Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí việt nam PVFC - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hoá và quốc tế hoá các
luồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng, khiến hoạt động
kinh doanh ngày càng trở nên phức tạp hơn. Trong bối cảnh đó, không một
ngân hàng hay tổ chức tài chính nào có thể tồn tại lâu dài mà không có hệ
thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro nói
chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng do vậy có vai trò sống còn đối với
hoạt động của bất kỳ một tổ chức tín dụng nào.
Đối với các hầu hết các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, hoạt động tín
dụng là hoạt động mang lại thu nhập chính và chủ yếu nhưng cũng là hoạt
động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ có tác động rất
lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín
dụng. Vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng luôn là mối
quan tâm hàng đầu trên phương diện lý thuyết cũng như trong thực tiễn của
các tổ chức tài chính ngân hàng.
Nhiều sự kiện đỗ vỡ xảy ra cho ngành tài chính ngân hàng đã cho thấy
công tác quản trị rủi ro tín dụng dù quan trọng song chưa được quan tâm đúng
mức tại các tổ chức tín dụng. Xuất phát từ nhận thức đó, tôi đã chọn đề tài “
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng Công
ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam - PVFC” làm đề tài nghiên cứu, với
mong muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu
thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng và đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng Công ty Tài chính Cổ
phần Dầu khí Việt Nam, góp phần đẩy mạnh hoạt động tín dụng trên cơ sở
đảm bảo an toàn và phát triển bền vững.


2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học và các luận văn thạc sỹ đề
cập đến các giải pháp hoàn thiện hoạt động QTRRTD tại các TCTD. Tuy

5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp luận duy vật biện chứng
được sử dụng, kết hợp sử dụng với các phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh, tổng hợp… để phân tích thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam.
6. Những đóng góp của luận văn
- Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và hoạt động
quản trị rủi ro tín dụng, rút ra một số bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro
tín dụng tại một tổ chức tín dụng điển hình.
- Làm rõ thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng Công ty
Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam. Từ những kết quả đạt được và hạn chế
trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, luận văn đã phân tích một số nguyên
nhân dẫn đến những tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại PVFC.
- Làm rõ phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại PVFC.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 03 chương,
cụ thể:
Chương I: Tổng quan về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong mô
hình công ty tài chính.
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng công
ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC).


Chương III: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại
PVFC.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Nguyễn Văn Định đã trực tiếp chỉ
bảo và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.



nguồn vốn của mình cho các gia đình và cá nhân vay vào mục đích mua sắm
hàng hoá tiêu dùng hoặc sửa chữa nhà cửa. Hầu hết các khoản cho vay đều
được trả góp định kỳ.
c. Công ty tài chính kinh doanh: CTTC loại này cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp dưới các hình thức như: Bao thanh toán, cho thuê tài chính...
1.1.2. Hoạt động của Công ty Tài chính
Các hoạt động của CTTC bao gồm: Huy động vốn, sử dụng vốn và các
hoạt động tài chính khác.
1.1.2.1. Huy động vốn:
Công ty tài chính huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức;
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy
động vốn của tổ chức;
- Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước
ngoài theo quy định của pháp luật; vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức
tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Như vậy, so với NHTM, hoạt động huy động vốn của CTTC bị bó hẹp
hơn. Thay vì được phép thực hiện các hình thức huy động vốn khác như nhận
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền
gửi khác hay phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để
huy động vốn trong nước và nước ngoài và tất cả các hình thức huy động vốn


khác mà các CTTC được phép sử dụng, CTTC chỉ được phép huy động vốn
dưới các hình thức nêu trên.
1.1.2.2. Sử dụng vốn
Các hình thức sử dụng vốn của CTTC bao gồm:
- Cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng;
- Bảo lãnh ngân hàng;
- Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá

- Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân để thực hiện
các hoạt động đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh, cấp tín dụng được
phép; ủy thác vốn cho tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng. Việc tiếp nhận
vốn ủy thác của cá nhân và ủy thác vốn cho các tổ chức tín dụng cấp tín dụng
thực hiện theo quy định của NHNN.
- Tham gia thị trường tiền tệ.
- Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.
- Bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; đại
lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
+ Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối.
+ Cung ứng dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư.
+ Cung ứng dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản của KH.
1.1.3. Hoạt đông tín dụng của Công ty Tài chính
Hoạt động tín dụng của CTTC bao gồm các hoạt động cho vay, bảo
lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán, cho


thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được NHNN chấp
thuận.
Hoạt động tín dụng của CTTC dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời, cụ thể bao gồm:
- KH phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thoả
thuận trong HĐTD. Các khoản tín dụng có nguồn gốc chủ yếu từ các khoản
tiền gửi của KH và các khoản mà CTTC vay mượn. CTTC có trách nhiệm
hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết đối với bên thứ 3. Do vậy, CTTC luôn
yêu cầu KH phải thực hiện đúng cam kết về trả nợ gốc và lãi vay nhằm đảm
bảo tính thanh khoản của mình. Đây cũng là điều kiện để CTTC tồn tại và
phát triển.
- KH phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đã thoả thuận
trong hợp đồng. Đây không những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt

Trong theo dõi danh mục, CTTC cần phải đảm bảo các hạn mức (ví dụ
hạn mức về ngành, lĩnh vực, hạn mức đối với KH/nhóm KH…) nhằm đảm
bảo không vi phạm các tỷ lệ an toàn, xem xét các xu hướng, tập trung vào các
tiêu chí hạn mức đã xác định nhằm giảm thiểu rủi ro danh mục cho vay và tối
đa hóa lợi nhuận.
Hoạt động theo dõi từng khoản vay riêng lẻ bao gồm: Theo dõi tình
hình thực hiện trả nợ của KH, cập nhật thông tin tài chính, theo dõi các thay
đổi trong môi trường kinh doanh của KH, cập nhật thông tin về TSĐB, việc


tuân thủ các cam kết, theo dõi khả năng sinh lời của phương án vay vốn của
KH, phân loại khoản vay và trích dự phòng.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi CTTC thu hồi hết nợ gốc và lãi. Các
khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn nợ gốc và lãi là các
khoản tín dụng an toàn. Đối với một số trường hợp KH không hoàn trả hoặc
hoàn trả không đúng hạn, việc xem xét tìm ra nguyên nhân là rất quan trọng
để giúp CTTC kịp thời đưa ra các quyết định xử lý kịp thời.
1.2. Rủi ro tín dụng của Công ty Tài chính
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
1.2.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
RRTD của CTTC là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân
hàng của CTTC do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động tín dụng tại các CTTC. RRTD
tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ
khoản nợ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng tiền của CTTC và gây ảnh
hưởng tới khả năng thanh khoản của các CTTC.
1.2.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD được phân chia thành các
loại sau:

ngân; theo dõi khoản vay (bao gồm cả việc đưa ra các dấu hiệu cảnh báo sớm


về tình trạng của khách hàng), quản lý các khoản nợ có vấn đề cho đến khi
thu hồi vốn.
1.2.2.1. Kết cấu mô hình quản trị rủi ro tín dụng
a. Chính sách quản trị rủi ro tín dụng
Nhằm đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, các
CTTC thiết lập chính sách QTRRTD đồng bộ nhằm đưa ra các quy tắc, chuẩn
mực trong hoạt động tín dụng của mình. Chính sách QTRRTD thường được
thiết lập dưới dạng các văn bản, quy trình, quy chế, quy định cấp tín dụng đối
với từng loại khách hàng, từng loại lĩnh vực ngành nghề, từng loại mục đích
sử dụng vốn khác nhau. Các quy định này đảm bảo hoạt động tín dụng luôn
nằm trong khuân khổ cho phép, đảm bảo không vượt quá ngưỡng giới hạn
chịu rủi ro của CTTC.
Ngoài ra, chính sách QTRRTD còn vạch ra phương hướng hoạt động
và một khung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn.
Điều này tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi
ro và nâng cao khả năng sinh lời của CTTC.
b. Bộ máy quản trị rủi ro tín dụng
Tùy đặc điểm hoạt động, các CTTC xây dựng bộ máy QTRRTD phù
hợp nhằm đảm bảo có đầy đủ nhân sự đối với các hoạt động QTRRTD ở các
cấp khác nhau và các phạm vi, mức độ khác nhau. Điều này đảm bảo hoạt
động QTRRTD được thực hiện quy củ, toàn diện.
c. Công cụ quản trị rủi ro tín dụng
Việc áp dụng các công cụ QTRRTD là không thể thiếu trong hoạt động
QTRRTD tại các CTTC. Tùy từng mức độ phát triển của hoạt động
QTRRTD, mỗi CTTC áp dụng các công cụ QTRRTD khác nhau như:



