Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế - Pdf 31

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐẾ TÀI
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và trở
thành một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là việc
ra đời của các liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU, WTO… mục tiêu là
thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế, giảm dần và tiến tới xóa bỏ các hàng rào bảo
hộ do các quốc gia áp đặt nhằm cản trở tự do hóa thương mại. Việt Nam cũng không
nằm ngoài xu thế đó, với việc gia nhập hiệp hội ASEAN, ký kết hiệp định thương
mại song phương với Hoa Kỳ, và gần đây nhất là sự kiện nước ta chính thức trở
thành thành viên thứ 150 của WTO đã đánh dấu quá trình hội nhập đầy đủ của Việt
Nam vào kinh tế thế giới.
Có thể nói, việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Nam
những cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức. Muốn thành công chúng ta phải thấy
được hết thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy lùi thách thức. Suy cho cùng cơ hội và
thách thức chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt
Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt với sự cạnh
tranh ngày càng quyết liệt mạnh mẽ hơn. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh
mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao,
hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng
đầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước.Là một người đang công tác trong lĩnh
vực đào tạo về ngân hàng,với mong muốn các Ngân hàng thương mại Việt Nam phát
triển bền vững trong xu thế hội nhập tôi đã quyết định thực hiện chuyên đề nghiên cứu
với đề tài: “Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập quốc tế”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa lý thuyết về hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong kinh doanh
ngân hàng.

Tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của ngân hàng
thương mại nói riêng là vấn đề được mọi quốc gia đặt lên hàng đầu, khi nền kinh tế
ngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tiến trình hội nhập, tăng khả năng cạnh tranh là


3

con đường dẫn tới thành công của bất kỳ ngân hàng nào. Chính vì vậy, đề tài “Năng
lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
quốc tế” được thực hiện là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
6. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng số liệu, phụ
lục, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề có 104 trang được trình bày như sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân
hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Phần kết luận


4

Chương 1

HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH
NGÂN HÀNG
1.1. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng thời kỳ hậu WTO
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về hội nhập quốc tế

của các quốc gia để tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực.
Quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽ
với các nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triển
theo hướng tạo ra một thị trường chung thống nhất trong đó những cản trở đối với sự
giao lưu và hợp tác quốc tế giảm và dần dần mất đi, sự cạnh tranh trở nên gay gắt. Bởi
vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế ở
cả trong và ngoài nước. Ngày nay, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các
quốc gia đều nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại
và phát triển của mình.
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ: là quá trình mà các nước,
các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào lĩnh vực
tài chính - tiền tệ, bao gồm vốn đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), công nghệ, tín dụng
và lao động có trình độ chuyên môn cao.
Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là thực hiện quá trình tự do hóa tài chính
tức là xóa bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồn
lực tín dụng. Tự do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của
các định chế tài chính, cùng với việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp lý giữa các
loại hoạt động khác nhau.Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa lãi suất, tự do hóa tỷ
giá hối đoái, giảm thiểu sử dụng công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xóa bỏ bao cấp vốn
thông qua chỉ định tín dụng, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính trong
nước và quốc tế trên nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn.
Hội nhập quốc tế là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế thế giới, nhất là đối
với các quốc gia đang phát triển. Hội nhập quốc tế nhằm mở cửa nền kinh tế, thực
hiện tự do hóa thương mại, dịch vụ để gia nhập vào cuộc canh tranh quốc tế bình
đẳng và cùng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.


