở mình, ông kêu
gọi hành đạo lập nghiệp và ngợi ca hưởng thụ, vui thú với trần tục ở đời, ôm
khát vọng “bồi lại tấm dư đồ rách, thiết tha thề nguyền cùng hồn non nước”,
đồng thời thích thả mình trong cái thú hưởng lạc, ăn chơi trong cơn “say nhừ”,
“say tít”… lúc hăng hái nhập thế, hành động, lúc lại buồn chán cảnh trần thế
và nuôi mộng thoát li. Cái tôi Tản Đà vừa là sự tiếp nối của cái tôi nhà nho tài
tử trong xã hội phong kiến, vừa ngông nghênh và đầy mâu thuẫn theo tinh
thần hiện đại. Đó là thói đa tình, phóng túng, hưởng lạc, là ý thức về quyền
năng của cái tôi, là sự mạnh dạn đưa ra những tình cảm riêng tư vào trong thơ,
khơi nguồn đầu tiên cái khao khát sống cho tình yêu, tận hưởng cuộc sống
tràn đầy năng lượng của tuổi thanh xuân. Ngông nghênh, kiêu bạc nhưng Tản

ca của những cái tôi cá nhân đa dạng, muôn màu: “Ta thoát lên tiên cùng Thế
Lữ, ta phiêu du trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn
Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã
khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, ta trở về
hồn ta cùng Huy Cận” [190,46]. Sau này, cái tôi trong Thơ Mới có sự phân rã,
không còn nguyên vẹn xúc cảm tươi mới thuở ban đầu. Khi ý thức cá nhân lên
đến cao độ, cũng là lúc cái tôi hoài nghi về sự tồn tại của bản thể. Nó tuyệt
10
vọng, không đường hướng, không lối thoát. Khi nhóm Xuân Thu nhã tập ra
đời, “cái tôi Thơ Mới tuyệt giao với hiện thực, với lí trí để trở về với cõi vô
thức, đề cao sự linh diệu của hành động sáng tạo thơ” [175,121].
Nguyễn Tuân cũng là một màu sắc độc đáo về ý thức cá nhân trong văn
học nửa đầu thế kỷ XX. Xuất hiện trong “bộ dạng” ngông nghênh kiêu bạc,
Nguyễn Tuân đọng lại trong lòng độc giả bởi cái tài trong việc khắc họa chân
dung những tài hoa nghệ sĩ như ông Nghè, ông Tú, ông Cống với những thú
chơi tao nhã, với những tài năng thiên bẩm và một tâm hồn “đẹp”. Đa số họ ý
thức về tài năng của mình, dám sống vì cái tài đó, kiên cường bất chấp hệ lụy.
Đó là sự biểu hiện của một thái độ không buông xuôi bất lực, không a dua với
thói đời kệch cỡm, phàm tục trong xã hội đương thời. Có những thời điểm, cái
tôi phủ nhận xã hội một cách cực đoan, nó đắm trong lạc thú trần tục mà quên
đi những gì cần làm trong một kiếp người (Chiếc lư đồng mắt cua) nhưng
vẫn còn sự tự trọng của một con người ý thức về nhân cách. Không thoát khỏi
căn bệnh của chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi Nguyễn Tuân chìm trong cô đơn, bế
tắc đã tìm đến thế giới của yêu ma (Xác ngọc lam, Đới roi, Rượu bệnh, Loạn
âm). Có thể hiểu đó là phản ứng tâm lý tất yếu của một ý thức cá nhân khí
khái, không chấp nhận tấn kịch xã hội. Nhìn một cách khách quan, cái tôi đó
gắng gồng mình lên để bảo vệ cho cái đẹp. Nó tự thấy tủi hổ, rồi hoài nghi
cộng đồng, thậm chí hoài nghi cả chính mình.
