Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đông anh - Pdf 14

TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI
*** KHểA LUN TT NGHIP ti: Thực trạng và Một số giải pháp nâng cao hiệu Quả
hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn đông anh
Sinh viờn thc hin : Phm Th Minh Hi
Lp : A12
Khoỏ : K43C
Giỏo viờn hng dn : TS. Nguyn ỡnh Th
H Ni, 2008
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I: Khái quát chung về quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại 3
I - Khái quát chung về quản trị rủi ro 3

2.3. Quản trị rủi ro tín dụng (M) 36
2.4. Lợi nhuận (E) 36
2.5. Thanh khoản (L) 36
2.6. Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S) 37
2.7. Phân tích mức chênh lệch 37
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh ngân hàng
NN&PTNT Đông Anh 38
I - Giới thiệu khái quát về chi nhánh ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 38
1 - Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông
Anh 38
2 - Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 38
3 - Kết quả hoạt động đầu tư, kinh doanh tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT
Đông Anh thời gian qua 42
3.1. Kết quả tài chính của Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 42
3.2. Hoạt động huy động vốn 43
3.3. Hoạt động sử dụng vốn 46
3.4. Hoạt động dịch vụ và các tiện ích ngân hàng 48
II, Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT
Đông Anh. 50
1 - Đánh giá tổng quan về rủi ro trong kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng
NN&PTNT Đông Anh 50
2 - Nhận diện những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân
hàng NN&PTNT Đông Anh 53
2.1. Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 53
2.2. Năng lực sử dụng vốn 54
2.3. Lãi suất huy động vốn 55
2.4. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 56
3 - Phân tích, đánh giá rủi ro trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng
NN&PTNT Đông Anh 58
3.1. Phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng 58

3 - Giải pháp quản trị 104
3.1. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ định hướng theo rủi ro 104
3.2. Cần thiết lập phòng Quản trị rủi ro riêng 105
Kết luận…………………………………… 106
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………….107 Danh mục bảng

Bảng 1: Những biểu hiện của một khoản tín dụng xấuvà một chính sách tín dụng
kém hiệu quả 23
Bảng 2: Bảng hệ số phần trăm tương ứng với từng ngành theo quy định của Ủy ban
giam sát theo ngân hàng thuộc BIS 38
Bảng 3: Kết quả tài chính của ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 48
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn 50
Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng đầu tư vốn 52
Bảng 6: Kết quả hoạt động dịch vụ và các tiện ích ngân hàng 53
Bảng 7: Lãi suất huy động và cho vay 55
Bảng 8: Bảng xác định tác động của giảm rủi ro đến hiệu quả của đầu tư 57
Bảng 9: Lãi suất huy động vốn của chi nhánh 61
Bảng 10: Vốn huy động và sử dụng phân theo loại tiền 62
Bảng 11: Tình hình nợ quá hạn 63
Bảng 12: Nợ quá hạn theo thời gian 65
Bảng 13: Nợ quá hạn phân theo kỳ hạn nợ 65
Bảng 14: Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế 66
Bảng 15: Huy động và sử dụng vốn phân theo thời hạn 68
Bảng 16: Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn 70
Bảng 17: Vốn huy động và sử dụng theo thời gian 70
Bảng 18: Trích lập DPRR đối với hoạt động cấp tín dụng 83
Bảng 19: Tình hình trích lập quỹ dự phòng rủi ro 85

trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh
Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh".
Đề tài này, nhằm nêu lên những thực trạng và giải pháp để nâng cao hoạt động
quản trị rủi ro của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh, với nội dung chính
gồm 3 chương như sau:
Chương I: Khái quát chung về quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

2

2

NN&PTNT Đông Anh.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tại chi
nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh.
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế, nên trong
quá trình thực hiện đề tài này em khó tránh khỏi những thiếu sót. Vậy em kính mong
nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy, cô giáo và Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên
Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh.
Em xin chân thành cảm ơn!