6

1.1.2. Khái niệm hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

7

tài sản dù dưới hình thức quota theo số lượng; hạn chế tổng số người được tuyển dụng
trong lĩnh vực cụ thể hay một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng và
những người cần thiết liên quan trực tiếp tới việc cung cấp dịch vụ ngân hàng dưới
hình thức quota theo số lượng, dù những hạn chế đó ở quy mô vùng hay trên toàn lãnh
thổ (trừ khi có quy định trong danh mục cam kết cụ thể).
Hai là, đãi ngộ bình đẳng không phân biệt giữa các nhà cung cấp dịch vụ ngân
hàng của bất kỳ thành viên nào (dựa trên những điều kiện, điều khoản và những hạn chế
đã được thỏa thuận và quy định trên danh mục cam kết cụ thể của các thành viên mới).
Ba là, không áp dụng hạn chế về thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch
vụ vãng lai (tuân thủ các cam kết cụ thể của các nước thành viên), trừ khi gặp phải tình
huống phải bảo vệ cán cân thanh toán.
Bốn là, cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng của các nước thành viên
khác được đưa ra các dịch vụ mới trên lãnh thổ của mình.
Năm là, cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng của bất kỳ nước thành
viên nào khác quyền được thành lập và mở rộng hoạt động trong lãnh thổ nước mình
kể cả việc mua lại các doanh nghiệp hiện tại hay một tổ chức thương mại.
Sáu là, cho phép người cung cấp dịch vụ ngân hàng tiếp cận hệ thống thanh
toán bù trừ do nhà nước điều hành và tiếp cận các thể thức cấp vốn và tái cấp vốn
trong quá trình kinh doanh thông thường.
Bảy là, các thành viên cam kết rằng trong những trường hợp nhất định, trợ
cấp có thể tác động bóp méo dịch vụ thương mại, các thành viên sẽ tiến hành đàm
phán nhằm định ra những quy tắc đa biên cần thiết để tránh những bóp méo đó.
Tám là, mỗi thành viên sẽ trả lời không chậm trễ khi có yêu cầu của bất kỳ
thành viên nào khác về những thông tin cụ thể về bất kỳ biện pháp nào được áp
dụng chung hay về hiệp định quốc tế.
1.1.4. Những cơ hội và thách thức về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đối
với các nước đang phát triển
Hội nhập kinh tế cũng góp phần thúc đẩy quá trình thu hút nguồn vốn đầu tư,

hoạt động tài chính trong nước và quốc tế.
Bốn là, hội nhập đã thúc đẩy sự phát triển và trao đổi các dịch vụ tài chính,
ngân hàng giữa các nước. Các nước đang phát triển, nơi mà các ngân hàng trong
nước thường có chi phí hoạt động cao và lợi nhận thấp hơn các đối thủ cạnh tranh


9

nước ngoài thì sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa sẽ có
ảnh hưởng tích cực. Do sức ép cạnh tranh tăng lên đã thúc đẩy các ngân hàng nội
địa hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ vững và phát triển
thị phần, quản lý chặt chẽ chi phí để có lợi nhuận.
Năm là, việc hình thành các tập đoàn ngân hàng lớn cùng với quá trình mở
rộng hoạt động của chúng trên thế giới sẽ tạo cho ngân hàng này có nhiều lợi thế
trong cạnh tranh cũng như khả năng đối phó với những biến động thị trường. Sự
tham gia của các ngân hàng nước ngoài có tên tuổi này trên thị trường nội địa sẽ
có ảnh hưởng tích cực trong việc cải thiện các quy định giám sát và phòng ngừa
rủi ro, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán, công bố công khai. Mặt khác,
những ngân hàng ở các nước đang phát triển muốn thâm nhập vào thị trường các
nước cần phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của những thị
trường này mới nhận được giấy phép hoạt động.
1.1.4.2. Những thách thức
Thứ nhất, hội nhập xuất hiện sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài có thể gây
khó khăn cho nền kinh tế và đe dọa đến chủ quyền kinh tế quốc gia. Mở cửa cho sự
tham gia của NHNNg quá mức có thể gây ra hiện tượng những ngân hàng nước
ngoài lớn chi phối hoạt động cả hệ thống ngân hàng quốc gia và sự lệ thuộc của nền
kinh tế vào một số ít ngân hàng nước ngoài.
Thứ hai, hoạt động của NHNNg trên thị trường nội địa với những sản phẩm
mới cùng với các giao dịch trên một phạm vi rộng lớn và với tốc độ rất nhanh sẽ
gây khó khăn cho việc kiểm soát của các cơ quan quản lý, giám sát của từng quốc

thức khoa học, công nghệ cao hơn...để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.
Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn
nhu cầu của khách hàng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ,
những nghiên cứu mới nhất vào sản xuất; hoàn thiện cách thức tổ chức sản xuất,
quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh
vực như kinh tế, thương mại, thể thao, …; cũng như thường xuyên được nhắc tới
trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế, các phương tiện thông tin đại chúng
và thuật ngữ này được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều góc độ
khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh.


