1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
-----------***----------
TIỂU LUẬN
Tài chính - Tiền tệ
Đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế
GV hướng dẫn: Ths. Trần Chí Thọ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Triệu
Phạm Văn Thiện
Phạm Văn Tuấn
Lớp : Anh 4 – TCQTB – K46
3
PHẦN I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG
1.1 NGÂN HÀNG
1.1.1 Ngân hàng và chức năng của một ngân hàng đa năng.
Ngân hàng là 1 loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói
chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy mà vẫn có sự nhầm lẫn
trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa
qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ
không chỉ chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ
cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều
vay, thực hiện nghiẹp vụ triết khấu và là phương tiện thanh toán”.
* Đặc trưng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại ( NHTM) là một tổ chức đc phép sử dụng ký thác của
công chúng với trách nhiệm hoàn trả.
NHTM là một tổ chức đc phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, triết khấu
và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
1.2 chức năng của NHTM
- là trung gian tín dụng: đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM, nó đóng
vai trò to lớn trong việc chu chuyển vốn trong nền kinh tế . Tạo điều kiện phát
triển kinh tế , nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh , sản xuất của các thành
phần kinh tế trong xã hội.
- Là trung gian thanh toán của nền kinh tế
- Là trung gian trong việc thực hiện các chích sách điều tiết kinh tế vĩ mô của
Ngân hàng TW: Để NHTW thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì nó phải thông
qua hệ thống ngân hàng phát triển tốt và có thể điều tiết dễ dàng. Không ngân
hàng nào ngoài NHTM trong nước có thể thực hiện tôt điều đó và như thế thì
NHTM của nước ta phải đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng 100% vốn nứoc
ngoài với mọi lợi thế hơn hẳn chúng ta.
- Một chức năng quan trọng khác đó là khả năng tạo tiền ghi sổ cho nền kinh tế.
-
1.2 Các khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng
Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Như chúng ta đã thấy ở
phần trước, các ngân hàng đang mở rộng danh mục dịch vụ tài chính mà họ cung cấp
cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm
gần đây dười áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết
5
và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi
phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh
hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho
số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các
ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài
sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp lại và đưa ra khỏi
bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay được bán
trên thị trường mở nhằm huy đọng vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn.
Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn
hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi).
Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Các qui đinj của Chính phủ
đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mực thu nhập
6
cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành
hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các
tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã
được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ
thu nhập thay đổi thoe điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang
phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các
khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên
phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơi với ý thích thay
đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
Cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn,
từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt
động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là
trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật
nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, ở Mỹ có hơn 100.000 chiếc, cho phép
khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS
được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh
toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn
giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.
Do đó, ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định; sử
Với sự phát triển của tự động hóa, ngày càng nhiều ngân hàng mở chi nhánh ở những
vùng xa với các thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động – một phương pháp mở
rộng qui mô thị trường hơn là xây dựng các cơ sở vạt chất mới. Trong nhiều trường
hợp, hệ thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụ hữu hạn sẽ thay thế các văn phòng chi
nhánh đa năng của ngân hàng.
Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng. Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân
hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lể và lan rộng ra với quy mô
toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn nhất thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả
các lục địa. Vào những năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai_I Chi Kangyo
Bank và Fuji Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp
thế giới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp (dẫn đầu là Caisse Nationale de Credit
Agricole), tại Đức (dẫn đầu là Deutsche Bank) và tại Anh (dẫn đầu là Barclays PLC)
cũng trở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và cho vay
công ty. Quá trình phi quản lý hóa đã giúp tất cả các tổ chức này cạnh tranh hiệu quả
hơn so với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần ngày càng tăng trên thị trường
toàn cầu về dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, Canada, Mỹ và Mexico đã thực hiện Hiệp
ước mậu dịch tư do Bắc Mỹ (NAFTA) điều mà cho phép ngân hàng ở những nước
này sở hữu và quản lý các chi nhánh ngân hàng ở nước kia và sức mạnh dịch vụ của
các chi nhánh loại này hoàn toàn so sánh được với những chi nhánh sở hữu bởi các
ngân hàng trong nước.
Rủi ro vỡ nợ gia tăng và sự yếu kém của hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Trong khi xu
hướng hợp nhất và bánh trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân hàng ít tổn thương
trong điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh giữa các ngân hàng và
các tổ chức phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng có ván đề một nền kinh tế
luôn biến động đã dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Xu
hướng phi quản lý hóa trong lĩnh vực tài chính đã mở ra cơ hội cho các nhà ngân
hàng, nhưng cũng chỉ tạo ra một thị trường tài chính xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản,
thôn tính và thành lý ngân hàng dễ xảy ra hơn.