Có rất nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm và định nghĩa về rủi ro khác nhau của các
nhà kinh tế và các nhà kinh doanh. Do đó, để thâu tóm một định nghĩa chuẩn xác thế
nào là rủi ro cho mọi môi trường kinh doanh cũng như mọi giai đoạn phát triển lại là
việc khó. Nhưng nói chung, rủi ro là những biến cố không lường trước được, biến cố
mà chúng ta hoàn toàn không biết chắc. Rủi ro ứng với sự sai lệch giữa dự kiến và
thực tế.
Rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào và cũng có thể đến với
bất kỳ ai. Trong kinh doanh, có thể nói rủi ro luôn là người bạn đồng hành. Khi rủi ro
xảy ra, hoạt động kinh doanh sẽ gặp những thiệt hại nhất định, đôi khi là vô cùng lớn.
Rủi ro phát sinh muôn màu muôn vẻ, là hậu quả của những nhân tố chủ quan và khách
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

4

4

quan nhưng chủ yếu là rủi ro khách quan ngoài dự đoán, rủi ro có thể phát sinh từ các
nguyên nhân như thiên tai, chiến tranh, năng lực sản xuất kém, do sự thay đổi trong
chính sách nhà nước và rất nhiều nguyên nhân khác tuỳ thuộc vào bản chất công việc
cũng như môi trường tiến hành công việc Nhìn chung, con người ghét sự rủi ro,
muốn né tránh, gạt bỏ rủi ro ra khỏi cuộc sống của mình. Nhưng rủi ro là những biểu
hiện của thế giới khách quan, phát sinh và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Chính
vì vậy, chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường sống hay môi
trường kinh doanh mà chỉ có thể nghiên cứu nó, nhận biết nó và phòng ngừa hạn chế
nó đến mức thấp nhất.
1.2. Khái niệm quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro dự án là việc nhận dạng, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa
chọn, triển khai và quản trịcác hoạt động nhằm khắc phục rủi ro.

mất mát tổn thất hoặc không mất mát tổn thất; thứ hai, rủi ro thuần tuý là loại rủi ro
liên quan đến việc phá hoại tài sản. Biện pháp đối phó với loại rủi ro này là bảo hiểm.
- Rủi ro suy tính là loại rủi ro mà dẫn đến kết quả có thể là lời hoặc lỗ, được thua
hoặc không đổi, do ảnh hưởng của những nguyên nhân rất khó dự đoán trong khi phạm
vi ảnh hưởng rất rộng lớn. Rủi ro suy tính là loại rủi ro thường xảy ra trong thực tế.
Đặc điểm cơ bản của loại rủi ro này là thường không được bảo hiểm nhưng có thể đối
phó bằng biện pháp rào chắn.
2.1.2. Rủi ro có thể tính toán được và không tính toán được
- Rủi ro có thể tính toán được là loại rủi ro mà tần số xuất hiện của nó có thể tiên
đoán được ở một mức độ tin cậy nhất định.
- Rủi ro không thể tính toán được là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó bất thường
và rất khó dự đoán.
2.1.3. Rủi ro nội sinh và rủi ro ngoại sinh
- Rủi ro nội sinh là rủi ro do những nguyên nhân nội tại của dự án. Quy mô, độ
phức tạp, tính mới lạ của dự án cùng với các nhân tố như tốc độ thiết kế và xây dựng,
hệ thống tổ chức quản trị là những nguyên nhân nội sinh.
- Rủi ro ngoại sinh là rủi ro do những nguyên nhân bên ngoài dự án gây nên.
Những nhân tố rủi ro ngoại sinh thường gặp như lạm phát, thị trường, tính sẵn có của
lao động và nguyên liệu, độ bất định của chính trị, ảnh hưởng của thời tiết
2.2. Phân tích, đánh giá rủi ro
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

6

6

Khi đưa ra các quyết định đầu tư, doanh nghiệp thường dựa trên các số liệu giả
định, những số liệu này đôi khi không thể lường trước những tình huống bất trắc nảy


