Phân tích và đánh giá nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay (2005 2010) những biện pháp để phát huy thế mạnh và hạn chế yếu kém của nguồn lực tài chính doanh nghiệp nhà nước - Pdf 31

MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM
3.3.1.................................................................... Cải cách nền tài chính quốc gia
.................................................................................................................................... 39
3.3.2. Đổi mới cơ chế tài chính, đa dạng hóa nguồn lực dịch vụ công..........41
3.3.3. Hoàn thiện cơ chế, chính sách TCDN, tái cấu trúc DNNN.................42
3.3.4. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về tài chính............................43
3.3.5. Nâng cao năng lực và hiệu quả thanh tra giám giát tài chính quốc gia
44
3.3.6. Cổ phần hóa DNNN............................................................................... 45
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ đổi mới vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến rõ
rệt trong quá trình chuyển đổi cơ cấu. Từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá sang nền
kinh tế thị trường - nền kinh tế mở, với nhiều loại hình doanh nghiệp mới ra đời và tồn
tại song song với nhau. Tuy nhiên Nhà nước khẳng định rằng Doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN) vẫn luôn là loại hình chủ chốt có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế chính trị của Việt Nam. Tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI Việt Nam khẳng định
vẫn phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa tức là Doanh
nghiệp Nhà nước là thành phần chỉ đạo của nền kinh tế mở. Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách, biện pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước. Đặc biệt là trong thời gian gần đây, Quốc hội và Chính phủ đã chỉ đạo soạn thảo
và ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng tạo cơ sở pháp lý nhằm đẩy mạnh quá
trình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước. Quá

Theo Sắc lệnh số 104/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ban hành ngày 1/1/1948,
doanh nghiệp nhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia. Điều 2 Sắc lệnh này
ghi nhận: "Doanh nghiệp quốc gia là một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của
quốc gia và do quốc gia điều khiển". Sau đó, những đơn vị kinh tế của Nhà nước
được gọi là xí nghiệp quốc doanh, lâm trường quốc doanh (trong nông nghiệp),
cửa hàng quốc doanh (trong thương nghiệp)…
Thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước được sử dụng chính thức trong Nghị định
338/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành lập và giải thể doanh
nghiệp nhà nước. Điều 1 Nghị định này đã định nghĩa: Doanh nghiệp nhà nước là
tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lí với tư cách chủ
sở hữu.
Doanh nghiệp nhà nước là pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình
đẳng trước pháp luật.
Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa trong Điều 1 Luật
doanh nghiệp nhà nước như sau: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do
Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lí, hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước
giao".
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
 DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư và thành lập
Trước hết, DNNN là một tổ chức kinh tế nên phải lấy các hoạt động sản xuất
kinh doanh làm chủ yếu. Hoạt động này có tính chất liên tục trong suốt quá trình tồn
tại của doanh nghiệp theo đúng lĩnh vực, ngành nghề đã đăng ký tổ chức kinh tế chịu
trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình với tư cách là một tổ chức kinh tế, DNNN là
một thực thể độc lập với cơ quan công quyền, tổ chức xã hội.
DNNN trước hết phải được Nhà nước đầu tư vốn, nhưng vấn đề ở đây là Nhà
nước đầu tư vốn như thế nào? xét trên khía cạnh hình thành thì doanh nghiệp hay một
công ty mới thành lập, vấn đề sở hữu ban đầu quyết định loại hình của doanh nghiệp
hay của công ty đó, nếu vốn ban đầu của một công ty là vốn cổ phần thì rõ ràng là
công ty cổ phần. Nếu vốn ban đầu là của nhóm người không phải phát hành cổ phiếu