Trong giai đoạn đầu của trào lưu văn học hiện thực, các nhà văn dành
mối quan tâm chính cho con người giai cấp. Đến Nam Cao, ý thức về cá nhân

Thời kỳ thứ nhất (1932-1934) bao gồm những tiểu thuyết lãng mạn như Hồn
bướm mơ tiên (1933), Gánh hàng hoa (1934), trong đó có những tác phẩm
tiến bộ đấu tranh cho quyền sống của cá nhân, phê phán đại gia đình phong
kiến như Nửa chừng xuân (1934), Đoạn tuyệt (1935). Thời kỳ thứ hai (1936-
1939), khuynh hướng phê phán lễ giáo và đại gia đình phong kiến vẫn tiếp tục
12
với Lạnh lùng (1936), Thoát ly (1937), Thừa tự (1938); đồng thời cũng xuất
hiện khuynh hướng nghiêng về bình dân với sự đồng cảm chân thành (Gió
đầu mùa, 1937; Con trâu, 1939) hoặc với những hoạt động cải cách dân quê
theo tôn chỉ của Hội Ánh sáng (Những ngày vui- 1936, Gia đình- 1936, Con
đường sáng- 1938-1939); ngoài ra còn có khuynh hướng lý tưởng hóa hình
ảnh người khách chinh phu, mê man trong hành động, ra đi vì lý tưởng (Thế
rồi một buổi chiều- 1936, Tiêu sơn tráng sĩ- 1935, Đôi bạn- 1939). Thời kỳ
thứ ba bắt đầu vào khoảng cuối 1939 và kết thúc khi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp bùng nổ. Đây là thời kỳ Tự lực văn đoàn có những tác phẩm ít
nhiều mang màu sắc hiện đại chủ nghĩa như Bướm trắng (1939-1949), Đẹp
(1939-1940), Thanh Đức (1943).
Bản chất khuynh hướng của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là đấu tranh
cho chủ nghĩa cá nhân, khẳng định và giương cao lá cờ của chủ nghĩa cá nhân
tư sản. Khi mới xuất hiện, ngọn cờ chủ nghĩa cá nhân của Tự lực văn đoàn có
sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ, chiếm được sự đồng tình của đông đảo thanh
niên thành thị đương thời vì gắn liền với chủ nghĩa nhân văn, phát huy được
mặt tích cực của nó. Thời gian này, chủ nghĩa cá nhân chưa bị đẩy tới cực
đoan, vẫn còn gắn bó với đạo đức, với luân lý truyền thống. Tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn ở chặng đường đầu (1932-1936) tập trung phản ánh mâu thuẫn,
xung đột giữa cái mới và cái cũ, tức là xung đột giữa ý thức cá nhân, chủ
nghĩa cá nhân và đại gia đình phong kiến, với những tập tục, lễ giáo phong
kiến hủ lậu, hà khắc, trói buộc quyền sống và hạnh phúc cá nhân của con
người. Đó là mâu thuẫn giữa những cô gái mới như Nhung, Loan, Mai với
những bà mẹ chồng, bà án, bà tuần phủ nào đó. Xung đột đó, từ Hồn bướm

tranh đòi giải phóng cá nhân, Tự lực văn đoàn đã chuyển rất nhanh sang chủ
nghĩa cá nhân cực đoan của Andé Gide” [56,536].
14
Trong xã hội phong kiến, cá nhân không có quyền sống riêng. Từ trong
gia đình ra ngoài xã hội, nó phải tuân theo những nguyên tắc, những qui phạm
nghiệt ngã, con người bị trói buộc trong những qui phạm bất di bất dịch. Cuộc
đấu tranh đòi giải phóng cá nhân trong văn học lãng mạn trước 1930 (Tố
Tâm) chưa mạnh mẽ và quyết liệt như sau này trong phong trào Thơ mới và
Tự lực văn đoàn. Trong cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho giải phóng
cá nhân ra khỏi ràng buộc của lễ giáo phong kiến, cuộc đấu tranh giữa cái mới
và cái cũ, Tự lực văn đoàn đứng hẳn về phía cái mới: “Theo mới, như chúng
tôi đã nói, là Âu hóa… Âu hóa là đem những nguyên tắc của nền văn minh
Tây phương áp dụng vào đời ta. Ngày xưa ta không sống theo lẽ phải, ta sống
theo tục lệ thành kiến, theo mệnh lệnh bất khả luận của cổ nhân… Âu hóa là
điều hòa chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa xã hội, là hành động làm sao cho
trong xã hội, cá nhân được tự do phát triển giá trị của mình, cá nhân được tự
do nảy nở tính tình, tri thức của mình” [55].
Đến Tự lực văn đoàn, ý thức về con người cá nhân đã được nâng lên
thành một vấn đề xã hội. Đó là khát vọng vượt lên trên những ràng buộc của
xã hội phong kiến; giương cao lá cờ tự do yêu đương và tự do hôn nhân; ý
thức về sự bình đẳng nam nữ, về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự; tìm sự
giải thoát trong tình yêu, trong những ước mơ cải cách xã hội.