trả nợ của phương án vay vốn/dự án đầu tư.
- Kiểm soát, theo dõi sau khi cho vay
Để hạn chế rủi ro đạo đức, các CTTC sử dụng cơ chế giám sát. Trong
cơ chế giám sát, CTTC thường thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay và
hoạt động sản xuất kinh doanh của KH sau khi giải ngân theo định kỳ. Trong
các HĐTD, luôn có điều khoản yêu cầu khách hàng vay cung cấp đầy đủ và
kịp thời các thông tin liên quan đến hoạt động SXKD và tình hình triển khai
phương án vay vốn của KH. Ngoài ra, CTTC còn sử dụng các hệ thống giám
sát khác như hệ thống thông tin tín dụng, thông tin trên thị trường chứng
khoán, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, các cơ quan quản lý....
- Phân tán rủi ro
Phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc thực hiện cấp tín dụng
cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, khu vực sản xuất kinh doanh khác nhau
nhằm tránh những tổn thất lớn xảy ra cho CTTC. Phân tán rủi ro là một công
cụ chủ yếu thường được các CTTC áp dụng. Các hình thức phân tán rủi ro
chủ yếu bao gồm:
- Không tập trung cấp tín dụng cho một ngành, một lĩnh vực hay một khu
vực.
- Không tập trung tín dụng vào một hoặc một số KH.


- Đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng.
- Cho vay đồng tài trợ.
- Kiểm tra tín dụng
Kiểm tra tín dụng là công cụ thường xuyên được áp dụng tại các CTTC
nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng được giám sát chặt chẽ, hạn chế được rủi
ro phát sinh. Việc kiểm tra tín dụng bao gồm:
- Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định
nhằm đảm bảo khoản vay được theo dõi thường xuyên, kịp thời phát hiện các
vấn đề có nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của CTTC.

kinh nghiệm của các NHTM khác đối với KH này, mục đích khoản vay, khả
năng phân tích, dự báo về hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp, phân
loại tín dụng, mức độ tín chấp của khoản vay, có người bảo lãnh cho khoản
vay hay không.
- Năng lực của người vay - (Capacity)
Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia. Đòi hỏi người đi vay
phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Các nội dung
trong C – Capacity bao gồm: Năng lực hành vi dân sự của chủ doanh nghiệp
và của người bảo lãnh, những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của
doanh nghiệp vay vốn. mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến thời