soát, Đại hội công nhân viên chức, các tổ chức Đảng và đoàn thể xã hội và mối quan
hệ giữa các cơ cấu tổ chức này trong nội bộ với Nhà nước.
− Xác định thẩm quyền, trình tự thủ tục, của việc Nhà nước bổ nhiệm, miễm
nhiệm các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như Chủ tịch HĐQT, Giám đốc,
Tổng giám đốc, các thành viên HĐQT, Kế toán trưởng, các thành viên ban kiểm soát.
− Hoạt động của DNNN chịu sự chi phối của Nhà nước về các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao. So với qui định tại Nghị định 388/HĐBT. "Doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động theo định hướng của Nhà nước thì quản lý hoạt động của DNNN
theo mục tiêu đặt ra, rõ ràng là thoáng hơn phù hợp tính đa dạng của loại hình DNNN
trong cơ chế thị trường. Quản lý theo mục tiêu cho phép doanh nghiệp có thể chủ
động nghiên cứu chuyển đổi hướng kinh doanh, tất nhiên phải đăng ký theo quy định
chung. DNNN không phải thực hiện mục tiêu do Nhà nước đề ra theo thiết kế ban
đầu. Nhưng cũng không thể quy định chỉ có các doanh nghiệp công ích hoạt động trên
lĩnh vực công cộng, đảm bảo an ninh, quốc phòng, mới bắt buộc phải theo thiết kế ban
đầu của Nhà nước còn các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có thể tự thay đổi
hướng kinh doanh miễn là kinh doanh có lãi có đóng góp cho ngân sách, tạo làm việc,
thu nhập cho công nhân theo chúng tôi DNNN có thể thay đổi mục tiêu nhưng không
thể tự ý thay đổi mà không có sự cho phép của Nhà nước. Nhà nước là chủ sở hứu
được DNNN, do đó quyền đặt ra mục tiêu và thay đổi mục tiêu là quá trình hoạt động
của doanh nghiệp là quyền của Nhà nước.
Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 3


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

 DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền quản lý vốn, tài sản do Nhà nước
giao

ngay cả đối với doanh nghiệp 100% với Nhà nước.
Nếu doanh nghiệp không có tài sản riêng cần thiết thì không đủ điều kiện để trở
thành pháp nhân. Doanh nghiệp không có quyền độc lập, chi phối đối với tài sản của
nó thì không có khả năng gạnh chịu pháp luật dân sự và do đó không thể trở thành chủ
thể của quan hệ pháp luật dân sự khác. Các quyền tài sản này do pháp luật quy định.

Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 4


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

Thực chất quyền tài sản DNNN với tư cách là một pháp nhân là các quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với tài sản của nó, khác với các quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể dân sự khác đối với tài sản của họ. Đó là các quyền lợi về tài sản theo
nghĩa rộng gồm có quyển sử dụng đối với vốn và tài sản được Nhà nước giao quyền
của chủ nợ, quyền sở hữu trí tuệ, quyền hưởng dụng, quyền thu lãi do đầu tư nước
ngoài doanh nghiệp.
Ngoài tư cách là chủ thể độc lập của các quan hệ pháp luật dân sự DNNN còn
là một chủ thể cạnh tranh trên thị trường có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tự chịu
trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh, tự phát triển tự ràng buộc, DNNN có quyền
tự sản xuất kinh doanh và cốt lõi vật chất của quyền này quyền tự chủ về vốn, của
DNNN được mở rộng. Để hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường, giành
ưu thế trong cạnh trạnh, pháp luật cho phép DNNN được quyền sử dụng tài sản, thế
chấp tài sản (những thiết bị, nhà xưởng, quan trọng phải được cơ quan có thẩm quyền
cho phép) trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn, có quyền dùng tài sản của doanh
nghiệp để đầu tư, liên doanh góp vốn cổ phần theo quy định của pháp luật, được giữ


1.1.4. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước
 Sự cần thiết khách quan phải có Doanh nghiệp nhà nước
Sở dĩ tất cả các quốc gia đều có DNNN, tuy tỷ lệ có khác nhau giữa các nước, là
vì:
− Nhà nước cần có thực lực về kinh tế để thực hiện các tác động quản lý đối với
nền kinh tế nói riêng, xã hội nói chung.
− Nhà nước cần tích tụ, tập trung tư bản xã hội để tạo nên những bàn đạp ban đầu
cho sự khởi phát kinh tế.
− Trong thời kỳ tích luỹ ban đầu, lượng tích luỹ của nhân dân còn quá phân tán
và nhỏ bé, không đáp ứng được yêu cầu về quy mô vốn đầu tư tối ưu cho công nghiệp
hoá, hiện đại hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân. Phải có sự tập
trung của Nhà nước để mọi nguồn vốn nhỏ bé, rải rác của nhân dân được dồn tích lại,
đủ để xây dựng nền móng chung cho toàn xã hội.
− Có một số hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp không của Nhà nước không
được làm, không làm được và không muốn làm, còn Nhà nước thì không thể để xã hội
thiếu sản phẩm hoặc dịch vụ.
− Nhà nước không thể để cho xã hội thiếu sản phẩm và dịch vụ là vì: việc thiếu
hàng hoá, dịch vụ có thể gây nên các bất ổn về chính trị- xã hội.
 Vai trò của Doanh nghiệp nhà nước
DNNN là một công cụ kinh tế đặc biệt trong hệ thống các công cụ kinh tế để Nhà
nước thực hiện sự quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân nói riêng, toàn xã
hội nói chung một cách hiệu lực.
Vai trò này thể hiện trên hai mặt:
− Là công cụ kinh tế để Nhà nước gây áp lực kinh tế đối với các đối tượng mà
Nhà nước muốn dùng áp lực kinh tế để điều chỉnh.
− Là công cụ kinh tế để Nhà nước bày tỏ thiện chí, thiện cảm, tính nhân văn,
nhân đạo của giai cấp cầm quyền, mà Nhà nước là đại biểu, đối với toàn thể cộng
đồng, để từ đó dành lấy thiện cảm của toàn thể cộng đồng xã hội đối với giai cấp cầm
quyền, mà Nhà nước là đại diện. Cả hai mục đích trên của Nhà nước đều có thể đạt

