Câu hỏi trả lời đề cương ôn thi môn Quản lý tài nguyên môi trường đất trường ĐH công nghiệp Tp.hcm - Pdf 31

1. Trình bày khả năng tự làm sạch của môi trường đất

Đó là khả năng tự điều tiết trong hoạt động của môi trường thông qua một
số cơ chế đặc biệt để giảm thấp ô nhiễm từ ngoài vào nhằm tự làm trong
sạch (self purification), để loại trừ và biến chất độc thành không độc.
Đối với MTĐ, khả năng này cao hơn nhiều so với MT không khí và MT
nước.
Các nhà MT đều phải nắm vững vấn đề khả năng tự làm sạch để tính toán
xử lí ô nhiễm cũng như quản lí từng môi trường cụ thể. Bản chất của khả năng
tự làm sạch là tính đệm của dung dịch đất.
• Tính đệm của dung dịch đất:
- Phản ứng của dung dịch đất dường như không thay đổi dưới tác dụng của
-

những dung dịch bên ngoài, gọi là tính đệm của dung dịch đất.
Tính đệm của dung dịch là khả năng giữ cho pH ít thay đổi (hoặc không
thay đổi) khi tác động của các yếu tố hóa và sinh học làm tăng cường H+

và OH- trong đất.
• Những điều kiện cần thiết để khả năng tự làm sạch MTSTĐ phát huy
tác dụng:
- Số lượng và chất lượng các hạt keo trong đất.
- Đất nhiều mùn mà chủ yếu là mùn nhuyễn, giàu axit humic.
- Tình trạng hiện tại của MTĐ chưa bị ô nhiễm hoặc ít bị ô nhiễm thì khả năng
tự làm sạch cao.
- Sự thoát nước và giữ ẩm tốt.
- Cấu trúc đất tốt (dạng viên).
- VSV giàu về số lượng và chủng loại (ít VSV gây bệnh)
- Khả năng oxi hóa tốt, chưa bị nhiễm mặn, phèn hoặc lầy thụt, yếm khí.
- Các chất thải không quá lớn, thành phần không quá phức tạp.
Giới hạn của khả năng tự làm sạch phụ thuộc vào:


Các hạt được phân định dựa theo đường kính (D) hạt như sau:



Cát:

2 mm > D > 0.02mm



Thịt: 0.02mm > D > 0.002mm



Sét:

0.002 mm > D

Phương pháp xác định thành phần cơ giới: (giải thích hk pít làm :p)
Xác định nhanh thành phần cơ giới ngoài đồng ruộng.
Phương pháp rây.
Phương pháp phân tích thành phần cơ giới trong môi trường lỏng (phương






pháp pipet).


Thạch cao

2,30 - 2,35



Thạch anh

2,65



Kaolimit

2,60 - 2,65



Microclin

2,54 - 2,57



Đolomit

2,80 – 2,90




Tiêu chuẩn đánh giá độ xốp:
P dưới 50% : đất chặt.
50 – 60% : trung bình.
60 – 70% : tơi xốp.
Trên 70% : đất lún.

Từ tỉ trọng d và dung trọng D có thể tích độ xốp theo công thức:

4. Trình bày độ chua hoạt tính, độ chua trao đổi, độ chua tiềm tàng.

Độ chua của đất (pH đất): pH đất phản ánh mức độ đất chua (acid) hay
kiềm. Tính kiềm hay acid của một dung dịch được xác định bởi nồng độ ion
hydrogen của nó. Về mặt kỹ thuật, thuật ngữ pH được định nghĩa là “trừ
logarithm của nồng độ ion hydrogen”.


pH = - log [ H+ ]
-

Độ chua hoạt tính:
- Độ chua hoạt tính gây nên bởi ion H+ trong dung dịch đất.
- Hàm lượng ion H+ càng tăng thì đất càng chua. Chiết rút ion này ra
bằng nước cất. Nồng độ của nó rất thấp nên độ chua hoạt tính được
-

biểu thị bằng pHH2O
pH = -lg[H+].