7

thường xuyên của thiệt hại khi nó xuất hiện.
Để ngăn ngừa thiệt hại cần xác định nguồn gốc thiệt hại. Có hai nhóm nhân tố
chính đó là nhóm nhân tố môi trường đầu tư và nhân tố thuộc về bên trong dự án. Một
số biện pháp ngăn ngừa như phát triển hệ thống an toàn, đào tạo lại lao động, thuê
người bảo vệ
- Giảm bớt thiệt hại: Chương trình giảm bớt thiệt hại là việc chủ đầu tư, cán bộ
quản trị sử dụng các biện pháp đo lường phân tích, đánh giá lại rủi ro liên tục và xây
dựng các kế hoạch để đối phó và làm giảm mức độ thiệt hại khi nó xảy ra. Tuy nhiên,
khi mức độ thiệt hại khá nghiêm trọng nếu nó xảy ra và khi không thể chuyển dịch
thiệt hại thì áp dụng biện pháp này là không phù hợp.
2.3.2. Xử lý rủi ro
- Chấp nhận rủi ro: Chấp nhận rủi ro là trường hợp chủ đầu tư hoặc cán bộ dự
án hoàn toàn biết trước rủi ro và những hậu quả của nó nhưng sẵn sàng chấp nhận
những rủi ro thiệt hại nếu nó xuất hiện. Chấp nhận rủi ro áp dụng trong trường hợp
mức độ thiệt hại thấp và khả năng bị thiệt hại không lớn. Ngoài ra có những rủi ro mà
đơn vị phải chấp nhận ví dụ như thiên tai, dịch họa bất ngờ.
- Tự phòng vệ rủi ro: Tự phòng vệ rủi ro là phương pháp quản trị rủi ro trong đó
đơn vị chấp nhận rủi ro và tự nguyện kết thành một nhóm với nhiều đơn vị rủi ro tương
tự khác đủ để dự đoán chính xác mức độ thiệt hại và do đó chuẩn bị trước nguồn quỹ
để bù đắp nếu nó xảy ra. Tự phòng vệ rủi ro có đặc điểm:
- Là hình thức chấp nhận rủi ro.
- Thường là sự kết hợp giữa các đơn vị đầu tư trong cùng công ty bố mẹ hoặc
cùng một ngành.
- Có chuyển dịch rủi ro và tái phân phối chi phí thiệt hại, có hoạt động dự đoán
mức thiệt hại.
- Hệ thống tự phòng vệ rủi ro cũng đáp ứng mọi chỉ tiêu của hệ thống bảo hiểm.
Tự phòng vệ rủi ro có lợi thế là nâng cao khả năng ngăn ngừa thiệt hại, thủ tục chi

chi phí của nó thì nên thay thế bằng một chương trình khác hợp trị hơn.
II - Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
1 - Tổng quan về ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1. Khái niệm NHTM
Về bản chất, NHTM cũng như các doanh nghiệp khác, nhưng có điểm khác biệt là
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

9

9

một NHTM không kinh doanh hàng hoá thông thường mà kinh doanh loại hàng hoá
đặc biệt: Tiền tệ. NHTM huy động tiền tệ từ mọi thành phần của nền kinh tế: từ dân cư,
từ tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và sử dụng để cho vay, như vậy NHTM
không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá nhưng góp phần to
lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội thông qua hoạt động của mình: huy động vốn, sử
dụng vốn, cung cấp các công cụ thanh toán và các hoạt động dịch vụ khác.
Tại Việt Nam, theo luật tổ chức tín dụng ngày 26/12/1997 "Ngân hàng là loại hình
tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan". Hoạt động ngân hàng theo quy định là: hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các trung gian tài chính ở chỗ NHTM là
ngân hàng kinh doanh tiền gửi, trong đó có tiền gửi không kỳ hạn, làm dịch vụ thanh
toán. Chính từ những hoạt động này đã làm cho ngân hàng có khả năng tăng bội số tiền
gửi của khách hàng thông qua hệ thống ngân hàng của mình.
1.2. Vai trò của NHTM

sách tiền tệ quốc gia như: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng
trưởng kinh tế. Qua việc NHTM huy động vốn được nhiều và các giao dịch thanh toán
đều được thực hiện thông qua ngân hàng. Ngân hàng Trung ương sẽ kiểm soát được
lượng tiền mặt lưu thông, hạn chế nguy cơ lạm phát.
1.3. Chức năng của NHTM
1.3.1. Chức năng trung gian tài chính
NHTM huy động các khoản vốn, tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các thành phần
kinh tế, hình thành nên nguồn vốn của NHTM và thực hiện cho vay ra các thành phần
kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng trở thành trung gian tài chính, thông qua ngân
hàng, vốn được chuyển đến những nơi cần vốn một cách phù hợp với yêu cầu vay vốn
về thời hạn và giá trị. Khi thực hiện chức năng này, NHTM đã tạo ra lợi ích cho tất cả
các bên.
- Với người gửi tiền: Vốn của họ được đảm bảo, đồng thời thu được lãi.
- Với người vay tiền: Nhu cầu vốn được đáp ứng kịp thời, tiện lợi cho quá trình
sản xuất kinh doanh.
- Với ngân hàng: Thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