hướng đem lại ánh sáng văn minh cho mọi vùng lãnh thổ, xoá bỏ sự cách biệt quá
mức giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và vùng núi.
− DNNN giữ vai trò bổ sung thị trường khi cần thiết: Chức năng này được các
DNNN thực hiện thông qua việc chúng cung cấp cho thị trường những hàng hoá và
dịch vụ theo chủ trương, kế hoạch nhà nước nhằm vào các khoảng trống của cung.
1.1.5. Sự khác nhau giữa DNNN của nước ta so với DNNN trên thế giới
TIÊU CHÍ DOANH
NGHIỆP
NHÀ
STT
DNNN TRÊN THẾ GIỚI
SO SÁNH
NƯỚC VN
1
Khái niệm
- Do nhà nước sở hữu 100%/ - Rất rất ít doanh nghiệp mà
vốn điều lệ;
nhà nước sở hữu 100% vốn
- CTCP mà nhà nước nắm cổ điều lệ;
phần đa số hoặc chi phối chưa - Doanh nghiệp mà nhà nước
hẳn được xem là DNNN mà nắm giữ cổ phần chi phối
được xem như đã cổ phần hóa
được coi là DNNN:
+ Rất ít loại hình doanh
nghiệp mà nhà nước nắm giữ
cổ phần đa số ( trên 75%);
+ Nhà nước nắm cổ phần chi
phối trên 30%/VĐL được xem
là DNNN;
- Việc bán bớt hoặc bán toàn

huy
vốn

thức - Vay vốn từ các tổ chức tín
động dụng;
- Vốn nhà nước cấp;
- DNNN không thể huy động
được vốn cổ phần, không thể
niêm yết, do vậy qui mô của
khối DNNN ngày càng nhỏ bé
so với các DNNN đã cổ phần
hóa hoặc doanh nghiệp cổ phần
tư nhân trừ 1 vài DNNN giữ vị
thế độc quyền trong những
ngành quan trọng như dầu khí,
bưu chính viễn thông, điện lực,
tài nguyên khoáng sản;
Chế độ công - Chưa có cơ chế để DNNN
khai
minh phải công bố báo cáo tài chính
bạch
lên Website và các phương tiện
thông tin đại chúng, trừ lĩnh
vực tài chính ngân hàng;
- Ít có DNNN tự nguyện công
bố báo cáo tài chính lên trang
Web;
- Rất khó nắm bắt được tình
hình tài chính và tình hình hoạt
động của các Tập đoàn , Tổng

thường xuyên như 1 doanh
nghiệp niêm yết;
- Chịu sự giám sát, chất vấn từ
các cổ đông thông qua nhiều
hình thức, chẳng hạn như từ
Đại hội cổ đông, từ việc khởi
kiện Ban lãnh đạo Doanh
nghiệp…
- Tổng công ty quản lý vốn
nhà nước như Tamasek chẳng
hạn, tuy nhiên mô hình như
Tamasek chỉ tồn tại ở 1 số
quốc gia;
Page 8