Trong nước tinh khiết hay bất cứ một dung dịch nào có [H+] = [OH-] = 107



NaOH là một bazơ mạnh, phân ly hoàn toàn trong dung dịch thành ion Na+ và OH-,
vì vậy dung dịch CH3COONa có phản ứng kiềm (pH - 8,2 - 8,5) và đó là điều kiện
để Na+ đẩy tất cả H+ và Al3+ trên bề mặt keo đất vào dung dịch.
Ca2+

Na+
+ 3CH3COONa → [KĐ] Na+ + CH3COOH + Ca(CH3COO)2

[KĐ]
H+

Na+

5. Ảnh hưởng của phèn hoạt tính đối với sinh vật (động – thực vật), biện

pháp cải tạo.
• Ảnh hưởng của phèn hoạt động:
 Đối với thực vật:
Đất phèn chua có độ pH thấp, tính độc của ion Al3+ lên các loài thực vật tăng
lên do nhôm hydroxide kết tủa, hình thành lớp màng nhầy phủ lên rễ cây, từ đó
làm giảm quá trình điều hoà áp suất thẩm thấu, trao đổi ion, giảm sự di
chuyển của oxy làm ảnh hưởng đến quá trình hô hấp.
Thực vật phản ứng lại bằng cách gia tăng tần số hô hấp, dẫn đến tiêu tốn
nhiều năng lượng cho quá trình hô hấp, từ đó làm ảnh hưởng đến quá trình sinh
trưởng.
Khi pH thấp các ion kim loại ở dạng tan Fe2+, Al3+ tác dụng với photphat
(trong phân lân) tạo thành các hợp chất không tan, cây không hấp thu được làm
giảm năng suất cây trồng.

quá trình thiêu rửa độc chất trong đất.
Một số kỹ thuật như làm đất, lên danh sách để trồng các loại cây chịu

phèn cũng như được áp dụng ở vùng đất phèn Đồng Tháp Mười.
6. Phân loại đất mặn theo nguồn gốc có mấy loại?
Quá trình mặn hóa, nguồn gốc và đặc điểm:
Sự hình thành đất mặn là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: đá mẹ, địa hình
trũng không thoát nước, mực nước mặn nông, khí hậu khô hạn và sinh vật ưa
muối. Trong các yếu tố trên nước ngầm mặn là nguyên nhân trực tiếp làm cho
đất bị mặn.
Dựa vào nguồn gốc, đặc điểm tích lũy muối, người ta phân chia quá trình mặn
hóa làm 3 loại:
Quá trình mặn hóa do ảnh hưởng của nước biển
Quá trình này xảy ra ở miền nhiệt đới do ảnh hưởng của biển. Nước biển xâm
nhập vào nội đồng theo sông ngòi khi thủy triều lên cao, qua các trận mưa bão
vỡ đê biển hoặc vào mùa khô khi nước ngọt của các con sông có lưu lượng thấp
chảy ra biển, nước ngọt không đủ lực để đẩy nước biển khi thủy triều mạnh.
Nước mặn vũng có thể theo các mao mạch, đường nứt trong đất, đi qua các con
đê biển thấm sâu vào nội đồng.
Ở Việt Nam đất mặn có xấp xỉ 2 triệu ha, chiếm 6% diện tích tự nhiên. Thành
phần muối tan trong đất mặn nước ta giống thành phần muối tan của nước biển.
Phân bố: đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển…
Quá trình mặn hóa lục địa
Ở những vùng khô hạn và bán khô hạn, các loại muối khó tan vẫn còn lại trong
đất, chỉ những muối dễ tan như: NaCl, MgCl, NaCl 2…mới bị hòa tan, nhưng
cũng không được vận chuyển đi xa, tích tụ ở những địa hình trũng không thoát
nước dưới dạng nước ngầm. Do điều kiện khô hanh và mực nước ngầm cạn,
muối được di chuyển và tập trung lên lớp mặt do quá trình bốc hơi và thoát hơi
nước.
Các nguyên nhân gây nên mặn hóa lục địa là:


-

tạo.
Thực vật:
Trong môi trường đất mặn, hàm lượng các muối NaCl, MgSO4, Na2SO4,
BaCl2 khá cao có thể gây ngộ độc cho cây trồng và một số loài động vật

-

không chịu được mặn.
Hầu hết cây trồng chỉ có thể chịu được nồng độ NaCl
• Sự di chuyển của các cồn cát (hiện tượng cát bay) do gió, sự di chuyển này
góp phần hình thành và mở rộng diện tích sa mạc hoá.
• Diễn biến khí hậu thất thường.


