1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Âm nhạc là bộ môn nghệ thuật có sức mạnh vô cùng to lớn và phong phú
trong việc thể hiện một cách tinh tế thế giới nội tâm của con người và đời
sống xã hội. Âm nhạc tác động tới con người ngay từ khi mới sinh ra trong
tiếng hát ru của mẹ, âm nhạc có sức mạnh làm cho con người nhận thức cuộc
sống và thêm yêu cuộc sống đặc biệt là với thế hệ trẻ, thế hệ tương lai thì âm
nhạc là môt phương tiện giáo dục và hình thành nhân cách hết sức hiệu quả.
Âm nhạc giúp trẻ tận hưởng một cách đúng đắn cái hay, cái đẹp chứa đựng
trong những âm thanh nhịp điệu…, hình thành nên cơ sở ban đầu của những
cảm xúc thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lành mạnh. Bồi dưỡng cho trẻ một tâm
hồn trong sáng yêu thương vị tha, biết rung động trước cái đẹp, ngoài ra các
hoạt động âm nhạc như ca hát sẽ giúp trẻ tư tin giao tiếp với bạn bè xung
quanh. Chính vì thế, âm nhạc đã trở thành một môn học trong các nhà trường
từ Mẫu giáo, Tiểu học đến Trung học cơ sở.
Trong trường Tiểu học mục tiêu giáo dục của Âm nhạc nhằm tổ chức các
hoạt động âm nhạc như ca hát, nghe nhạc giúp học sinh tham gia vào các hoạt
động văn nghệ trong trường trong lớp, với cộng đồng để có thể phát triển
nhân cách toàn diện cho các em.
Trong chương trình các lớp1, lớp 2, lớp 3, học sinh được học hát và phát
triển khả năng nghe nhạc. Học sinh các lớp 4, lớp 5 được học hát, phát triển
khả năng nghe nhạc và làm quen với tập đọc nhạc. Để thực hiện tốt những nội
dung trên thì người giáo viên Tiểu học trong giảng dạy môn âm nhạc phải có
kiến thức vững vàng về âm nhạc, biết vận dụng và tổ chức các hoạt động âm
nhạc sao cho phù hợp. Điều đó cho thấy, việc đào tạo một đội ngũ giáo viên
tiểu học có khả năng dạy học môn âm nhạc là hết sức quan trọng.
2
dùng dạy học để minh họa...
Tổng hợp phiếu điều tra của 2 khóa sinh viên cao đẳng Tiểu học năm thứ
2 và năm thứ 3, khóa 33 và khóa 34 với khoảng 80 sinh viên, cho thấy trong
giờ dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, giáo viên chỉ dùng bảng, phấn là
chính và sinh viên không thích học tiết học Nhạc lý phổ thông.
Phỏng vấn một số giáo viên dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, được
biết rằng, họ nhận thức được lợi ích của việc sử dụng phương tiện trực quan
dạy học. Tuy nhiên, họ ngại sử dụng vì mất nhiều thời gian chuẩn bị và mang
PTTQ lên lớp, xuống lớp… Có lẽ, đây là một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến kết quả học tập phân môn Nhạc lý phổ thông của sinh viên CĐSP
Tiểu học còn chưa cao.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu
"Sử dụng một số phương tiện trực quan trong dạy học môn nhạc lý phổ
thông tại trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định" cho luận văn tốt nghiệp
thạc sỹ chuyên ngành phương pháp và lý luận dạy học âm nhạc.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến những vấn đề nghiên cứu về lý thuyết âm nhạc, đã có
những công trình của các nhà nhà nghiên cứu âm nhạc, sư phạm âm nhạc.
Phạm Tú Hương, Đỗ Xuân Tùng, Nguyễn Trọng Ánh là những tác giả
của giáo trình “Lý thuyết âm nhạc cơ bản” dành cho hệ Trung học Âm nhạc
chuyên nghiệp, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, năm 2005.