11

11

động vốn, giảm thiểu rủi ro, đa dạng hoá danh mục đầu tư.
Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM, chức năng này cũng phản ánh
bản chất của ngân hàng thương mại: đó là đi vay để cho vay và quyết định sự phát triển
của ngân hàng và là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Mặt khác, chức năng trung gian tài chính, NHTM đã góp phần giảm chi phí giao
dịch, tiết kiệm thời gian, hạn chế rủi ro do những nguyên nhân: người có vốn chưa sử

lên, khách hàng có thể sử dụng vốn để mua hàng hoá và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho
vay NHTM đã tạo ra phương tiện thanh toán cho hoạt động kinh tế trong khu vực.
1.4. Nhiệm vụ chủ yếu của NHTM
1.4.1. Huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nhiệm vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của
NHTM vì NHTM kinh doanh bằng vốn huy động là chủ yếu.
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, NHTM thu hút vốn nhàn rỗi, chưa sử dụng
từ các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư thông qua các hình thức: Mở tài khoản cho
khách hàng để giao dịch thanh toán, các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu Bên cạnh đó NHTM cũng đi vay ngân hàng Trung ương
khi cần thiết để tạo nên nguồn vốn phục vụ quá trình kinh doanh của mình.
Với nghiệp vụ huy động vốn NHTM đã thực sự huy động được luồng vốn dồi dào
từ nền kinh tế, làm cho đồng tiền sinh lợi, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thông suốt.
1.4.2. Nhiệm vụ sử dụng vốn
Khi huy động được vốn, NHTM sẽ sử dụng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các
dịch vụ ngân hàng khác. Đây là hoạt động phản ánh bản chất của NHTM (đi vay và
cho vay).
Phần chênh lệch lãi suất cho vay và huy động huy động vốn sẽ là phần NHTM đ-
ược hưởng. Nếu NHTM huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế hoạch
sử dụng vốn hợp trị , hiệu quả thì không những không đem lại lợi nhuận mà còn không
bù đắp được chi phí huy động. Do vậy nhiệm vụ sử dụng vốn được coi là nhiệm vụ
trực tiếp mang lại lợi nhuận cho NHTM.
* Ngoài hai nhiệm vụ huy động vốn và sử dụng vốn, NHTM còn một số nhiệm vụ
như: Cung ứng các dịch vụ phong phú để phục vụ khách hàng. Trên cơ sở tài khoản
của khách hàng mở tại NHTM, ngân hàng sẽ thực hiện các yêu cầu chuyển tiền, uỷ
nhiệm chi, thanh toán séc, chuyển khoản
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

chính, ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng, giảm khả năng thanh toán của ngân
hàng, và có nguy cơ gây mất vốn kinh doanh, phá sản ngân hàng.
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

14

14

Khi bất kỳ một rủi ro nào đó xảy ra đều có thể làm cho thu nhập từ hoạt động kinh
doanh của ngân hàng bị giảm sút, không những thế mà còn làm giảm uy tín của ngân
hàng trên thị trường, gây hoang mang mất lòng tin từ phía khách hàng. Nếu rủi ro xảy
ra ở mức độ cao sẽ có nguy cơ ngân hàng bị mất vốn, mất khả năng thanh toán gây ra
phá sản ngân hàng
2.2.2. Đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà vốn trong nền
kinh tế, và trong sự thành công của chính sách tiền tệ quốc gia. Nếu rủi ro xảy ra làm
giảm vòng quay sử dụng vốn của ngân hàng, giảm khả năng cung cấp vốn cho nền
kinh tế, làm chậm tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế.
Hoạt động ngân hàng có tính chất xã hội hoá cao, khi một ngân hàng rơi vào tình
trạng đổ vỡ sẽ làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác. Rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng
đến khả năng thanh toán của ngân hàng, tình trạng này kéo dài sẽ hoặc đến một mức độ
nào đó sẽ làm cho người gửi tiền mất lòng tin và ồ ạt kéo đến rút tiền gửi ra. Tâm lý
hoang mang mất tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, sẽ làm nhiều người khác đến các
ngân hàng khác rút tiền ra, các ngân hàng khác sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, gây ra
mất ổn định của toàn hệ thống ngân hàng và sự mất ổn định của hệ thống tài chính
quốc gia nói chung. Sự khủng hoảng của hệ thống tài chính quốc gia sẽ dẫn đến sự
khủng hoảng chung của cả nền kinh tế trong nước và thậm chí kéo theo sự khủng
hoảng của nền kinh tế khu vực.