Ngoài ra do địa hình núi che chắn khuất gió (như hiện tượng gió Lào qua dãy
Trường Sơn gây khô nóng cũng là nhân tố thúc đẩy quá trình sa mạc hóa một
vài nơi ở miền Trung nước ta).
 Nguyên nhân do con người:
• Sức ép dân số trong việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, tàn

phá rừng làm mất lớp phủ thực cật và đất đai, đặc biệt vào những thời gian







9.



hạn hán, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sa mạc hoá ở nhiều nơi.
Canh tác không hợp lý trên đất dốc.
Do thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Đất bị mặn hóa do tưới tiêu không đúng kĩ thuật.
Đất bị thoái hóa do khai thác mỏ, làm trôi tầng đất mặt, lộ tầng đá.
Mở rộng, sử dụng đất đai không hợp lí.
Chăn thả quá mức trên các bãi cỏ, đốt rừng làm rẫy.

suất cũng rất thấp gây thiếu hụt trầm trọng lương thực, thực phẩm; nhất là ở
các vùng có sa mạc như Châu Phi.
• Các tác dụng phụ của sa mạc hóa như lũ lụt, đất, nước, ô nhiễm không khí,
bão và nhiều thiên tai khác, tất cả đều có thể gây tử vong cho con người.
- Giải pháp:
• Công ước chống sa mạc hóa.
• Thành lập các vành đai xanh quanh các sa mạc
Đây là biện pháp rất có giá trị và được ứng dụng rộng rãi để ngăn cản sự mở
rộng của sa mạc. Có tác dụng trong việc chắn gió cát và sự lan rộng của sa mạc,
bảo vệ đất đai, giữ ẩm và chất dinh dưỡng cho đất, bảo vệ mùa màng, điều hòa
thời tiết…
• Kiểm soát bề mặt che phủ

Bảo vệ mặt đất khỏi sự tác động trực tiếp của các yếu tố thời tiết bất lợi, tránh
xói mòn, rửa trôi.





Tăng độ che phủ rừng, phủ xanh đồi trọc.
Trồng cây chắn gió ven biển, trữ nước trên đồi cát.
Quy hoạch và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên.
Tăng cường các biện pháp giảm nhẹ thiên tai, đặc biệt là vấn đề cung cấp

nước ở các vùng hạn hán nghiêm trọng.
• Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong vấn đề chống sa mạc hóa.
• Ứng dụng những kĩ thuật hiện đại
Sử dụng ảnh vệ tinh trong việc theo dõi các yếu tố thời tiết, khí hậu -> tìm mối
quan hệ giữa các yếu tố đó với nạn sa mạc hóa.

không đạt tới giai đoạn vô cơ hoá dẫn đến tích luỹ hữu cơ.
 Tích tụ:


Kết hợp với quá trình kiến tạo địa chất, quá trình bồi tụ, lắng đọng phù sa đã chôn
vùi kể cả cây thân gỗ, làm cho hữu cơ tích tụ thành các lớp và tạo thành than bùn.
Ứng dụng của than bùn:
Người ta sử dụng than bùn và đất than bùn chủ yếu để làm phân bón, làm nguyên
liệu phụ gia trong công nghiệp và một số mục đích khác.

Làm phân bón: sản xuất các sản phẩm phân vi sinh bằng cách cho thêm một số
hoạt chất sinh hóa vào đất than bùn, giúp cây trồng tăng trưởng, chống chua, mặn, rét
cho cây. Ngoài ra có thể được phơi khô, nghiền và đóng gói thành phân hữu cơ và bón
trực tiếp cho đất nhưng phải khử hết bitumic, một hợp chất khó phân giải có thể làm








giảm năng suất cây trồng.
Dùng làm nguyên liệu phụ gia trong công nghiệp:
Than bùn được chế biến thành sợi.
Nguyên liệu để đúc các tấm vật liệu cách điện (hoặc nhiệt) trong xây dựng.
Ngoài ra, than bùn còn được dùng vào các mục đích khác như:
Làm chất kích thích sinh trưởng
Làm chất đốt
Bảo tồn: đất than bùn là tài nguyên quý giá có tác dụng bảo vệ môi trường

Đất có phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu.
Na+ chiếm ưu thế
Đất có thể chứa 1 lượng đáng kể Ca hòa tan dư. (hoá tính)
Hoạt động của vi sinh vật yếu. (sinh tính)