Giáo trình gốm 12 chương, cung cấp một số kiến thức về Lý thuyết âm
nhạc gồm: Khái quát về âm thanh, tiết tấu, nhịp, quãng, điệu thức, hợp âm,
giai điệu, các ký hiệu cách diễn tấu, một số phương pháp xác định giọng, dịch
giọng, chuyển giọng và giới thiệu sơ lược về âm nhạc truyền thống Việt Nam.
4
Phạm Tú Hương, tác giả cuốn“Lý thuyết âm nhạc cơ bản”, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, dự án đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP Âm nhạc, Nxb ĐHSP,
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương tiện trực quan nhằm nâng cao chất lượng
dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông góp phần hiệu quả vào đào tạo bộ môn
âm nhạc cho sinh viên CĐSP tiểu học Nam Định, hướng tới nâng cao hiệu
quả giáo dục âm nhạc cho học sinh Tiểu học Nam Định.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu chương trình phân môn Nhạc lý phổ thông trong đào tạo
môn âm nhạc cho sinh viên ở hệ CĐSP tiểu học.
Làm rõ thực trạng sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân
môn Nhạc lý phổ thông ở trường CĐSP Nam Định.
Lựa chọn, phân loại một số nhóm phương tiện trực quan cho dạy học
phân môn Nhạc lý phổ thông.
Nghiên cứu đưa ra biện pháp hướng dẫn sử dụng phương tiện trực quan
trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc
lý phổ thông cho sinh viên hệ CĐSP Tiểu học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc
lý phổ thông cho hệ CĐSP tiểu học tại Nam Định
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát, dự giờ các tiết dạy học phân môn Nhạc lý phổ
thông để nghiên cứu thực trạng, làm rõ nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy
học còn hạn chế ở phân môn này.
1.1. Nhạc lý phổ thông
1.1.1. Nhạc lý
Âm nhạc là bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để khắc họa cuộc sống, tư
tưởng, tình cảm…của con người.
Âm thanh trong âm nhạc là mối quan hệ tổng hòa các phương tiện diễn
tả như giai điệu, tiết tấu, hòa thanh, cường độ, nhịp dộ, âm sắc…
Âm nhạc có hệ thống lý luận bao gồm: Lý thuyết âm nhạc, hòa âm, phân
tích tác phẩm, lịch sử âm nhạc…
Lý thuyết âm nhạc gồm những kiến thức về âm thanh, nốt nhạc, trường
độ, tiết tấu, quãng, điệu thức, giọng, hợp âm…
Lý thuyết âm nhạc là môn học cơ bản trong chương trình đào tạo người
hoạt động âm nhạc, giúp cho người học có kiến thức cơ sở để học, tìm hểu về
hòa âm, phân tích tác phẩm, lịch sử âm nhạc…
Sự hình thành lý thuyết âm nhạc có từ rất sớm trong lịch sử phát triển
nghệ thuật âm nhạc. Người ta gọi nó theo ngôn ngữ của mỗi quốc gia, như:
Tiếng Anh: Music theory
Tiếng Pháp: La théorie musicale de base
Tiếng Nga: Основы теории музыки
Tiếng Trung Quốc: Yīnyuè lǐlùn
Tiếng Việt Nam, tên môn học Lý thuyết âm nhạc, xuất phát từ việc dịch
nghĩa từ tiếng nước ngoài. Nó có khá nhiều tên gọi như: Lý thuyết âm nhạc cơ
8
bản, Nhạc lý cơ bản, Nhạc lý, Lý thuyết âm nhạc, Nhạc lý sơ giản, Nhạc lý
phổ thông… Tên gọi và nội dung của nó tùy mức độ sử dụng ở các chương
trình đào tạo khác nhau.