Tài chính công _ 210810601

6

7

Chế độ thu - Theo qui định của Bộ Lao
nhập
của động;
người
lao - Chỉ có cơ chế trả tiền lương,
động
tiền thưởng và phụ cấp theo
mức khống chế;

quốc gia đang trong quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường, chẳng hạn như
Hungary, Bộ này có nhiệm vụ
quản lý để tư nhân hóa tất cả
DNNN, sau khi tiến trình tư
nhân hóa kết thúc, Bộ này
được giải thể để thành lập
UBCKNN;
- Theo cơ chế thị trường;
- Một số lĩnh vực đặc quyền
đặc lợi thì chính sách tiền
lương, tiền thưởng do cơ quan
đại diện nhà nước phê duyệt
nhưng cũng phải căn cứ vào
mặt bằng xã hội;
- Người lao động và Ban quản
lý DN còn được hưởng những
hình thức lương phi vật chất
như được mua cổ phần ưu đãi,
quyền mua cổ phần….
- Chính sách thu hút người tài:
+ Cởi mở hơn so với loại hình
DNNN đóng;
+ Những nhà quản trị tài ba
cũng không thích làm việc tại
DNNN vì bị nhiều hạn chế
- Nhà nước nắm giữ cổ phần
chi phối nhưng hoạt động như
1 cổ đông lớn;

cố định và vốn lưu động.
 Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh
nghiệp.
− Tài sản cố định: là cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp, phản ánh
năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp. Tài
sản cố định là những tư liệu lao động phải đáp ứng hai tiêu chuẩn sau:
+
Thời gian sử dụng từ một năm trở lên
+
Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định do
Nhà nước quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ (theo chế độ kế
toán ban hành theo quyết định 15/2006/BTC thì TSCĐ có giá từ 10.000.000 trở lên).
− Phân loại tài sản cố định: Phân theo hình thức biểu hiện thì tài sản cố định
bao gồm: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
+
Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất, được
chia thành các nhóm sau:
 Nhà cửa, vật kiến trúc
 Máy móc, thiết bị
 Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
 Thiết bị, dụng cụ quản lý.
 Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm.
Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 10


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát
sinh có liên quan nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí
thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt
các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng
cơ bản.
1.2.3. Phát triển nguồn lực tài chính doanh nghiệp
Phát triển nguồn lực tài chính của doanh nghiệp phải là quá trình tăng trưởng
cả về quy mô tổng lượng nguồn lực tài chính, đảm bảo tính liên tục của nguồn lực tài
chính và tiến bộ về cơ cấu nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh
nghiệp.
 Tăng trưởng về quy mô tổng lượng tài chính của doanh nghiệp
Quy mô tổng lượng tài chính của doanh nghiệp tăng lên chủ yếu từ các nguồn
sau: Lợi nhuận để lại hàng năm tăng, tăng các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, các
khoản nợ phải trả tăng và tăng thêm huy động vốn bằng phát hành cổ phần, phát hành
thêm trái phiếu công ty. Tuy nhiên phát triển nguồn lực tài chính của doanh nghiệp
Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 11


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

không chỉ là việc tăng lên về quy mô tổng lượng mà là quá trình đảm bảo tính liên tục
của nguồn lực tài chính và tạo một cơ cấu nguồn lực tài chính một cách hợp lý.
 Đảm bảo tính liên tục của nguồn lực tài chính
Từ xa xưa dân gian đã có quan niệm “ Buôn tài không bằng dài vốn”, điều này
luôn nhắc nhở các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp phải tìm cách đảm bảo cho
nguồn lực tài chính không những không xói mòn mà còn phải có tính liên tục, ngày


Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 12


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

− Thứ hai, quốc hữu hóa xí nghiệp của các nhà tư sản mại bản, tư sản dân tộc đã
bỏ ra nước ngoài hoặc xí nghiệp nhà nước của chế độ cũ. Hình thức này được áp dụng
rộng rãi trong những năm 70 và đỉnh cao vào năm 1975, 1976.
− Thứ ba, biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tọc thành các xí
nghiệp công tư hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh.
Cũng giống các nước theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác Việt Nam đã vận
dụng học thuyết Mác – Lênin để thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, coi
chế độ công hữu là nền tảng kinh tế để xóa bỏ sự phân hóa giàu nghèo, bất công xã
hội do nền kinh tế thị trường và chế độ tư hữu gây ra, để xây dựng một chế độ công
hữu do nhân dân lao động làm chủ. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nước
ta đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò của kinh tế nhà nước, coi đó là hiện thân của
chế độ công hữu có sức mạnh toàn năng trong việc tổ chức mọi hoạt động kinh tế của
xã hội đồng thời phủ nhận vai trò của thị trường, của kinh tế tư nhân.
Vì vậy nền kinh tế quốc dân ở nước ta không phải là một nền sản xuất hàng hóa
mà là một nền kinh tế hiện vật và xã hội hóa đươc quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu, bao cấp: Nhà nước XHCN vừa tập trung quyền lực chính trị vừa
là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các tư liệu sản xuất của
xã hội và nhà nước vừa là người chỉ huy, vừa là người tổ chức thực hiện SXKD.
Ở nước ta, trong thời gian dài trước đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) doanh
nghiệp nhà nước đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, ở