13. Anh chị hãy trình bày đề xuất sử dụng bền vững môi trường đất đồi núi ở



Việt Nam (Tây Nguyên và Đông Nam Bộ).
Các biện pháp bảo vệ đất đồi núi bao gồm:
Làm ruộng bậc thang: dọc theo đường đồng mức, xén vào sườn dốc, đào đắp đất
để lập các bậc thềm. Đào một kênh đồng mức ở dưới bờ dốc để giữ nước và để cho

thấm nước từ từ sâu vào đất giúp tăng độ ẩm cũng như tiêu thoát nước dễ dàng.

Trồng cây theo đường đồng mức, các hàng rào cây xanh làm ranh giới kết hợp
giữ đất.


Thực hiện biện pháp canh tác nông- lâm kết hợp: phía trên đỉnh dốc trồng các
cây lâm nghiệp như bồ đề, bạch đàn, keo tai tượng, những năm đầu có thể trồng xen
dứa, chè hoặc đỗ. Nương sườn đồi trồng lúa nương theo lối bậc thang, trồng xen các

bang cây gỗ và cây họ đậu. Vườn ở chân đồi trồng các cây ăn quà và cây công nghiệp.

Hạn chế tình trạng du canh, du cư (phá rừng làm rẫy).

Giao đất, giao rừng cho dân quản lý.


đây.

- Do quá trình phong hóa đá =>

-Hiện tượng nâng cao bờ biển là hiện tượng phổ muối hòa tan bị hòa tan di
biến, điều này chứng tỏ quá trình nâng cao khu chuyển tập trung ở những dạng
vực bờ biển Trung Bộ trước đây là một quá

điạ hình trũng không thoát nước

trình tạo nên nền của đồng bằng cát ven biển

-Sự hình thành đất mặn là kết

ngày nay.

quả tổng hợp của nhiều yếu tố:


 Quá trình bồi tụ tạo lập:

Do địa hình, sự bồi lấp và sông ngòi vận chuyển
vật liệu và bồi tích.
 Thổ nhưỡng và vỏ phong hóa:

-Đất cát biển phát triển trên đá mẹ căn bản là
cát SiO2 , cát ven biển có đặc điểm là mịn và
tròn do bị mài mòn trong quá trình bị lôi cuốn
lâu dài.

trọng 2,6 -2,7, độ xốp thay đổi trong khoảng 3545%

điểm
lý hóa
tính

Đặc điểm vật lý:

- Có thành phần cơ giới nặng, tỉ
lệ sét từ 50% đến 60%, thấm

nước kém. Khi ướt thì dẻo, dính
Khi khô thì co lại, nứt nẻ, rắn

-Đất cát có mực nước ngầm cạn, thay đổi trong

chắc, khó làm đất.
-Đất chứa nhiều muối tan dưới

khoảng 50-180 cm.

dạng NaCl, Na2SO4 nên áp suất

-Sức dâng mao quản trong cát thường vào

thẩm thấu của dung dịch đất lớn

khoảng 65-75cm.

ảnh hưởng đến quá trình hút

-Không có mối tương quan giữ

-Độ chua của đất cát ven biển thay đổi, đất cát

pH và SAR

ngập nước có pH thấp.


Hoạt tính sinh học:

-Na+ chiếm ưu thế

-Hàm lượng vi sinh trong đất cát thấp hơn đất

-Đất có thể chứa 1 lượng đáng k

bạc màu

Ca hòa tan dư.

-Trong đó vi khuẩn chiếm chủ yếu.
-Có hàm lượng đạm khoáng nhất định.

-Đất có phản ứng trung tính hoặ
kiềm yếu.

-Hoạt động của vi sinh vật yếu.
15. Anh chị hãy trình bày đề xuất sử dụng bền vững môi trường đất phù sa


Loại đất phèn tiềm tàng cận duyên:
Được phân bố thành một dải dài có chiều rộng chừng 7 – 10km từ chỗ cách Hà
Tiên 10 – 15km đến Vịnh Cây Dương. Tầng an toàn càng đi về phía vịnh Cây Dương
tầng này có xu hướng dày lên, an toàn hơn, do phù sa biển và sông được bồi nhiều hơn,
độ tiềm tàng ít lộ trên mặt đất. Trên các diện tích này biểu hiện thêm thực vật của rừng
thứ sinh : chà là, dừa nước, cỏ mồm, cỏ nước mặn.