1.1.2. Nhạc lý phổ thông trong đào tạo giáo viên hệ CĐSP Tiểu học
Tại những cơ sở đào tạo người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp - biểu
diễn âm nhạc, lý luận, phê bình, sáng tác âm nhạc như: Học viện âm nhạc
1.2. Quá trình dạy học nhạc lý phổ thông
1.2.1. Quá trình dạy học
Sự truyền thụ kiến thức từ người dạy sang người học, để người học có thể
nắm vững được kiến thức cũng cần có một quá trình. Đó là quá trình mà cả
người dạy và người học đều phải nỗ lực hết sức nếu muốn đạt được kết quả cao.
-
Qúa trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình phức tạp và rộng lớn bao gồm nhiều
thành tố liên quan chặt chẽ với nhau. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về
QTDH tùy theo quan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học.
Chẳng hạn, các nước sử dụng tiếng Anh khi nghiên cứu QTDH thường
xem xét hai phạm trù độc lập: dạy và học (teaching and learning). Theo đó,
với hoạt động dạy có phương pháp dạy của giáo viên, với hoạt động học có
phong cách học của mỗi cá nhân (Lý luận dạy học ở trường Trung học
chuyên nghiệp, chương II Quá trình dạy học của Th.s Phùng Đình Dụng).
Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy, hành động của
người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không
gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học (Lý luận
dạy học, chương II trang 10 TS. Nguyễn Văn Tuân).
10
Qua quá trình được đào tạo ở hệ ĐHSP Âm nhạc, tiếp thu kiến thức ở hệ
cao học lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc, đúc rút những kinh nghiệm
dạy học của bản thân chúng tôi hiểu rằng:
Quá trình dạy học là hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhập
vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt được mục
đích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của trò.
môi trường bên ngoài.
Khi quá trình dạy học diễn ra, là các thành tố cơ bản nói trên: Thầy - trò,
nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện dạy học có sự vận động và tác
động lẫn nhau trong một cấu trúc nhất định để thúc đẩy quá trình dạy học phát
triển. Nếu thiếu đi một trong những thành tố đó thì QTDH sẽ không thể đạt
được kết quả cao.
1.2.2. Dạy học nhạc lý phổ thông ở hệ CĐSP Tiểu học
Quá trình dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông diễn ra với các thành tố
cơ bản:
- Người dạy là giảng viên chuyên ngành sư pham âm nhạc, sử dụng các
phương pháp và phương tiện dạy học âm nhạc phù hợp để giúp cho người học chủ
động tích cực nắm bắt được nội dung kiến thức phân môn Nhạc lý phổ thông.
- Người học là sinh viên CĐSP Tiểu học chủ động và tích cực trong học
tập để nắm được những kiến thức nhạc lý phổ thông quy định trong chương
trình phân môn.
- Nội dung phân môn Nhạc lý phổ thông bao gồm những tri thức về: Âm
thanh, cao độ, trường độ, quãng, gam, điệu thức, giọng, hợp âm…
12
- Hình thức dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông là lớp học lớn, khoảng
40 sinh viên một lớp.
- Phương pháp dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông được sử dụng là
các phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng phương tiện trực quan,
phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp trình bày tác phẩm …
- Phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông là
nhạc cụ, bảng biểu, sơ đồ máy vi tính, máy chiếu …, những đồ dùng giúp cho
sinh viên nhận thức nội dung phân môn Nhạc lý phổ thông một cách cụ thể và
dễ dàng hơn.
1.3. Phương tiện trực quan
giác, biểu tượng. Nó cho ta một hình ảnh cảm tính về sự vật, hiện tượng.
Trên cơ sở đó, nhận thức con người đi vào các giai đoạn cao hơn của tư duy
trừu tượng.
Như vậy có thể thấy con đường người dạy truyền đạt kiến thức bằng
cách để người học tiếp xúc trực tiếp với những sự vật, hiện tượng, hay hình
tượng của chúng, qua thị giác, thính giác, xúc giác… là tiền đề quan trọng để
hình thành các khái niệm.
1.3.3. Phương tiện trực quan
Nói về phương tiện trực quan trong dạy học, có nhiều cách diễn đạt khác
nhau về khái niệm này.