2.4.1. Nhận diện rủi ro
Hoạt động kinh doanh của NHTM vô cùng mạo hiểm, có nguy cơ bị tổn thất rất
lớn. Điều này cũng khẳng định kinh doanh ngân hàng là một nghề lắm rủi ro. Nhận
thức và đánh giá đúng đắn về các rủi ro ngân hàng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng
thường xuyên của các NHTM. Nếu hiểu rõ chúng ta có thể chấp nhận rủi ro một cách
có ý thức và có kế hoạch để đối phó với hậu quả khi sự việc xấu đi.
Các rủi ro thường gặp phải trong hoạt động kinh doanh của mình bao gồm các rủi
ro cơ bản như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất; ngoài
ra còn các rủi ro khác như: rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động,
rủi ro quốc gia và các rủi ro thuần tuý khác. Tất cả các rủi ro khi xảy ra ở mức độ
nghiêm trọng đều dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán hay còn gọi là rủi ro thanh
khoản.
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

16

16

CÁC RỦI RO NGÂN HÀNG
Rủi ro
tín dụng
Rủi ro
lãi suất
Rủi ro
hối đoái
Rủi ro hoạt
động
Rủi ro cnghệ


- Ngân hàng huy động và đi vay vốn với thời hạn ngắn, và cứ tuần hoàn chúng để
sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn. Do đó, nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự
không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ.
- Sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất. Khi lãi suất tăng,
nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn,
những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với
mức lãi suất thấp đã thoả thuận. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến
luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là thanh khoản của ngân hàng.
- Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo. Những
trục trặc về thanh khoản sẽ làm sói mòn lòng tin của dân chúng vào ngân hàng. Khi
khách hàng ồ ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng sẽ khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi
ro thanh khoản.
Đây là loại rủi ro riêng của ngân hàng và liên quan đến sự sống còn của ngân
hàng. Rủi ro này thường là hậu quả của một hay nhiều loại rủi ro mà ngân hàng không
lường trước được. Trong trường hợp này, vốn tự có của ngân hàng không có khả năng
bù đắp hết tất cả các khoản mất mát, thiệt hại, ngân hàng dễ rơi vào tình trạng vỡ nợ
hay phá sản.
- Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là một hiện tượng thường gặp ở bất kỳ một
NHTM nào, và nó cũng xảy ra trên tất cả các lĩnh vực, đối tượng, vùng đầu tư: quốc
doanh, hợp tác xã, hộ sản xuất, cho vay sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng; cho vay khu
vực nông thôn, thành thị Rủi ro tín dụng xảy ra có thể do nguyên nhân chủ quan về
phía NHTM, khách hàng vay vốn, nhưng cũng có thể do nguyên nhân bất khả kháng
như thiên tai, địch hoạ
Rủi ro tín dụng là rủi ro trong hoạt động cho vay, xảy ra khi không thu được đủ nợ
theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng (hay Khế ước nhận nợ).
Như vậy, rủi ro tín dụng xuất hiện khi xảy ra một hoặc đồng thời cả hai điều kiện:
không thu đủ nợ của khoản vay (bao gồm cả gốc và lãi) và không thu được theo đúng
thời hạn trong Hợp đồng tín dụng. Nếu tất cả các khoản vay đầu tư của ngân hàng đều
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Rủi ro tín dụng là rủi ro hết sức phức tạp, quản trịvà phòng ngừa nó rất khó khăn,
nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Bất cứ một rủi ro nào đó của người vay
cũng có thể đưa đến rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi
ro, song nếu ngân hàng có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu thì có thể ngăn ngừa rủi
ro, hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra.
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Khoa KT&KDQT-FTU
Phạm Thị Minh Hải A12-K43C

19

19

- Rủi ro lãi suất: Cũng như giá cả của mọi loại hàng hoá khác trong nền kinh tế
thì trường, lãi suất cũng thường xuyên thay đổi, ảnh hưởng đến thu nhập và chi phí của
chủ thể hoạt động trên thị trường tài chính. Lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả
để thuê vốn trong một thời gian nào đó. Như vậy, lãi suất cũng là một loại giá cả. Rủi
ro lãi suất là rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi có sự biến động về lãi suất làm giảm
tiền lãi và thu nhập của ngân hàng. Thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm chi phí cho
nguồn vốn lớn hơn chi phí sử dụng vốn. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến thua lỗ
trong kinh doanh của ngân hàng.
Như vậy, rủi ro lãi suất là những tác động do biến động lãi suất đối với hoạt động
tài chính của ngân hàng. Rủi ro lãi suất thường xảy ra trong những trường hợp sau:
- Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, chi phí của
ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi lạm phát cao thì
thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay.
- Rủi ro lãi suất cũng có thể xảy ra do trình độ thấp kém, bị thua thiệt trong việc
cạnh tranh lãi suất ở thị trường. Hoặc do nhiều yếu tố của nền kinh tế tác động đến lãi
suất như cung, cầu, yếu tố thị trường khi nhà nước có quyết định điều chỉnh lãi suất
theo hướng giảm xuống trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn trả. Như vậy cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status