11

Tiếp cận ở góc độ đơn giản thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh
các cá nhân, các nhóm, loài chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài khác vì
mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu
hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Trong kinh tế chính trị học thì cạnh
tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng
hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra
giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để
mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn
trong sản xuất và tiêu thụ.
Có quan điểm cho rằng, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Paul Anthony Samuelson và William
Nordhaus lại cho rằng, cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh
với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần. Michael Porter thì cho rằng, cạnh
tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản

lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực
lượng cạnh tranh mạnh mẽ.
- Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay
quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường. Những khác
biệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, như: sự điển hình về thiết kế hay danh
tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng
lưới bán hàng.
Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp
Lợi thế cạnh tranh là một trong những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc
có thể huy động để có thể cạnh tranh thắng lợi. Để có thể tạo được lợi thế cạnh tranh,
các doanh nghiệp cần nghiên cứu các yếu tố sau:
- Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có gì vượt
trội hơn về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng sản
phẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối.
- Thế mạnh của doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nhà xưởng, trang thiết bị kỹ thật.
- Khả năng phát triển sản phẩm mới, đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ thống


13

phân phối.
- Chất lượng của sản phẩm dịch vụ : thỏa mãn được nhu cầu ngày càng tăng của
khách hàng
- Khả năng đối ngoại: Khả năng liên kết với các doanh nghiệpp khác hoặc liên
doanh với nước ngoài, hoặc sử dụng sự trợ giúp của các tổ chức trong cạnh tranh.
- Khả năng tài chính: Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí,
huy động vốn và thanh toán các nghĩa vụ tài chính.
- Sự thích nghi của tổ chức: Sự mềm dẻo của tổ chức để thích ứng với sự thay
đổi của môi trường. Sự thích nghi của hệ thống quyền lực lãnh đạo và tổ chức hành
chính trong lĩnh vực hoạt động.

tránh đổ vỡ toàn hệ thống cũng như tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinh
doanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt lại hợp tác chặt chẽ với
nhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh ,
tránh khả năng xảy ra rủi ro hệ thống: Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thông
qua cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng.Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay để
cho vay nên nếu các ngân hàng cạnh tranh không lạnh mạnh, hoặc cạnh tranh thông
qua việc tăng lãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay hay giảm phí dịch vụ,
nới lỏng các điều kiện tín dụng.
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay để cho vay lại nếu các
ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh, hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng lãi
suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới lỏng các điều kiện tín
dụng... sẽ làm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín
dụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống. Vì vậy, mặc dù cạnh tranh với nhau trong
hoạt động, các NHTM vẫn liên kết với nhau, có thể thoả thuận để giữ mặt bằng giá
cả phù hợp, đảm bảo lợi ích chung. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lây lan
rất lớn. Nếu một ngân hàng có nguy cơ phá sản, khách hàng đồng loạt đến rút tiềm,
gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gủi tiền tại các ngân hàng thương mại khác.
Điều này dễ dẫn đến khả năng đổ vỡ theo hiệu ứng domino mang tính hệ thống
trong đó tất cả các NHTM đều bị ảnh hưởng và tác động đến toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.


15

Ba là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài
ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ
tầng cơ sở…Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào,ngân hàng hoạt động và cạnh tranh
với nhau trong những môi trường và điều kiện kinh tế nhất định. Hoạt động kinh

thị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các
NHTM hiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó.
- Các NHTM hiện tại: Đây là những mối lo thường trực của các NHTM trong
kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanh
của NHTM trong tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc
đẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng
các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.
- Sức ép từ phía khách hàng. Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành
ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là
các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng. Những người bán sản phẩm
thông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong
muốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm (vay
vốn) lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như vậy, ngân
hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và
giữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể.
- Sự xuất hiện các dịch vụ mới. Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung
gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng
như các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian
này cung cấp cho khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người
mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn.
Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm
thị phần. Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyện
trong cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các
cú sốc của nền kinh tế.
Các nhân tố thuộc môi trường bên trong ngân hàng
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của các


