Đẩy mạnh việc cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước ta hiện nay - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LờI NóI ĐầU
Kể từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đất nớc ta thực hiện chuyển
đổi nền kinh tế từ vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lí
của nhà nớc theo định hớng XHCN . Sau hơn 10 năm đổi mới đất nớc ta đã đạt
đợc nhiều thành tựu quan trọng, nền kinh tế đã thoát khỏi giai đoạn khủng
hoảng đang trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.Để đẩy
nhanh quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá
các loại hình tổ chức kinh doanh đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp tích
cực tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển. Nhà nớc phải tập
trung đầu t phát triển các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ công cộng, các
ngành thuộc lĩnh vực then chốt của ngành kinh tế đợc coi là công cụ can thiệp
trực tiếp và chủ yếu để giải quyếtviệc làm và thu nhập, kích thích tăng nhu cầu
tiêu dùng, bảo đảm và duy trì tốc độ tăng trởng kinh tế ổn định. Mặt khác, khi
chuyển đổi cơ chế làm cho hệ thống doanh nghiệp nhà nớc trớc đây hoạt động
trong sự bao cấp của nhà nớc nay chuyển sang hoạt động trong môi trờng mới
đã bộc lộ rất nhiều yếu kém cần phải xem xét lại. Xuất phát từ những yêu cầu
bức thiết đó ngay từ đầu thập kỷ 90. Đảng và nhà nớc ta đã có chủ trơng thực
hiện thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc .Tính đến nay quá trình cổ
phần hoá đã triển khai đợc gần 9 năm, những thành tựu quan trọng thu đợc đã
khẳng định tính đúng đắn của chủ trơng này.Tuy nhiên tiến trình cổ phần hoá
vẫn còn nhiều những khó khăn trở ngại cần phải nghiên cứu tháo gỡ .
Để hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này và góp phần đẩy nhanh, vững chắc
tiến trình cổ phần hoá trong thời gian tới, với khả năng và đợc sự giúp đỡ và
ủng hộ của thầy giáo, em đã chọn đề tài nghiên cứu: Đẩy mạnh việc cổ phần
hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nớc ta hiện nay. Đề tài lấy quá trình tổ
chức triển khai của một số doanh nghiệp nhà nớc chuyển sang công ty cổ phần
làm đối tợng nghiên cứu . Đề tài đợc chia thành 3 phần:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sổ hũ để tạo ra mô hình doanh
nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trờng .Ngoài ra cổ phần hoá có thể hiểu là
chuyển thể một doanh nghiệp từ dạng là doanh nghiệp cha là công ty cổ phần
trở thành công ty cổ phần.Với ý nghĩa này,việc cổ phần hoá không phải chỉ là
quá trình hoá diễn ra riêng ở doanh nghiệp nhà nớc mà kể cả doanh nghiệp t
nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh đều có thể trở thành công
ty cổ phần.
Thế thì t nhân hoá đợc hiểu nh thé nào theo quan niệm của các nớc, t nhân
hoá có 2 mức độ:
-T nhân hoá hoạt động:Một hoạt động do khu vực nhà nớc điều hành nay
chuyển sang cho khu vực t nhân điều hành, nhng nhà nớc vẫn còn giữ quyền sở
hữu nh:T nhân đợc thuê hay thầu khai thác một doanh nghiệp nhà nớc, một
công trình cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu nhà nớc
-T nhân hoá sở hữu:Nhà nớc chuyển nhợng toàn bộ quyền sở hữu một tài
sản cho t nhân.
Nh vậy cổ phần hoá cha hẳn và lại càng không thể đồng nhất với t nhân hoá.