Nếu so với Thơ Mới, nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ở giai
đoạn đầu ít được biểu hiện trong những cảm xúc ủy mị. Dù chán chường,
tuyệt vọng họ vẫn sẵn sàng đối mặt, lựa chọn đấu tranh để giành lấy cái mình
muốn. Đó là tinh thần nhập thế đầy tích cực. Bên cạnh đó, các nhân vật trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn tự khẳng định cá nhân theo nhiều chiều
hướng khác nhau: thoát li vào tình yêu lãng mạn nhằm trốn chạy nỗi cô đơn,
đề cao tiếng nói của ái tình hoặc ôm giấc mộng cải cách xã hội. Ngọc- một
chàng trai thành phố hào hoa- dành tình yêu say đắm cho Lan- cô thôn nữ hiền

16
cuộc cạnh tranh, cướp đoạt. Ở một số tác phẩm thời kỳ cuối, Nhất Linh, Khái
Hưng không chú tâm nhiều vào việc đấu tranh giải phóng cá nhân, đòi nhân
quyền như trước, mà có xu hướng xây dựng những nhân vật cô đơn, bất lực vì
đã bị tước hết mọi vũ khí về tư tưởng, mọi quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân và
cộng đồng xã hội.
Tự lực văn đoàn có hoài bão về một nền văn hóa dân tộc và thực sự đã
có đóng góp lớn cho nền văn hóa dân tộc, góp phần quan trọng vào việc cách
tân văn học, xây dựng nền văn học hiện đại. Tự lực văn đoàn đã nói lên những
khát vọng dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu là của các tầng lớp tiểu
tư sản trí thức và viên chức thành thị.
Vấn đề ý thức cá nhân được Tự lực văn đoàn thể hiện trên các phương
diện cơ bản sau:
Thứ nhất, Tự lực văn đoàn tiếp nối tư tưởng giải phóng cá nhân từ số ít
nhà văn đầu thế kỷ XX, phát triển lên một tầm cao mới. Dù không đặt vấn đề
giải phóng xã hội nhưng đã đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản
ngã, đặc biệt đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ
chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia đình
phong kiến một cách quyết liệt.
Thứ hai, đi tiên phong trong công cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân
này, phải kể đến công lao của những cây bút như Nhất Linh, Khái Hưng,
Hoàng Đạo. Trong đó, áp đảo về số lượng tác phẩm, với các luận điểm mạnh
mẽ chính là vai trò của người chủ súy của Tự lực văn đoàn- nhà văn Nhất
Linh.
Thứ ba, thực chất lá cờ văn hóa của Tự lực văn đoàn là lá cờ của chủ
nghĩa cá nhân tư sản. Khi mới xuất hiện, ở những chặng đường đầu, nó đã
phát huy được những mặt tích cực; đến giai đoạn cuối, ý thức cá nhân trong
Tự lực văn đoàn đi theo xu hướng cực đoan, trái ngược với truyền thống đạo
lý của dân tộc, nhấn mạnh tự do cá nhân trong hành vi và lối sống có phần
17

Hội Ánh Sáng với “nhiều tia sáng yếu ớt hợp lại sẽ thành một luồng ánh sáng
lớn” [10] để thu hút các nhà trí thức có tấm lòng với người nghèo và cả thợ
thuyền, dân quê, học sinh… và “Hội Ánh sáng là một phong trào mới, đưa
dân tộc Việt Nam đến một cuộc đời mới, đẹp đẽ, tưng bừng” [9].
Các ý kiến tập trung đánh giá về sáng tác văn học của Nhất Linh, chủ
yếu ở thể loại tiểu thuyết. Tiểu thuyết của ông được coi là sự tiến bộ của tư
tưởng mới, có ý nghĩa “cách mạng”. Tác phẩm Lạnh lùng được nhiều người
đương thời nói đến nhất. Trên báo Tinh hoa số 3 ngày 27 tháng 3 năm 1937,
Nguyễn Lương Ngọc đã theo dõi khá sát chặng đường sáng tác của Nhất Linh,
ông viết: “Cũng như phần nhiều tác phẩm của ông (Nhất Linh), cái tiểu
thuyết mới này cũng là một luận đề tiểu thuyết. Nghĩa là nó vẫn đề xướng một
vấn đề triết lý, xã hội, nó vẫn chủ trương sự phá hoại một chế độ mới để thay
vào, nó vẫn muốn đánh đổ một quan niệm mà hoài bão một quan niệm khác.
Ông Nhất Linh đã tự gánh vác cái trọng trách của một nhà cải tạo xã hội, và
sao ta lại chẳng dám nói đứt đi cho rồi- ông đã là một nhà cách mệnh”.