17



18

NHTM tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng.
Các công cụ cạnh tranh trong kinh doanh của các NHTM
Cạnh tranh bằng giá. Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai
trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng. Đối với các NHTM, giá cả
chính là lãi suất và mức phí áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàng
của mình. Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặt
với những mâu thuẫn: Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mở
rộng thị phần, thì cần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các khách
hàng của mình, tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí có
thể khiến NH bị lỗ. Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra
mức lãi suất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điều
này có thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong kinh doanh, bởi suy
cho cùng thì NH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng là tối đa hoá lợi nhuận, mà
để đạt được điều đó thì cần phải tiết giảm các chi phí đầu vào. Điều này có nghĩa là
cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất, vì nó làm
giảm bớt lợi nhuận của các NHTM.
Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giá trị thị trường
sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và phát triển thị trường. Trên
thực tế, việc vận dụng nhân tố giá để cạnh tranh chỉ phù hợp khi xâm nhập thị
trường mới và để vận dụng tốt công cụ này, các NHTM thường đưa ra mức lãi suất
thấp hơn mức lãi suất của các đối thủ nhằm lôi kéo khách hàng và chiếm lĩnh thị
trường. Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tình hình biến động của thị trường, là
thông số qua đó các NHTM có thể nắm bắt được khả năng thanh toán của KH cũng
như khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên thương trường.
Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quan trọng, song theo dõi
thông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết để NHTM đưa ra mức lãi suất và

Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy
hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại. Trường phái
cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và K.Mác
đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này. Trường phái
hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổ
chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại


20

diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “cạnh
tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển.
Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các
cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Và hiện chưa có một lý thuyết nào
hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về
năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá
được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương pháp
thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh
toàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề
xuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp trên đều do một
số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia
của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế Việt
Nam từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống
ngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phù
hợp và thống nhất. Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày
càng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủ
Việt Nam tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài
(NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàng
trong nước. Vì vậy đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVN

giữa các nhóm ngân hàng. Vì vậy, muốn tồn tại và đững vững trong cạnh tranh thì
các NHTM cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi mà các cam kết quốc tế bắt
buộc phải được thực hiện, chúng ta phải chấp nhận mở cửa hơn nữa thị trường tài
chính, dịch vụ ngân hàng và Nhà nước có trách nhiệm tạo một sân chơi bình đẳng
không bảo hộ.Một điều tất yếu, lúc đó các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tín
dụng dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường trong nước.
Và như vậy buộc các NHTM nội địa phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và
phát triển.
Nền kinh tế của chúng ta với xuất phát điểm thấp lại trong thời gian dài
được quản lý theo cơ chế quản lý hành chính bao cấp, điều này làm giảm khả năng


22

cạnh tranh, tính năng động của nền kinh tế. Khi đất nước bước vào thời kỳ hội
nhập chúng ta phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh mạnh hơn chúng ta về
tiềm lực tài chính, về kinh nghiệm kinh doanh và rất nhiều những lợi điểm khác.
Để không bị thua ngay trên “sân nhà” buộc chúng ta phải tìm mọi biện pháp để
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế đã và đang
tác động tới mọi lĩnh vực ngành nghề buộc các định chế tài chính nói chung và các
Ngân hàng thương mại nói riêng phải thay đổi tư duy để vận hành và cung cấp sản
phẩm, dịch vụ một cách hiệu quả hơn. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng trong
nước đã phải tìm đến sự trợ giúp của công nghệ thông tin để đổi mới chính mình,
tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển bền vững hơn nhờ việc đa dạng hóa các
dịch vụ, tối đa hóa lợi ích, xây dựng lợi thế cạnh tranh riêng biệt.
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện nay, việc có nhiều nhà cung cấp cùng cung
ứng một loại sản phẩm trên thị trường là điều dễ thấy. Bên cạnh đó nhu cầu của
khách hàng là luôn thay đổi. Do đó đòi hỏi có nhiều sản phẩm được sản xuất ra để
đáp ứng cùng một nhu cầu. Làm thế nào để đánh bại được các đối thủ, thu hút và

mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy
rút tiền tự động và các hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống cảnh báo rủi ro...Các
hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng
cũng như khả năng quản lý, quản trị hoạt động của nhà quản lý ngân hàng. Theo tính
toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, công nghệ thông tin có thể làm
giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng. Do đó công nghệ là nhân tố quan trọng phản
ánh năng lực cạnh tranh của NHTM, thể hiện qua các mặt sau:
Khả năng trang bị công nghệ mới: Với tốc độ phát triển nhanh của công
nghệ ngân hàng, sự bùng nổ thông tin, và mức độ thay đổi thường xuyên nhu cầu
dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế, công nghệ hiện tại không đủ khả năng cung
cấp thông tin, công cụ phục vụ công tác quản lý, điều hành và phát triển dịch vụ sẽ
làm mất đi cơ hội kinh doanh của ngân hàng. Vì thế, năng lực công nghệ phải bao
gồm khả năng đổi mới các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật, kinh tế và trang bị
công nghệ mới, hiện đại, thể hiện ở mức đầu tư về vốn, nhân lực cho phát triển
công nghệ, các kế hoạch chiến lược trong việc tập trung nguồn lực phát triển công
nghệ mới.


24

Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của khách
hàng và nhu cầu quản lý của ngân hàng: Thể hiện ở số và chất lượng các công
cụ, các báo cáo, các thông tin mà công nghệ thực hiện phục vụ cho công tác quản
trị, quản lý cho ngân hàng. Và số, chất lượng các dịch vụ được tạo ra từ hệ thống
công nghệ hiện tại của ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của
khách hàng. Ngân hàng sở hữu một cơ sở công nghệ tốt và biết phát huy tối đa
chức năng của công nghệ đó khả năng cạnh tranh sẽ được tăng cường mạnh mẽ.
Tính liên kết và độc đáo của công nghệ: Do đặc tính phải đổi mới, chi phí
đổi mới rất cao và ảnh hưởng của công nghệ rất lớn đến hoạt động kinh doanh nên
không NHTM nào có thể ngay lập tức thay thế toàn bộ công nghệ cũ bằng công

năng hoạt động của ngân hàng, phản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực phù hợp với
quy mô, trình độ quản lý của ngân hàng, phù hợp với đặc trưng cạnh tranh và yêu
cầu của thị trường. Sự phù hợp thể hiện ở sự phân chia phù hợp nhiệm vụ và quyền
hạn của các phòng ban chức năng, các bộ phận quản lý và tác nghiệp, các đơn vị
trực thuộc, vừa có tính liên kết, hỗ trợ và mức độ phối hợp giữa các bộ phận này
trong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày và
khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động. Cơ cấu tổ chức
có khả năng phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên cao sẽ giúp ngân hàng
thực hiện hiệu quả các công việc và tiết kiệm chi phí hoạt động.
+ Cơ chế vận hành: Cơ chế vận hành của ngân hàng thể hiện ở cơ chế quản
lý, quy chế tổ chức, điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm hệ
thống các quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngân hàng. Cơ chế vận hành tốt sẽ phát
huy sức mạnh tổng hợp của ngân hàng. Hệ thống các quy trình nghiệp vụ đầy đủ,
thống nhất là cơ sở để nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng.
+ Năng lực của bộ máy lãnh đạo, cán bộ và nhân viên: Bộ máy lãnh đạo, cán
bộ và nhân viên là nhân tố kết nối các nguồn lực của ngân hàng, năng lực của họ thể
hiện ở các yếu tố: trình độ đào tạo, số năm kinh nghiệm, khả năng tự học tập, mức
thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết, tác phong làm việc...
Bộ máy lãnh đạo đề ra phương hướng hoạt động, quản trị, kiểm soát và điều
hành toàn bộ hoạt động của ngân hàng do đó hiệu quả hoạt động kinh doanh và
triển vọng phát triển của NHTM phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của bộ máy lãnh
đạo. Trong điều kiện cạnh tranh, năng lực của bộ máy lãnh đạo càng được coi trọng


Trích đoạn Trình độ công nghệ Về các mục tiêu hoạt động Nhóm giải pháp chung Nhóm giải pháp cụ thể:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status