Loại than bùn phèn tiềm tàng:
Đây là một đặc điểm khác với Đồng Tháp Mười, do sự phát triển đặc biệt, đã tạo
nên một tầng than bùn dày gần như khắp nơi của Tứ giác Long Xuyên. Phần lộ lên trên
mặt 0 – 50cm, dưới là Pyrit thì đó là than bùn phèn tiềm tàng. Toàn bộ diện tích áng


chừng đến 7000ha. Thực vật ở đây chủ yếu là rừng tràm hoặc cỏ mọc um tùm. Mạch
nước ngầm nông. Nước màu đen nhưng pH nước = 6.
Trong tầng than bùn lượng trên thế cao biểu hiện ở SO4-2 tổng số nhiều SO4-2

-

hòa tan ít, Al+3 cao và Mg+2 trao đổi thấp. Tỷ lệ hữu cơ cao. Đây là khả năng tích đọng
phèn do hấp thụ lớn của nó.
Trong tầng Pyrit xám xanh hay xám trắng lượng sắt 55 – 60% đã chứa lượng

-

phèn tiềm tàng khá lớn không kém tầng than bùn. SO4-2 tổng số cao Ca+2, Mg+2 thấp.
Loạt đất này biểu hiện quá trình khử còn chiếm ưu thế, và độ phèn tiềm tàng lớn,
Cl- ít (chỉ tầng dưới có tăng lên chút ít).


tan/SO4-2 tổng số dao động từ 0,5 – 0,8, nghĩa là lượng phèn ở tầng Pyrite còn có khả
năng tănng lên nữa, một khi tiếp xúc với oxy.


Đất phèn đang chuyển hóa
Do khai thác và hạ thấp mực nước ngầm nên các ổ phèn đã và đang chuyển hóa, tạo
nên loại đất phèn đang chuyển hóa.
Loại này phân bố hết sức phức tạp và xuất hiện gần như khắp nơi. Đặc biệt đáng
chú ý là khả năng dao động của độc chất đôi lúc còn hơn ở Đồng Tháp Mười về lượng
Al+3 và Fe+2.
CỦA THẦY:
Phèn tiềm tàng nội địa: pH >=5
-

Khi biển tiến, nước biển dâng lên ngập đất, sulfat + ocid sắt, trong điều
kiện yếm khí hình thành phèn tiềm tàng (khoáng pirit).

-

Xuất hiện ở các vùng trũng trên các ổ phèn, nằm xen kẽ các cồn cát khi
biển lùi.

-

Phân bố: Tri Tôn, Tám Ngàn, Kiên Lương, Hà tiên nông trường thanh
niên, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Nam Châu Thành…

-


trường đất phù sa cổ ( sự hình thành, đặc điểm lý - hoá tính).
Tài nguyên đất bazan

Tài nguyên đất phù sa cổ(đất xám)

Sự hình

Hình thành từ nhiều loại đá

Phù sa cổ nói chung là bồi tích trong

thành

mẹ khác nhau : bazan, điabaz, lòng sông cổ. Đất phù sa ở vùng tiếp xúc
đá vôi.. gặp nhiều dạng địa

giữa các thềm phù sa cổ thấp và cánh

hình khác nhau: cao nguyên

đồng ngập lũ được bồi tụ phù sa mới,

lượn sóng, dốc thoải, và dốc

dày hay mỏng phủ lên nền phù sa cổ.

chia cắt mạnh. Quá trình

Các loại đất hình thành thường là loại


khi ẩm.
Đất xám đọng mùn gley: là đất xám trên
phù sa cổ, phân bố ở vùng có địa hình
thấp, đọng nước, có quá trình tích đọng
hữu cơ tầng mặt.

Đặc

Lý tính: đất thường màu đỏ,

điểm lý

nâu, tím, vàng.

hóa tính

Tầng đất tương đối dày, tp cơ

Vật lý:
Thành phần khóang sét
-

giới nặng, kết cấu đất tốt, tươi
xốp.

Keolinit là khoáng sét chủ yếu
Khả năng hấp thụ trao đổi cation kém
Độ bền: rất thấp và khác nhau do loại

hình canh tác.