Có thể thấy, khá nhiều ý kiến của các nhà phê bình trước 1945 đánh giá
về sự nghiệp của Nhất Linh. Trong đó, hoạt động văn hóa, chính trị cũng như
sáng tác văn học của ông- đặc biệt là sáng tác văn học với thể loại tiểu thuyết-
được đề cao. Về nội dung tư tưởng, các nhà phê bình khẳng định Nhất Linh có
ý thức cải cách xã hội, làm cho người đọc ghét cũ, yêu mới, góp phần đem
luồng không khí mới phấn khởi, tiến bộ vào xã hội… đồng thời, xác định cơ
sở nền tảng của tư tưởng ấy chính bởi sự tác động của văn hóa Pháp, của cuộc
cách mạng dân chủ tư sản Pháp và nhờ lòng quyết tâm theo nghề viết văn, làm
báo của Nhất Linh.
19
1.2.2. Từ 1945-1986
Giai đoạn này, do lịch sử đất nước có sự khác biệt giữa hai miền Nam-
Bắc nên tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa- xã hội của đất nước.
Nghiên cứu về Nhất Linh đi theo hai xu hướng khác nhau: Nhất Linh được đề
cao ở miền Nam nhưng lại bị phê phán ở miền Bắc.

chừng mực như bài Thử xác định vị trí của Nhất Linh trong văn học sử và
lịch sử Việt Nam của Nguyễn Văn Xung hay Nghĩ về một thái độ trí thức
của Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong Tạp chí Văn số 11-15/1964, còn hầu hết
những bài viết khác đều đưa lại cho người đọc cảm giác về sự tôn sùng mang
tính chủ quan, tình nhiều hơn lý.
Các nhà phê bình cũng có nói tới ảnh hưởng của văn học lãng mạn
Pháp tới các sáng tác của Nhất Linh, như Nắng thu ảnh hưởng Bản giao
hưởng đồng quê của Gide. Triết lý hành động để hành động trong Đôi bạn
cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng nhà văn trên, hay lối độc thoại của
Đôtxtôiépxki được vận dụng trong Bướm trắng… Tuy nhiên, trong bài nói về
vấn đề ảnh hưởng của Gide đến sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng cho rằng
sự băn khoăn ấy Nhất Linh đã có bốn năm trước khi đọc Gide. Gide chỉ làm
cho nó rõ rệt hơn ra mà thôi.
Có thể nói, các nhà phê bình miền Nam giai đoạn này có xu hướng
đánh giá cao hoạt động văn hóa, chính trị của Nhất Linh. Sáng tác văn học của
ông thì được ca ngợi cả về nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên, họ cũng phần
nào chỉ ra được điểm hạn chế trong các tiểu thuyết luận đề, và tính chất không
tưởng ở một số cuốn sách của nhà văn.
Ở miền Bắc, một số công trình nghiên cứu, giáo trình có bàn về Nhất
Linh như: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quí
Đôn, Sơ thảo văn học Việt Nam của Viện Văn học (1964), Tiểu thuyết Việt
21
Nam hiện đại tập 1 (1974) của Phan Cự Đệ, Văn học Việt Nam 1930-1945
(1961) của Bạch Năng Thi- Phan Cự Đệ. Ngoài ra các bài nghiên cứu của
Nguyễn Đức Đang, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc… cũng ít nhiều đề cập đến Nhất
Linh. Nhìn chung, cách đánh giá của các nhà nghiên cứu miền Bắc còn dè dặt,
do quan điểm lúc đó nhìn nhận văn học lãng mạn còn bị những định kiến
chính trị chi phối: “Tinh thần dân tộc không có trong tác phẩm của Nhất
Linh, ít nhất cũng không có cơ sở chắc chắn. Bởi lẽ tác giả không nói tới sự
áp bức bóc lột của đế quốc”, “ông ta chỉ sáng tác những tác phẩm giả tạo và

- Thứ nhất, do tác động của bối cảnh lịch sử: chiến tranh kéo dài, đất
nước bị chia cắt, phê bình văn học thời kỳ này chủ yếu dựa trên quan điểm xã
hội học và bị chi phối bởi tư tưởng chính trị. Vì vậy, trên phương diện tư
tưởng, các ý kiến trái ngược nhau giữa hai miền Nam- Bắc khi bàn về Nhất
Linh, nhưng trên phương diện nghệ thuật, các nhà nghiên cứu lại có nhiều
điểm gặp gỡ.
- Thứ hai, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương trong “Đề cương
văn hóa Việt Nam” (1943) đã xác định văn hóa là một mặt trận của cuộc đấu
tranh cách mạng. Văn chương trở thành vũ khí cổ vũ chiến đấu, hướng về đại
chúng, đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân. Như lẽ tất yếu, văn học lãng
mạn chưa được quan tâm đúng mức. Nhất Linh và Tự lực văn đoàn không
phải là một ngoại lệ.