Phương tiện trực quan là (đồ dùng, thiết bị dạy học) một vật thể hoặc
một tập hợp các vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học để nâng
14
cao hiệu quả của quá trình này, giúp sinh viên lĩnh hội khái niệm, định luật…,
hình thành các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ cần thiết.
Phương tiện trực quan là tất cả các phương tiện vật chất cần thiết giúp
GV hay SV tổ chức và tiến hành hợp lí, có hiệu quả quá trình giáo dục và giáo
dưỡng ở các cấp học, các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện được
những yêu cầu của chương trình giảng dạy.
Phương tiện trực quan là chỉ một vật thể hoặc một tập hợp những đối
tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển
hoạt động nhận thức của SV, còn đối với SV thì đây là các nguồn tri thức, là
phương tiện giúp SV lĩnh hội các khái niệm, định luật, học thuyết khoa học,
hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ các mục
đích dạy học và giáo dục.
Phương tiện trực quan bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến
phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt
và sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
cho những khái niệm trừu tượng như gam, điệu thức, giọng, hợp âm… trở nên
rõ ràng, cụ thể, SV dễ tiếp nhận. Cho SV nghe âm nhạc vang lên trực tiếp từ
những nhạc cụ phổ thông hay băng đĩa từ đài cát sét…, kết hợp với xem bảng
biểu, sơ đồ, hình ảnh… chắc chắn tác động mạnh mẽ tới họ hơn là chỉ dùng
lời nói. Vì thế, trong dạy học Nhạc lý phổ thông, GV không những cần giỏi về
về lý luận, mà còn phải biết sử dụng đàn, và các thiết bị khác…
Phương tiện trực quan và các phương pháp dạy học dùng trong quá trình
dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Trong khi thuyết trình về các khái niệm quãng, hợp âm, giáo viên sử dụng
16
PTTQ phù hợp sẽ làm cho các khái niệm bớt trừu tượng. Khi hướng dẫn SV
thực hành luyện tập thì các PTTQ sẽ cụ thể hóa những nội dung luyện tập
bằng các miếng ghép, bảng biểu…, giúp SV dễ dàng thực hành để nắm các
khái niệm.
Như vậy, có thể nói là phương tiện trực quan không chỉ gắn bó chặt chẽ
với các thành tố cơ bản trong quá trình dạy học Nhạc lý phổ thông, mà nó còn
có ý nghĩa to lớn mang lại hiệu quả tích cực trong nhận thức của sinh viên đối
với những kiến thức, kỹ năng âm nhạc của phân môn này.
1.4. Thực trạng dạy học nhạc lý phổ thông ở trường CĐSP Nam Định
1.4.1. Vài nét trường CĐSP Nam Định
Trường CĐSP Nam Đinh là nơi đào tạo, bồi dưỡng hàng ngàn lượt giáo
viên, cán bộ quản lý cho ngành giáo dục của tỉnh Nam Định nói riêng và cả
nước nói chung. Đây là một trong những cơ sở đào tạo uy tín, lâu năm được
nhà nước, xã hội công nhận. Năm 1965 tỉnh Nam Hà được thành lập trên cơ
sở hợp nhất hai tỉnh Nam Định và Hà Nam đến năm 1997 tỉnh Hà Nam được
tách ra, trường đổi tên là trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định.
Trường có các phòng chức năng và bốn khoa: Khoa xã hội, khoa Tiểu
học mầm non, khoa Tự nhiên, khoa Ngoại ngữ.
- Hát - 2 tín chỉ
Trong chương trình phân môn nhạc lý phổ thông của hệ CĐSP Tiểu học,
nội dung kiến thức được chia thành 8 chương:
Chương I: Âm thanh - Cao độ
Chương II:Trường độ của âm thanh
Chương III: Nhịp - phách - Tiết tấu
Chương IV: Các loại dấu hóa - Hóa biểu
Chương V: Quãng
18
Chương VI: Hợp âm
Chương VII: Điệu thức - Gam - Giọng
Chương VIII: Dịch giọng
Về giáo trình: Do chưa biên soạn được giáo trình, nên giảng viên tổ âm
nhạc dạy học dựa vào các giáo trình sau:
- Phạm Tú Hương: Giáo trình “Lý thuyết Âm nhạc cơ bản” – Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2010.