sự quản lý của nhà nước, hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn được xác định vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân cần phải củng cố và phát triển nhất là trong ngành và
lĩnh vực then chốt, quan trọng, có tác dụng mở đường và tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế khác phát triển.
Doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết vĩ mô
nền kinh tế. Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước đối với
nền kinh tế thị trường. Đây là yêu cầu có tính quy luật chung của sự phát triển kinh tế
xã hội, vì bản thân nền kinh tế thị trường chứa đựng những khuyết tật mà muốn khắc
phục nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước.
Các doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp hoạt động các hoạt
động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích được củng cố và phát triển
trong ngành và lĩnh vực then chốt, tạo cơ sở hạ tầng và tiền đề tốt cho sự phát triển
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thông qua doanh nghiệp nhà nước, nhà nước tạo ra
nguồn dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường, thực hiện điều chỉnh các cân
đối cơ bản của nền kinh tế. Doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư có định hướng để khắc
phục bản chất “vô chính phủ” của nền kinh tế thị trường, duy trì môi trường cạnh
tranh lành mạnh, chống xu hướng độc quyền của tập đoàn tư nhân, đi đầu trong đổi
mới công nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hướng năng suất – chất lượng –
hiệu quả.
Như vậy, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ yêu cầu
khách quan của nền kinh tế thị trường nước ta và được ghi thành chủ trương, chính
sách và pháp luật của nhà nước. Vai trò luật định này là yếu tốc quan trọng chi phối sự
điều chỉnh pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Để thực
hiện được vai trò đó trước hết phải kiên quyết đổi mới hệ thống doanh nghiệp này.
Việc đổi mới phải được đặt trong sự phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân và phải
xuất phát từ thực trạng doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.
1.5.
Đánh giá chung về tình hình hoạt động và tài chính của các doanh
nghiệp nhà nước hiện nay
1.5.1. Tỷ trọng của DNNN trong nền kinh tế

35,2
9,1
2. Cơ cấu thu nhập quốc dân
67,3
24,4
42,9
2,7
3. Cơ cấu lao động xã hội
86,2
17,7
71,5
3,8
0,04
Năm 1987, cùng với việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần Đảng và Nhà
nước ta đã chủ trương đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp, chuyển sang cơ
chế hạch toán kinh doanh mở rộng quyền tự chủ về tài chính cho doanh nghiệp. Bằng
một loạt hệ thống văn bản pháp qui, từ quyết định 217/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm
1987 của Hội đồng Bộ trưởng xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của DNNN,
tiếp đó là Nghị định số 500/HĐBT ngày 23 tháng 3 năm 1998 của Hội đồng Bộ
trưởng ban hành điều lệ xí nghiệp quốc doanh. Nghị định số 98/HĐBT ngày 20 tháng
6 năm 1988 ban hành quy định về quyền làm chủ tập thể lao động tại xí nghiệp quốc
doanh...
Do áp dụng các biện pháp sát nhập, giải thể những doanh nghiệp nhỏ làm ăn
thua lỗ, đến nay còn khoảng 5.280 DNNN, giảm được hơn 7.000 doanh nghiệp.
DNNN vẫn giữ được vai trò chủ đạo trong nhiều ngành kinh tế khác nhau đặc biệt là
những ngành quan trọng, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ quan trọng của nền
kinh tế như điện, nước, than, xi măng, vận tải, hàng không, bưu chính viễn thông,
công nghệ thông tin... DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong GDP: 2005 là 38,4%, năm

2009
2010
1. Tổng sản phẩm trong nước GDP
393.031 461.344 490.458 516.566 551.609
(tỷ đồng)
Trong đó khu vực kinh tế quốc
159.836 179.718 187.561 195.046 204.057
doanh
2. Tỷ trọng GDP của DNNN trong
38,4
35,93
35,54
35,14
33,74
tổng sản phẩm trong nước
3. Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
8,23
8,46
6,31
5,32
6,78
Trong đó khu vực kinh tế quốc dân
6,17
5,91
4,36
3,99
4,62
4. Kim ngạch xuất khẩu (triệu
32,33
48,4

Trong cơ cấu về tài sản, tỷ trọng tài sản cố định chiếm gần 40% tổng tài sản,
thể hiện các tập đoàn, tổng công ty đã tăng cường đầu tư, đổi mới tài sản cố định, hiện
Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 16


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

đại hoá công nghệ, thiết bị để phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động sản xuất
kinh doanh.