Chỉ có một trờng hợp duy nhất khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc với chính
sách bán hết toàn bộ số cổ phần cho t nhân mới có thể xem cổ phần hoá là t
nhân hoá.Tuy nhiên trờng hợp này chỉ hãn hữu, không phải là chủ trong bao
chùm trong tiến trình cổ phần hoá ở nớc ta.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2 Sự cần thiết khách quan phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng SảnViệt Nam đã
khẳng định:Chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và
đồng bộ.Trong đó phải triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá DNNN
.Trong tình trạng nền kinh tế nớc ta cuối thập kỷ 80 yếu kém và trì trệ, nền
kinh tế thực sự không có lối thoát:
Thực trạng DNNN đã đòi hỏi cần phải đổi mới .Hiện nay với gần 6000 DNNN
nắm giữ 88% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhng hiệu

và chịu trách nhiệm trớc hiệu quả đồng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh đối
với tất cả các cổ đông với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Mặt khác cổ phần hoá
DNNN tạo điều kiện cho ngời lao động góp vốn thực hiện quyền làm chủ thực
sự của mình đối với doanh nghiệp.Tất cả những ngời lao động trong doanh
nghiệp bằng những nguồn vốn tự có , quỹ phúc lợi của doanh nghiệp họ có thể
tham gia mua cổ phiếu tại công ty.Do đó chính ngời công nhân đã gắn bó với
doanh nghiệp trong nhièu năm sẽ càng gắn bó hơn trách nhiệm và quyền lợi của
mình với tình hình hoạt động của doanh nghiệp.Họ có quyền kiểm tra giám sát
khi có ngời tham ô và sử dụng không đúng mục đích tài sản của họ.Đây là điểm
mấu chốt làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, điều mà nhà nớc và
chúng ta đều mong muốn. Thực tế này đã xoá bỏ đợc t tởng ỷ lại vào nhà nớc,
kích thích mọi ngời phát huy hết khả năng vốn có của mình không ngừng cải
tiến kỹ thuật phơng pháp công nghệ, biện pháp kinh doanh, hăng say lao động
đóng góp nhiều sáng kiến nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.
1.3 Mục tiêu của cổ phần hoá
Đại hội đảng lần thứ VIII đã khẳng định :Triển khai tích cực và vững chắc
việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc để huy động vốn, tạo thêm động lực
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản nhà nớc ngày càng
tăng thêm chứ không phải t nhân hoá .Nghị định số 44-1998-ND-CP của chính
phủ ngày 29/6/1998 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần đã nêu rõ 2
mục tiêu chủ yếu sau:
_ Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội trong và ngoài nớc, để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm,
phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp
nhà nớc.
_Tạo điều kiện để ngời lao động có cổ phần và ngời đã đóng góp vốn đợc
làm chủ thực sự: Thay đổi phơng thức quản lý, tạo điều kiện thúc đẩy doanh
nghiệp kinh doanh, có hiệu quả, tăng tài sản nhà nớc, nâng cao thu nhập của ng-
ời lao động, góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
Thực ra nhà nớc còn một mục tiêu khác nữa, đó là muốn giảm bớt doanh

quyết lần thứ 2 của ban chấp hành trung ơng Đảng khoá VII tháng 11 năm 98
đã ghi: Chuyển một số DNNN có đủ điều kiện thành công ty cổ phần và thành
lập một số công ty cổ phần quốc doanh mới phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ
rút kinh nghiệm trớc khi mở rộng trong phạm vi thích hợp.
Nghị quyết kỳ họp khoá X quốc hội khoá VIII ngày 26/12/91 về nhiệm
vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 1991- 1995 đã ghi: thí điểm cổ phần hoá của
một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và góp thêm nguồn vốn
phát triển.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Quyết định số 202 ngày 08/06/1992 của chủ tịch Hội đồng bộ trởng về
việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần.
Chỉ thị số 84 ngay 4/3/93 của Thủ tớng chính phủ về việc xúc tiến thực
hiện thí điểm cổ phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở
hữu đối với các DNNN.
Trong giai đoạn này Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành hàng chục văn bản
pháp luật về cổ phần hoá DNNN. Đây là giai đoạn thí điểm nên sau 5 năm mới
chỉ có 5 DNNN chuyển sang công ty cổ phần:
1. Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển ( Bộ giao thông ) cổ phần hoá ngày
1/7/93 .
2. Công ty cơ điện lạnh ( Thành phố Hồ Chí Minh ) cổ phần hoá ngày
1/10/93 .
3. Công ty chế biến thức ăn gia súc ( Bộ Nông Nghiệp ) cổ phần hoá ngày
1/7/95.
4. Công ty chế biến hàng xuất khẩu Long An ( Tỉnh Long An ) cổ phần
hoá ngày 1/7/95.