- Hoàng Long – Hoàng Lân: Giáo trình “Âm nhạc và phương pháp dạy
học Âm nhạc”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2012.
1.4.3. Tình hình dạy học phân môn nhạc lý phổ thông
1.4.3.1. Đặc điểm khả năng âm nhạc của sinh viên CĐSP Tiểu học
Trường CĐSP Nam Định
Để chất lượng giảng dạy và học tập đạt kết quả cao, ngoài yếu tố người
thầy còn phải kể đến yếu tố người học.
Qua khảo sát thực tế, cho thấy khả năng âm nhạc cùa sinh viên trường
CĐSP Nam Định có một số đặc điểm như sau:
- Tuyển sinh ngành cao đẳng sư phạm tiểu học với 3 môn Văn, Toán,
Anh, không tuyển năng khiếu âm nhạc nên chất lượng khả năng âm nhạc của
sinh viên là không đồng đều, nhìn chung là thấp. Đa số SV còn hạn chế về
viên yêu cầu các sinh viên thực hành lại ngay trong giờ học thì sinh viên chưa
làm được.
Sinh viên cao đẳng sư phạm Tiểu học tuy còn hạn chế về năng khiếu âm
nhạc và chênh lệch nhiều về khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng âm nhạc.
Nhưng hầu hết sinh viên CĐSP Tiểu học đều có khả năng tiếp thu các kiến
thức văn hóa khác. Họ xác định rất rõ mục tiêu ngành nghề mà sau này ra
trường họ sẽ sử dụng là dạy học cho học sinh tiểu học.Họ rất chăm chỉ và tích
20
cực, nghiêm túc trong học tập, rèn luyện tất cả các môn học trong chương
trình đào tạo.
1.4.3.2. Tình hình dạy học phân môn nhạc lý phổ thông
Qua tìm hiểu thực tế, dự giờ dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông tại
trường cho thấy trong mỗi tiết học giảng viên thường thuyết trình, giải thích
các khái niệm là chính. Hầu hết các tiết học phân môn này không thấy sử
dụng tới bảng biểu hay máy móc hỗ trợ. Chỉ có một đôi tiết học là thấy có
dùng đàn Organ.
Một vài giảng viên còn lược bỏ một số nội dung bài giảng để theo kịp
tiến độ giảng dạy. Do vậy, những kiến thức nhạc lý phổ thông bị lược bỏ đã
trở thành những bài học thuộc lòng.
Trao đổi trực tiếp với giảng viên dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông
tại trường, được biết, họ rất ngại sử dụng các phương tiện trực quan trong quá
trình dạy học. Vì muốn dùng phương tiện trực quan thì giảng viên cần phải có
sự chuẩn bị. Khi muốn dùng bảng biểu cho sinh viên xem, giảng viên phải
mang ra ngoài để in từ giáo trình hoặc mất nhiều thời gian để vẽ. Cũng như
khi chuẩn bị cho sinh viên nghe một đoạn nhạc, giảng viên phải tập trước ở
nhà với đàn Organ, hay đàn Guitar. Giảng viên còn ngại mang PTTQ lên lớp,
xuống lớp.
Quan sát, dự giờ dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông, cho thấy, sinh
Tỉ lệ
Số lượng SV
Tỉ lệ
Giỏi
2
5%
3
7.5%
Khá
15
37.5%
10
25%
Trung bình
18
lý phổ thông còn chưa cao.