Nợ phải trả
Theo quy định hiện hành, các tập đoàn, tổng công ty được quyền chủ động huy
động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong phạm vi hệ số nợ phải trả trên vốn điều
lệ không vượt quá 3 lần. Tuy nhiên, để đánh giá đúng tình hình huy động vốn trên khả
năng tài chính, nợ phải trả cần được tính trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng
công ty.
Năm 2006, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là 419.991 tỷ
đồng, bình quân bằng 1,32 lần vốn chủ sở hữu, đến hết năm 2010, tổng số nợ phải trả
của các tập đoàn, tổng công ty là 1.088.290 tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ
sở hữu.
Xét từng tập đoàn, tổng công ty thì có 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải
trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó: Có 7 tổng công ty trên 10 lần; Có 9 tổng
công ty trên 5 - 10 lần; Có 14 tổng công ty từ 3 - 5 lần.
1.5.3. Về kết quả sản xuất kinh doanh

Doanh thu

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

Việt Nam (nay là Tập đoàn); Tổng công ty Sông Đà (nay là Tập đoàn); Tổng công ty
Đầu tư phát triển nhà và đô thị (nay là Tập đoàn); Tổng công ty Du lịch Sài Gòn;
Tổng công ty Thương mại Sài Gòn; Tổng công ty Bến Thành; Tổng công ty Công
nghiệp Sài Gòn;…
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua do công tác quản trị, giá bán một số mặt
hàng chưa được thực hiện hoàn toàn theo giá thị trường, khủng hoảng về tài chính
toàn cầu… là những yếu tố ảnh hưởng đến một số tập đoàn, tổng công ty vài năm trở
lại đây kinh doanh thua lỗ như:
+ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): Yếu tố kết cấu sản lượng điện sản xuất và
mua ngoài của EVN ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của EVN; nếu
thời tiết thuận lợi, mưa nhiều đầu nguồn thì sản lượng thuỷ điện nhiều; trong khi đó
giá bán điện của các nhà máy thuỷ điện thấp hơn so với nhiệt điện, đồng thời phải
tăng thêm cả phát điện từ dầu, vì vậy kết cấu sản lượng điện từ thuỷ điện là một yếu tố
gần như quyết định kết quả kinh doanh của EVN (năm 2010, theo đề án, sản lượng
phát điện từ dầu là 822 triệu KWh, thực tế là 2.488,5 triệu KWh).
− Chênh lệch tỷ giá cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh
của Tập đoàn như chi phí mua điện bằng ngoại tệ tăng; nhiều khoản vay đầu tư của
EVN bằng ngoại tệ nên khi tỷ giá tăng thì chi phí lãi vay cũng tăng; đồng thời khoản
chênh lệch tỷ giá do cuối năm đánh giá lại các khoản vay có gốc ngoại tệ sẽ tăng rất
lớn. Nếu tính đúng theo quy định thì từ năm 2008 đến nay kết quả kinh doanh của
EVN năm nào cũng lỗ, nguyên nhân chính do chênh lệch tỷ giá. Tính đến 31/12/2010
EVN chưa phân bổ được vào chi phí sản xuất kinh doanh khoản lỗ chênh lệch tỷ giá
luỹ kế là 15.463 tỷ đồng.
− Đối với giá bán điện cho các hộ dùng điện vẫn thực hiện theo giá cũ là 1.077
đ/KWh. Từ 01/3/2011, giá bán điện mới được tăng lên là 1.242 đ/KWh, mức tăng này
vẫn chưa thể bù đắp chi phí (theo tính toán của EVN, giá thành điện bình quân 6 tháng
đầu năm 2011 là 1.303,40 đ/kWh, ước cả năm 2011 là 1.350,20 đ/kWh).
− Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài

tỷ đồng, giảm 8 % so với thực hiện năm 2006.
− Năm 2008, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 223.260
tỷ đồng, tăng 67% so với thực hiện năm 2007 (do giá dầu trên thế giới tăng đột biến,
nên tăng nguồn thu từ dầu thô). Nếu loại trừ yếu tố tăng đột biến từ nguồn thu dầu thô
(khoảng 32.100 tỷ đồng), thì nộp ngân sách năm 2008 chỉ tăng 40% so với thực hiện
năm 2007.
− Năm 2009, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 189.991
tỷ đồng, giảm 15 % so với thực hiện năm 2008 (do biến động của giá dầu trên thế
giới, nên nguồn thu từ dầu giảm).
− Năm 2010, nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty là 231.526
tỷ đồng, tăng 21 % so với thực hiện năm 2009.
Hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được nâng cao dần qua các
năm, tạo sự tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận, làm tăng nguồn thu cho ngân sách
nhà nước, góp phần cân đối nguồn thu để thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, đảm bảo an
sinh xã hội. Trong đó, nhiều tập đoàn, tổng công ty liên tục có lãi nên số nộp ngân
sách nhà nước lớn như: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; Tập đoàn Bưu chính
viễn thông Việt Nam; Tập đoàn Viễn thông Quân đội; Tập đoàn Công nghiệp Than –
khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam; Tổng công ty Lương thực miền
Bắc; Tổng công ty Lương thực miền Nam; Tập đoàn Hoá chất Việt Nam; Tập đoàn
Công nghiệp xây dựng Việt Nam; Tổng công ty Thương mại Sài Gòn; Tổng công ty
Công nghiệp Sài Gòn; Tổng công ty Khánh Việt…
Tuy vậy, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
nói chung và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng còn chưa tương xứng với
vị trí, vai trò, tiềm năng của doanh nghiệp.
1.5.5. Về đầu tư vào một số lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính

Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 19


0,14
0,07
0,20

Đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm
Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 2.236 tỷ đồng vào lĩnh
vực bảo hiểm; năm 2009 là 1.578 tỷ đồng; năm 2008 là 3.007 tỷ đồng; năm 2007 là
2.655 tỷ đồng và năm 2006 là 758 tỷ đồng.
Tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm so với: Vốn Chủ sở hữu và Tổng tài sản
như sau:
Tỷ lệ % đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm so với các chỉ tiêu
STT
Chỉ tiêu
Năm
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
2006
1.
Vốn Chủ sở hữu 0,24
0,65
0,62
0,28
0,34
2.
Tổng tài sản
0,10
0,26
0,25
0,11
0,12
 Đầu tư vào bất động sản

Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 495 tỷ đồng vào Quỹ
đầu tư; năm 2009 là 694 tỷ đồng; năm 2008 là 1.424 tỷ đồng; năm 2007 là 1.050 tỷ
đồng và năm 2006 là 600 tỷ đồng.
Tỷ lệ đầu tư vào các Quỹ đầu tư so với: Vốn Chủ sở hữu và Tổng tài sản như
sau:
STT
Tỷ lệ % đầu tư vào Quỹ đầu tư so với các chỉ tiêu
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
1.
Vốn Chủ sở hữu 0,19
0,26
0,29
0,13
0,08
2.
Tổng tài sản
0,08
0,10
0,12
0,05
0,03
 Đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng
Đến cuối năm 2010, các tập đoàn, tổng công ty đầu tư 10.128 tỷ đồng vào lĩnh
vực ngân hàng; năm 2009 là 8.734 tỷ đồng; năm 2008 là 11.427 tỷ đồng; năm 2007 là
7.977 tỷ đồng và năm 2006 là 3.838 tỷ đồng.

trong nước suy giảm, lạm phát cao; các công ty cổ phần (thuộc các lĩnh vực nêu trên)
do áp lực về vốn đã thực hiện tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên, do các nhà đầu tư khó khăn
về tài chính, mặt khác công ty cổ phần cũng khó khăn về vốn để duy trì hoạt động và
đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nên nhiều doanh nghiệp đã tăng vốn điều lệ theo hình
thức: chia cổ tức bằng cổ phiếu, thưởng cổ phiếu và cho các cổ đông hiện hữu quyền
mua cổ phần phát hành thêm, nên cơ bản giá trị đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty
tăng nhưng tỷ lệ vốn góp không thay đổi hoặc không vượt mức quy định của Chính
Nhóm thực hiện: Nhóm 2

Page 21


Tài chính công _ 210810601

GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

phủ. Đối với việc thực hiện quyền mua cổ phần phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu,
các tập đoàn, tổng công ty đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận như:
Tập đoàn Viettel; Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn; Tập đoàn Hoá chất Việt Nam; Tập
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam..., nhưng cũng có những tập đoàn, tổng công ty do
khả năng tài chính hoặc nếu tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực nêu trên sẽ vượt mức quy
định, nên Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo không cho phép tiếp tục đầu tư mua thêm
cổ phần ở những lĩnh vực này như: Tổng công ty Thành An; Tập đoàn Bưu chính viễn
thông Việt Nam.
Một số tập đoàn, tổng công ty khi thực hiện quyền mua cổ phần phát hành
thêm hoặc tiếp tục góp vốn vào các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán nhưng
không báo cáo Thủ tướng Chính phủ như: Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản
Việt Nam; Tổng công ty Giấy Việt Nam; Tập đoàn Cao su Việt Nam; Tổng công ty
Lương thực miền Nam.
Tỷ lệ đầu tư vốn vào các lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính nói trên của