5. Công ty giầy Hiệp An ( Bộ công nghiệp ) cổ phần hoá ngày 1/10/94.
1.1.1. Những thành tựu đạt đợc
Thực tiễn vân hành 5 DNNN theo chế độ cổ phàn hoá cho thấy: sau
khi cổ phần hoá nhìn chung các doanh nghiệp làm ăn đều có lãi, hiệu quả sản

nghiệp, năm 95 cổ phần hoá 2 doanh nghiệp, một tốc độ quá chậm. Số lợng
DNNN đợc cổ phần hoá quá ít, cha đại diện cho các doanh nghiệp và các lĩnh
vực, các vùng khác nhau trong cả nớc.Điều này chứng tỏ trong giai đoạn thí
điểm còn tồn tại quá nhiều vớng mắc cha thúc đẩy cổ phần hoá. Đó là do:
_ Chính sách cổ phần hoá còn quá mới mẻ cha đợc mọi ngời hiểu rõ và hởng
ứng.Việc cổ phần hoá nhằm chuyển quyền sở hữu của nhà nớc thành cổ phần
có thể ví nh một cuộc cách mạng thay đổi về chất, trong một thời gian ngắn ( từ
93-95 ) không dễ gì thay đổi đợc những suy nghĩ, thói quen của hàng chục năm
trớc đây. Chính vì vậy, trong mấy năm qua các cấp, các ngành và các doanh
nghiệp nói chung cha quán triệt thống nhất về cả nhận thức và hành động, cha
quán triệt quan điểm mục đích và sự cần thiết phải cổ phần hoá. Hơn nữa một
điều kiện của doanh nghiệp đợc cổ phần hoá là phải có phơng án kinh doanh có
hiệu quả. Mà các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn có hiệu quả lại cha muốn thực
hiện cổ phần hoá, còn các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ muốn cổ phần
hoá nhng lại không cổ phần hoá đợc.
Vấn đề cổ phần hoá đã đợc bàn bạc nhiều cả về lý luận lẫn trong thực
tiễn qua nhiều năm, nhng vấn đề còn những băn khoăn hoặc nhầm lẫn giữa
cổ phần hoá và t nhân hoá, sợ cổ phần hoá DNNN sẽ làm yếu đi vai trò của
kinh tế Nhà nớc. Thêm vào đó có những ý kiến khác nhau trong việc xác định
DNNN nào nên cổ phần hoá, cổ phần toàn hay một phần; doanh nghiệp nào để
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lại hình thức quốc doanh; lãnh đạo doanh nghiệp sợ sau khi cổ phần hoá sẽ mất
chức quyền, sợ trách nhiệm, còn công viên chức, lao động của doanh nghiệp thì
băn khoăn lo lắng về quyền lợi, sợ mất việc, thu nhập giảm sút... quần chúng thì
hoài nghi về công ty cổ phần do cha thông suốt trong nhận thức, cha có thực tế
kiểm nghiệp đầy đủ và chắc chắn. Thực tế cho thấy, khi đăng ký làm thí điểm
cổ phần hoá nhiều doanh nghiệp đăng ký ồ ạt, đến lúc bắt tay vào làm thử thì
xin rút dần với nhiều lý do chính đáng.
Công tác chuẩn bị cho cổ phần hoá đợc mở đầu bằng thông t số 50-

hiện cổ phần hoá đã ngại ngần và cha muốn cổ phần hoá bởi họ không muốn và
không nhất thiết phải cổ phần hoá với một thủ tục rờm rà, nhiều khâu, nhiều b-
ớc.
Các chính sách u đãi đối với ngời lao động và doanh nghiệp sau khi cổ
phần hoá cha hấp dẫn. Các quy định đã làm ngời lao động không tìm thấy chỗ
đứng của mình trong công ty mới vì không có tiền vốn để mua cổ phần. Không
có chính sách u đãi cho những ngời lao động đã làm việc nhiều năm cho nhà n-
ớc, cha có chính sách u đãi thực sự đối với công ty cổ phần trong việc thuế thu
nhập, thuế đất đai và các nghĩa vụ đối với nhà nớc khác trong một vài năm cổ
phần hoá. Mặc dù có một số u tiên trong các văn bản ban hành song trên thực tế
công ty cổ phần cha thể gọi là đợc u đãi hơn so với các loại hình doanh nghiệp
khác.
Tóm lại, trong giai đoạn thí điểm cổ phần hoá mặc dù thu đợc một số kết
quả nhất định: hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần tăng, đời sống của
ngời lao động đợc ổn định và cải thiện... song còn rất nhiều vớng mắc, trở ngại
trong quá trình thực hiện cổ phần hoá cũng nh trong quá trình kinh doanh của
công ty cổ phần. Trong thời gian tới Đảng và Nhà nớc ta cần tổng kết để rút ra
bài học cũng nh kinh nghiệm để có những chính sách hoàn thiện hơn góp phần
thúc đẩy tốc độ cổ phần hoá nhanh và vững chắc trong giai đoạn tới.
1.2.Giai đoạn 2 từ 5/1996 - 6/1998.