- Thứ 3, Ở miền Nam, các bài viết tập trung nhiều ở nhóm tác giả là bạn
bè, những người “cùng hội cùng thuyền” và con cháu của nhà văn Nhất Linh,
vì vậy, phần nào các ý kiến bị chi phối bởi tình cảm và thiện chí của tình bầu
bạn và huyết thống, nên có lúc, ở một số bài viết còn thiếu tính khách quan.
Ngược lại, ở miền Bắc, trong nhiều năm, Nhất Linh trong quan niệm của
chúng ta, là nhà văn phản động ở giai đoạn cuối. Sự phức tạp ở nhà văn về tư
tưởng, thái độ chính trị, cùng với nguồn tài liệu về ông chưa thực sự đầy đủ đã
23
làm tổn hại đến tinh thần khách quan trong đánh giá nhà văn Nhất Linh một
thời gian dài.
Vì vậy, nghiên cứu về Nhất Linh, phải xuất phát từ chính đời người, đời
văn và những cống hiến của ông đối với đời sống văn học. Tìm hiểu Nhất
Linh với tinh thần ấy là điều cần thiết và cũng chính là cách chúng tôi đang
hướng tới.
1.2.3. Từ 1986 đến nay
Giai đoạn này các nhà nghiên cứu, phê bình nhìn nhận lại đóng góp của
Tự lực văn đoàn nói chung và nhà văn Nhất Linh nói riêng, có những đánh giá
toàn diện và thỏa đáng hơn. Các bài nghiên cứu của Trương Chính, Trần Hữu

một cách rầm rộ, và họ (Nhất Linh, Khái Hưng) đã tạo nên một cơn địa chấn
thực sự trên bình diện tư tưởng. Những tư tưởng ấy không phải không có lúc
gây sốc bởi nó quá mới, quá bạo nhưng nó đã đạt được mục đích, đó là thổi
bùng trong xã hội nhận thức về quyền sống, quyền được hạnh phúc và những
giá trị của người phụ nữ” [60].
Những năm đầu sau 1975, trong khi sách của Nhất Linh ít được hưởng
ứng trong nước, thì ở nước ngoài (Hoa Kỳ), một số tác phẩm của ông được in
lại. Tạp chí Thế kỷ XXI có nhiều bài phê bình về sự nghiệp văn học Nhất
Linh cũng như những đóng góp của ông cho văn hóa nước nhà. Trong đó, Võ
Phiến, Trương Bảo Sơn là những người viết nhiều, có ý kiến sắc bén về Nhất
Linh và luôn khẳng định địa vị quan trọng của Nhất Linh trong văn học Việt
Nam hiện đại. Ngoài việc đề cao Nhất Linh và văn nghiệp của ông, Võ Phiến
còn đánh giá cao Nhất Linh thời hậu chiến bởi sự đổi mới phong cách, bút
pháp, nghệ thuật… Ông khẳng định “Bình tâm mà nói, phải nhận rằng Nhất
Linh sau này viết sâu sắc hơn trước”.
Bên cạnh đó, Thụy Khuê cũng có một vài bài viết về Nhất Linh. Những
cố gắng của Thụy Khuê trong việc sưu tầm và nhận định, đánh giá về Nhất
25
Linh là không phủ nhận được. Dù vậy, phần phê bình cuốn truyện Bướm
Trắng và truyện dài Dòng Sông Thanh Thủy của tác giả này cho thấy còn có
nhiều gượng ép.
Tờ Thế kỷ XXI ở Hoa Kỳ mặc dù cố gắng dựng lại chân dung Nhất
Linh, người nghệ sĩ- người chiến sĩ nhưng còn tồn tại một số khuyết thiếu:
không nói tới giai đoạn làm báo của Nhất Linh với tờ Phong Hóa, Ngày Nay;
không xác định được nhà văn có uy tín của Tự lực văn đoàn là Thạch Lam,
Khái Hưng hay Nhất Linh; cũng như chưa phân định được các mốc văn học
đánh dấu con đường hoạt động và sáng tác của Nhất Linh.
Bản thân Nhất Linh, khi còn sống, đã từng không thực sự hài lòng với
chính những cuốn tiểu thuyết luận đề. Ông cho là trong sự nghiệp sáng tác của
mình, dở nhất là Đoạn tuyệt và Lạnh lùng, chỉ có Bướm trắng là “tạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status