điểm hiện tại, cơ cấu sở hữu, chủ sở hữu, tính chất hoạt động, sản phẩm,
khách hàng chính, người cung cấp chính của doanh nghiệp
- Năng lực tài chính của người vay - (Cash)
Xác định nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán
hàng hay thu nhập từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng
khoán,….. Các nội dung trong C – Cash bao gồm: Thu nhập đã qua, tình hình
phân chia cổ tức, doanh thu bán hàng, dòng tiền hiện tại và dự kiến, tính
thanh khoản của tài sản lưu động, vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho,
cơ cấu nguồn vốn, tình trạng vay nợ, kiểm soát chi phí, các tỷ lệ về khả năng
trả lãi, khả năng và chất lượng quản lý, những thay đổi gần đây trong phương
pháp hạch toán kế toán
- Bảo đảm tiền vay - (Collateral)
Các nội dung trong C – Collateral bao gồm: các tài sản bảo đảm là gì?,
khả năng bị lỗi thời, mất giá của tài sản, giá trị tài sản, mức độ chuyên biệt
của tài sản, tình trạng đã bị cầm cố, thế chấp của tài sản, các hạn chế khác,
tình trạng bảo hiểm, đã được dùng để bảo lãnh cho người khác, vị thế của
Ngân hàng đối với việc đòi cầm cố/thế chấp đối với tài sản, nhu cầu vay vốn
trong tương lai.

- Mô hình điểm số Z
Đây là mô hình do E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các
DN vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD
đối với người đi vay và phụ thuộc vào:


- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ
của người vay.
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z= 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó:
X1 = Hệ số vốn lưu động/tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của
nợ.
X5 = Hệ số doanh thu/tổng tài sản.
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp.
Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp KH vào
nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số
thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ cao.
- Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở
dữ liệu đánh giá nội bộ IRB (Internal Ratings Based)
Với phương pháp này, các CTTC sẽ dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để
xác định khả năng tổn thất tín dụng thông qua các biến số:
PD - Probability of Default: xác suất vỡ nợ
LGD - Loss Given Default: tỷ lệ tổn thất ước tính;
EAD - Exposure at Default: dư nợ của KH tại thời điểm vỡ nợ.

*

Tỷ lệ nợ quá hạn

Số dư nợ quá hạn

=

Tổng dư nợ
*

Số KH quá hạn

Tỷ lệ KH có nợ quá hạn =

Tổng số KH có dư nợ
b. Các chỉ số đo lường rủi ro mất vốn
*

Dự phòng RRTD được trích lập
Dư nợ kỳ báo cáo

Tỷ lệ dự phòng RRTD =

*

Tỷ lệ mất vốn

=


nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm
phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp
độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư. Các TCTD cần xác định
và quản lý RRTD trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình, đặc biệt là các
sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban của
Hội đồng quản trị.
- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc)
Các TCTD cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh
(thị trường mục tiêu, đối tượng KH, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng…).
TCTD cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại KH vay vốn và
nhóm KH vay vốn để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so
sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với KH trong
các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. TCTD phải có quy trình rõ ràng trong
phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp
thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách
nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần phát triển đội ngũ
nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có kiến thức nhằm đưa ra
các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và QTRRTD. Việc
cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên,
đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp
cho các KH.
- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù
hợp (10 nguyên tắc)


Các TCTD cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh
mục đầu tư có RRTD, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập thông tin tài
chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay… theo quy mô và
mức độ phức tạp của TCTD. Đồng thời hệ thống này phải có khả năng nắm
bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các giao kèo của KH … để


- Soát xét và đưa ra các quyết định

- Đưa ra các tiêu chuẩn và yêu cầu tối

xử lý đối với các vi phạm

thiểu

QTRRTD

- Xây dựng các quy trình giám sát và

- Giám sát tiến độ thực hiện các kế

báo cáo theo cấp

hoạch hành động trọng yếu

- Xây dựng các quy trình hướng dẫn về
việc giải quyết các trường hợp không
tuân thủ
- Xây dựng các giới hạn vi phạm và
mức độ chấp nhận rủi ro tín dụng
Thông tin RRTD
- Những trường hợp vượt ra ngoài quy

Bộ phận QTRRTD
- Bao quát và kiểm tra về thông tin



toán
- Thiết kế nhằm

rủi ro trọng yếu

đánh giá các yếu

- Bao gồm mô

tố chính trong


Trích đoạn Nguyên nhân chủ quan Hoàn thiện cơ cấu tổ chức mô hình QTRRTD Nâng cao trình độ nhân sự QTRRTD Hoàn thiện hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động tín dụng Thực hiện đúng quy trình tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status