Trên cơ sở tổng kết quá trình cổ phần hoá ở giai đoạn thí điểm và tiếp tục
thực hiện chủ trơng cuả Đảng, Đảng ta kiên trì theo đuổi sự nghiệp cổ phần
hoá- con đờng đúng đắn để phát triển kinh tế, đa dạng hoá hình thức kinh
doanh tạo động lực thúc đẩy các loại hình kinh tế khác cùng phát triên. Chính
phủ đã ban hành gần 30 văn bản để hớng dẫn thực hiện và triển khai tích cực
hơn tiến trình cổ phần hoá.
Nghị định 28-CP của chính phủ ngày 7/5/96 về chuyển một số DNNN
thành công ty cổ phần.
Quyết định số 548- TTG của thủ tớng chính phủ ngày 13/8/96 về việc
thành lập các ban chỉ đạo cổ phần hoá theo nghị định 28-CP.

bảo các mục tiêu kinh tế là huy động vốn nhanh, phát triển sản xuất, kinh
doanh... mà còn bảo đảm các mục tiêu xã hội nh phát huy vai trò làm chủ của
ngời lao động, tạo việc làm mới, tăng thu nhập... Hơn nữa do chúng ta đã kịp
thời sửa đổi chế độ chính sách để tạo những bớc chuyển biến tích cực tạo môi
trờng thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá.
1.2.1.Những thành tựu đạt đợc
Từ khi chuyển sang hoạt động dới hình thức công ty cổ phần thì sản xuất
kinh doanh phát triển, có tiến bộ về mọi mặt, Nhà nớc và doanh nghiệp ngời lao
động đều có lợi. Cụ thể nh sau
1
:-
1
Nghiên cứu kinh tế số 241, tháng 6/1998
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
-Đối với các doanh nghiệp:
Vốn tăng bình quân 45%/năm
Doanh thu tăng bình quân 56,9%/năm
Lợi nhuận tăng bình quân 70,2%/năm
Nộp ngân sách tăng bình quân 98%/năm
Thu nhập của ngời lao động tăng bình quân 20%/năm
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 19,1%/năm
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn 74,6%/năm
_ Đối với nhà nớc:
Từ khi chuyển sang công ty cổ phần với phơng thức quản lý tiến bộ trách
nhiệm ngời lao động nâng cao, hiệu quả làm việc ngày một tốt hơn dẫn đến
doanh thu của các doanh nghiệp ngày càng tăng, lợi nhuận tăng lên tiền thuế
của các công ty cổ phần nộp nhiều hơn khi còn là DNNN. Ngoài ra nhà nứơc
còn thu đợc 37724 triệu đồng từ các nguồn sau:
Tiền thu về bán cổ phần 30.207 triệu đồng

của ngời lao động là 800 ngàn/ tháng (1993) lên 1,4 triệu đồng /tháng (1994) và
đến năm 1996 thu nhập của ngời lao động trung bình lên tới 2,5 triệu đồng
/tháng.
Trong giai đoạn này đã mở rộng và đa dạng hoá hơn hình thức cổ phần hoá, nếu
nh ở giai đoạn thí điểm chỉ có một hình thức cổ phần hoá là bán một phần giá
trị hiện có cuả doanh nghiệp nên ít nhiều đã hạn chế tốc độ cổ phần hoá.Nay,
Nghị định 28-CP đã cho phép cổ phần hoá theo 3 hình thức đó là:
-Giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu theo quy
định nhằm thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
-Bán một phần giá trị hiện có của doanh nghiệp.
-Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá.
Với hình thức cổ phần hoá đa dạng nhiều doanh nghiệp có thể thực hiện cổ
phần hoá hoặc với hình thức này hoặc với hình thức khác dựa vào những đặc
điểm riêng của mình. Do vậy chọn hình thức nào để cổ phần hoá cho thích hợp
là quyền và trách nhiệm của chính doanh nghiệp.
Chính sách u đãi của nhà nớc đối với doanh nghiệp và ngời lao động hấp dẫn
hơn:
Đối với doanh nghiệp, điều 10 Nghị định 28 CP đã làm rõ rằng khi cổ phần
hoá DNNN đợc hởng 6 u đãi:
+Đợc sử dụng số d quỹ khen thởng và phúc lợi chia cho CNV để mua cổ
phiếu.
+Đợc giảm thuế lợi tức 50% trong 2 năm liên tiếp ( không phải xét hỏi
nh theo QĐ 202-CT ).
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Một số kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status