Để làm rõ vấn đề sinh viên có quan tâm, hứng thú với phân môn nhạc lý
phổ thông hay không, sinh viên có mong muốn gì để học tập Nhạc lý phổ
thông tốt hơn, chúng tôi đã sử dụng hai câu hỏi trong phiểu điều tra 80 sinh
viên CĐSP Tiểu học khóa 33, khóa 34. Họ là những sinh viên đã được học
phân môn này từ những học kỳ trước. Kết quả điều tra được tổng hợp trên
bảng 2 và bảng 3.
22
Bảng 2: Tổng hợp kết quả điều tra hứng thú của sinh viên với NLPT
Câu 1: Bạn có thích học Nhạc lý phổ thông không?
STT
Mức độ
Số lượng
Phần trăm
1
Rất thích
5
5%
2
Có thích
10
10 %
3
Bình thường
15
15%
4
Không thích
10%
0
Từ những nghiên cứu về tình hình dạy học Nhạc lý phổ thông của những
năm trước đây ở hệ CĐSP Tiểu học có thể thấy rằng, chất lượng dạy học phân
môn này còn thấp.
Kết quả điều tra, quan sát, dự giờ, phóng vấn, trao đổi với giảng viên và
sinh viên đã phản ánh việc sử dụng PTTQ trong quá trình dạy học phân môn
Nhạc lý phổ thông còn chưa được giảng viên quan tâm đến, còn ít được sử
dụng. Đó cũng có thể chính là nguyên nhân khách quan dẫn đến những biểu
hiện không tích cực trong các giờ dạy hoc phân môn này. Chúng tôi cho rằng
kết quả dạy học phân môn Nhạc lý phổ thông như vậy sẽ có ảnh hưởng không
ít đến việc tiếp thu các nội dung khác trong môn Âm nhạc của sinh viên
CĐSP Tiểu học.
23
Tiểu kết chương 1
Dạy học và giáo dục âm nhạc ở trường tiểu học đòi hỏi phải có một đội
ngũ giáo viên tiểu học có khả năng tổ chức cho học sinh ca hát, phát triển khả
năng nghe nhạc, làm quen với tập đọc nhạc, thông qua đó tiếp cận với các
kiến thức sơ giản về âm nhạc.
Trường CĐSP Nam Định là nơi đào tạo các hệ giáo viên tiểu học trình
độ CĐSP. Trong chương trình đào tạo toàn khóa, sinh viên được học âm nhạc
với những kiến thức đầu tiên ở phân môn Nhạc lý phổ thông.
Nội dung phân môn Nhạc lý phổ thông mang tính lý thuyết, trừu tượng,
đòi hỏi người giảng viên âm nhạc phải biết cụ thể hóa, làm rõ các khái niệm
để sinh viên dễ dàng tiếp thu và thực hành những kiến thức âm nhạc, đáp ứng
được yêu cầu mục tiêu dạy học phân môn này.
Chương IV: Các loại dấu hóa - Hóa
biểu
Chương V: Quãng
Dự kiến PTTQ sẽ sử dụng
Đàn Organ, đàn Guitar, máy
chiếu, kèn Harmonica…
Sơ đồ , đàn Organ, Song loan,
Thanh phách, Trống…
Máy chiếu, Thanh phách, Song
loan, Trống…
Sơ đồ, máy chiếu, bảng biểu, ứng
dụng các phần mềm tin học...
Bảng biểu, máy chiếu, đàn Guitar,
Chương VI: Hợp âm
đàn organ…
Đàn, máy chiếu, máy tính...
Bảng biểu, đàn Organ, máy tính,
Chương VII: Điệu thức – Gam - Giọng
máy chiếu, ứng dụng các phần
Chương VIII: Dịch giọng
mềm tin học…
Đàn Organ, máy tính, máy...
Đa số đàn Organ hiện nay sử dụng công nghệ DSP và chia làm hai loại:
Đàn Organ thông thường có 61 phím
Đàn Piano điện tử 88 phím.
Đàn Organ hoạt động dựa trên băng thu. Người ta thu âm thanh của các
nhạc cụ khác rồi cài vào trong đàn theo hệ thống phím. Một đàn Organ thông