GVHD: Th.S Lê Thị Khánh Thùy

có thế mạnh và khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu
quả đã được tổ chức lại để hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước.
1.5.7. Về thí điểm kiểm kê, đánh giá lại tài sản và vốn của các tập đoàn,
tổng công ty nhà nước
Ngày 10/03/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 352/QĐ-TTg
về việc thí điểm kiểm kê và đánh giá lại tài sản và vốn của một số doanh nghiệp do
nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Trong đó, đối tượng thí điểm kiểm kê ngày 01/7/2011 là doanh nghiệp thuộc các tập
đoàn, tổng công ty do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và được các Bộ quản lý
ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trên cơ sở đề nghị của các tập đoàn, tổng
công ty.
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 87/2011/TT-BTC ngày 17/06/2011
hướng dẫn kiểm kê, đánh giá lại tài sản và vốn của doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu
100% vốn điều lệ theo Quyết định 352/QĐ-TTg.
Các doanh nghiệp tổ chức kiểm kê, đánh giá lại tài sản và vốn có trách nhiệm
lập, gửi báo cáo kiểm kê tới Công ty mẹ (tập đoàn, tổng công ty) trước ngày
30/10/2011. Công ty mẹ (tập đoàn, tổng công ty) thực hiện thẩm định, tổng hợp, phân
tích báo cáo, gửi Bộ quản lý ngành (hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) để phê duyệt kết
quả kiểm kê đánh giá lại tài sản và vốn, đồng thời gửi Bộ Tài chính để theo dõi và
giám sát trước 30/11/2011.
Các Bộ quản lý ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có doanh nghiệp thuộc đối
tượng thí điểm kiểm kê và đánh giá lại tài sản xem xét, phê duyệt kết quả kiểm kê,
đánh giá lại tài sản và vốn của từng doanh nghiệp, gửi thông báo phê duyệt kết quả
kiểm kê cho Công ty mẹ (tập đoàn, tổng công ty), doanh nghiệp thực hiện kiểm kê,
đồng thời gửi Bộ Tài chính trước ngày 01/01/2012.
Bộ Tài chính có trách nhiệm phân tích, đánh giá và tổng hợp các vấn đề cần
khắc phục trong đợt thí điểm kiểm kê ngày 01/7/2011, hướng dẫn xử lý kết quả kiểm

cấp than cho cả nước; cung ứng nhu cầu tiêu thụ điện của toàn xã hội; kinh doanh
xăng dầu phục vụ tiêu dùng; sản xuất xi măng; sản xuất và cung ứng nhu cầu thép;
thực hiện xuất khẩu và điều tiết giá lúa gạo, thu mua lúa, gạo, cà phê cho người nông
dân...

Các tập đoàn, tổng công ty đóng vai trò quan trọng trong việc bình ổn
giá cả, kiềm chế lạm phát, đảm bảo ổn định xã hội, ngăn ngừa sự suy giảm kinh tế,
duy trì việc làm cho người lao động, không để xảy ra đình công và bảo đảm thu nhập
cho người lao động; đầu tư các dự án phát triển CSHT, thực hiện nhiệm vụ công ích ở
các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hỗ trợ các địa phương nghèo.

Các tập đoàn, tổng công ty thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao đầu tư
những dự án trọng điểm, quan trọng phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài
hạn của đất nước, những dự án lớn hoặc hiệu quả về kinh tế thấp nhưng ý nghĩa chính
trị và hiệu quả về xã hội lại rất lớn mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác không có đủ khả năng làm hoặc không tham gia, đặc biệt những dự án có ý nghĩa
quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế vùng miền theo hướng công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước như: Thủy điện Sơn La; Nhà máy Lọc dầu Dung Quất; hệ thống
thông tin liên lạc; mạng lưới điện tại các vùng sâu, vùng xa...
1.6.2. Những bất cập, khó khăn

Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2010, các Nghị định của Chính phủ về quản lý tài chính đối với công ty nhà nước
cũng hết hiệu lực thi hành. Để các công ty nhà nước chuyển sang hoạt động chung
theo Luật Doanh nghiệp với các loại hình doanh nghiệp khác, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 về việc chuyển công ty nhà nước thành
công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do
Nhà nước làm chủ sở hữu.

Chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status