Đất chua
pH: 4.5-5
Khả năng trao đổi cation thấp
Quá trình khoáng hóa rất mãnh liệt
Quá trình mùn hóa diễn ra chậm
Quá trình xói mòn luôn xảy ra ở đất
triền đồi

19. Anh chị hãy trình bày đề xuất sử dụng bền vững môi trường đất phèn.

Muốn sử dụng đất phèn hợp lý phải căn cứ vào từng loại đất ở tầng vùng để đưa ra
phương pháp cải tạo thích hợp.

Chế độ nước là một vấn đề quan trọng.




Chế độ nước ngầm, chất lượng nước ngầm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình

hình thành, phát triển, sử dụng và cải tạo đất phèn.

Việc duy trì mực nước ngầm trong đất phèn đối với từng loại đất phèn là khác
nhau và là công việc rất cần thiết trong việc cải tạo và sử dụng đất phèn.

Trong quá trình nghiên cứu sử dụng cải tạo đất phèn, chúng ta cần quan tâm
nghiên cứu kỹ về chế độ và chất lượng nước ngầm, nếu có điều kiện khống chế mực




Trồng cây chịu phèn:

Việc trồng lúa tưới ngập và trồng các cây phân xanh họ đậu đều làm giảm các
độc tố trong đất phèn, ngoài ra còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ mật đất, hạn chế sự
bốc phèn từ dưới tầng sâu lên tầng mặt.

Thực tiễn khai thác, sử dụng đất phèn:

Thế giới: cày xáo trộn lớp đất phèn với lớp đất chứa canxi, bón vôi. Đào mương
tiêu nước và lấy cát đào phủ dày lên mặt đất, bỏ hóa 2 năm cho mưa rửa sau đó bón vôi.

Việt Nam: kinh nghiệm lên liếp, kinh nghiệm dùng nước lũ, lợi dụng mưa rửa
phèn, lợi dụng triều lấy nước rửa phèn tầng mặt.
20. Hãy nêu sự khác nhau về đặc điểm của môi trường đất phù sa cổ và môi

trường đất cát ven biển ( sự hình thành, đặc điểm lý-hoá tính).


Tài nguyên đất phù sa cổ
Sự

Phù sa cổ nói chung là bồi Được hình thành qua 3 yếu tố:

hình

tích trong lòng sông cổ. Đất

thàn


 Thổ nhưỡng và vỏ phong hóa

cứng chiếm tỷ lệ nhỏ còn lại -Đất cát biển phát triển trên đá mẹ
là kết von dễ bóp vụn khi ẩm
Đất xám đọng mùn gley: là
đất xám trên phù sa cổ, phân
bố ở vùng có địa hình thấp,

căn bản là cát SiO2 , cát ven biển có
đặc điểm là mịn và tròn do bị mài
mòn trong quá trình bị lôi cuốn lâu
dài.

đọng nước, có quá trình tích -Sông có vai trò trong quá trình bồi
đọng hữu cơ tầng mặt

lấp qua các giai đoạn khác nhau.


-Sinh vật có vai trò tích cực trong
quá trình bồi lấp miền bờ biển nhiệt
đới.
-Càng xuống sâu cát càng thô và tỉ lệ
cuội sỏi càng lớn.
-Sự phân bố các lớp thổ nhưỡng đồng
bằng ven biển rất khác nhau về chi
tiết.
-Con người có tác động mạnh làm
cho tính chất thành phần thổ nhưỡng
của vùng đất ven biển có những thay

1.7g/cm3 , tỉ trọng 2,6 -2,7, độ xốp
Độ bền: rất thấp và khác
thay đổi trong khoảng 35-45%
nhau do loại hình canh tác
-Đất cát có mực nước ngầm cạn, thay
Dung trọng
đổi trong khoảng 50-180 cm
- Đất có cấu trúc kém, dễ bị
-Sức dâng mao quản trong cát thường
chặt.
vào khoảng 65-75cm
-Dung trọng biến thiên

tính

Keolinit là khoáng sét chủ nhẹ, cơ bản là rất cát (71-94%), hàm


1.44g/cm3- 1.53g/cm3



Tính chất hóa học:

Khả năng giữ nước: rất kém -Có hàm lượng sillic rất cao
do thành phần cơ giới nhẹ

-Đất cát biển rất nghèo mùn, nghèo

Hóa học:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status