1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế
cách của Việt Nam đồng bộ hơn, hiệu quả hơn.
Năm là: Nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện
cho Việt Nam thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm Việt Nam
mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vì hoà
bình, hợp tác và phát triển.
1.3.3 Thách thức chúng ta phải đối mặt
Khi chúng ta là nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý Nhà nước còn
nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé. Những
thách thức này bắt nguồn tự sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất nước với
yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính quá trình hội nhập.
Một là: Thuế nhập khẩu cắt giảm, cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản
phẩm với sản phẩm, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp mà còn diễn ra giữa Nhà
nước với Nhà nước. Rõ ràng cạnh tranh sẽ gay gắt với nhiều đối thủ trên diện sâu
rộng hơn. Vì vậy chính sách quản lý phải tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất,
môi trường kinh doanh đầu tư thông thoáng, thuận lợi... tạo nên sức cạnh tranh đủ
mạnh của toàn bộ nền kinh tế.
Hai là: Sự phân phối lợi ích không đồng đều: Nhà nước có nền kinh tế phát
triển thấp được hưởng lợi ích hơn. Ở mỗi quốc gia sự phân phối lợi ích cũng không
đồng đều, dẫn đến nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp
sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo ngày một rõ rệt. Đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi
và an sinh xã hội đúng đắn. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói giảm nghèo, thực
hiện tiến bộ công bằng xã hội.
9
Ba là: Tính tuỳ thuộc giữa các quốc gia tăng lên. Sự biến động hị trường các
nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước. Trong khi Việt Nam, hệ thống pháp
luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều. Đòi
hỏi phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình
hình cơ chế quản lý tạo cơ sở cho nền kinh tế có phản ứng tích cực hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực.
15 năm phát triển hệ thống NHTM Việt Nam đã xây dựng được cho mình một hệ
thống pân phối sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tương đối rộng lớn. Đây là một lợi
thế lớn của hệ thống NHTM Việt Nam mà các ngân hàng nước ngoài khi thâm
nhập vào thị trường Việt Nam còn phải mất một khoảng thời gian nhất định mới
có thể xây dựng được.
1.3. Về vị thế thị trường
Hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm năm ngân hàng thương mại quốc doanh, một
ngân hàng chính sách và 38 ngân hàng thương mại cổ phần. Các NHTM Việt Nam
hiện thống trị thị trường tiền gửi và cho vay với thị phần tương đối lớn và đối
tượng khách hàng thì đa dạng. Điều này có được nhờ những lợi thế sẵn có với vai
trò là ngân hàng trong nước bởi các NHTM Việt Nam không phải chịu những hạn
chế về quy mô hoạt động hay số lượng các chi nhánh trong một khu vực. Trong
khi những ngân hàng nước ngoài lại gặp phải một số hạn chế khi nhận tiền gửi tại
thị trường trong nước.
Trong khi các NHTMQD vẫn tập trung phục vụ các khách hàng truyền thống là
những DNNN lớn, các NHTM cổ phần đã tìm ra những thị trường ngách là phục
11
vụ những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các khách hàng cá nhân. Các tổ chức
tín dụng phi ngân hàng và ngân hàng chính sách xã hội đóng một vai trò quan
trọng trong việc cấp vốn cho khu vực nông thôn và những người nghèo.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng hệ thống NHTM Việt Nam hiện chiếm một thị
phần tương đối lớn ở thị trường Việt Nam hiện nay (khoảng gần 90%, các NH
nước ngoài hiện chỉ chiếm khoảng 10% thị phần trong nước) và theo nhiều chuyên
gia trong lĩnh vực ngân hàng thì trong một tương lai gần, thị phần của các tổ chức
tín dụng Việt Nam sẽ không thay đổi nhanh chóng; mặc dù có thể xuất hiện một số
thay đổi về cấu trúc, ví dụ như thị phần của các ngân hàng TMCP sẽ tăng lên.
1.4. Am hiểu thị trường và “văn hóa” của khách hàng trong nước
Với lợi thế hoạt động lâu năm trên “sân nhà”, các NHTM Việt Nam tỏ ra rất có lợi
thế về việc am hiểu thị trường cũng như am hiểu về phong tục tập quán, tâm lý và