MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu4
1.5 Cấu trúc báo cáo
4
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỌC TRỰC TUYẾN, ĐÀO
TẠO TRỰC TUYẾN VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIẾNG ANH
4
2.1 Học trực tuyến và đào tạo trực tuyến
4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
4
2.1.2 Vai trò của đào tạo trực tuyến 4
2.1.3 Một số mô hình về chấp nhận sử dụng công nghệ trực tuyến
4
2.2 Đặc điểm và vai trò của chương trình đào tạo tiếng Anh
4
2.2.1 Dịch vụ đào tạo và đặc điểm của chương trình đào tạo tiếng Anh 4
2.2.2 Vai trò của các chương trình đào tạo tiếng Anh
4
2.3 Mô hình UTAUT sau điều chỉnh: các nhân tố tác động đến hành vi
lựa chọn sử dụng dịch vụ đào tạo tiếng Anh trực tuyến 4
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
Anh trực tuyến của sinh viên trên địa bàn Hà Nội. 4
5.2.1 Xây dựng phương thức, nội dung giảng dạy nhằm tăng hiệu quả của
kỹ năng giao tiếp 4
5.2.2 Xây dựng các ứng dụng tích hợp chương trình đào tạo tiếng Anh
giúp sử dụng dễ dàng hơn trên các thiết bị khác như điện thoại, máy tính
bảng…
4
5.2.3 Tăng cường các hình thức marketing nhằm tiếp cận đến đông đảo
các đối tượng học viên. 4
5.2.4 Rút ngắn thời gian đưa ra quyết định lựa chọn của người học và
tăng lòng tin về hiệu quả học tập
4
5.3 Kiến nghị đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo tiếng Anh trực
tuyến. 4
KẾT LUẬN 4
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH THANG ĐO
4
PL1. Kiểm định nhân tố “Hiệu quả mong đợi”
4
PL2. Kết quả kiểm định nhân tố “Nỗ lực mong đợi”
4
PL3. Kết quả kiểm định nhân tố “Ảnh hưởng xã hội”
4
PL4. Kết quả kiểm tra nhân tố “Điều kiện thuận lợi”
4
PL5. Kết quả kiểm tra nhân tố “Dự định hành vi” 4
PL6. Các yếu tố phản ánh “Hiệu quả mong đợi” 4
PL7. Các yếu tố phản ánh “Nỗ lực ánh mong đợi” 4
với sự tác động của biến điều tiết “Năm học đại học”
4
PL21. Kết quả hồi quy biến “Nỗ lực mong đợi” theo “Dự định hành vi”
với sự tác động của biến điều tiết “Kinh nghiệm” 4
PL22. Kết quả hồi quy biến “Ảnh hưởng xã hội” theo “Dự định hành vi”
với sự tác động của biến điều tiết “Giới tính”
4
PL23. Kết quả hồi quy biến “Ảnh hưởng xã hội” theo “Dự định hành vi”
với sự tác động của biến điều tiết “Năm học đại học”
4
PL24. Kết quả hồi quy biến “Ảnh hưởng xã hội” theo “Dự định hành vi”
với sự tác động của biến điều tiết “Kinh nghiệm” 4
PL25. Kết quả hồi quy biến “Ảnh hưởng xã hội” theo “Dự định hành vi”
với sự tác động của biến điều tiết “Tự nguyện sử dụng” 4
PL26. Kết quả hồi quy biến “Dự định hành vi” theo “Hành vi sử dụng”
với sự tác động của biến điều tiết “Trình độ tiếng Anh” 4
PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT SINH VIÊN
PHIẾU KHẢO SÁT SINH VIÊN
4
PHỤ LỤC 3: PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU 4
PHIẾU PHỎNG VẤN SINH VIÊN 4
4
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Các loại hình giáo dục - đào tạo trực tuyến
Hình 2.1.3a: Thuyết hành động hợp lý (TRA)
4
Hình 2.1.3b: Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) 4
Hình 2.1.3c: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1a: Tỷ lệ sinh viên tham gia khảo sát theo giới tính 4
Biểu đồ 4.1b: Tỷ lệ sinh viên tham gia khảo sát theo trường Đại học 4
Biểu đồ 4.1c: Tỷ lệ tham gia khảo sát theo ngành học
4
Biểu đồ 4.1d: Tỷ lệ tham gia khảo sát theo năm học
4
Biểu đồ 4.1e: Tỷ lệ tham gia khảo sát theo kinh nghiệm sử dụng dịch vụ
học trực tuyển
4
Biểu đồ 4.1f: Tỷ lệ tham gia khảo sát theo mức độ tự nguyện sử dụng
dịch vụ học tiếng Anh trực tuyến
4
Biểu đồ 4.1g: Tỷ lệ tham gia khảo sát theo trình độ tiếng Anh 4
DANH MỤC VIẾT TẮT
UTAUT: Unified Theory of Acceptance and Use of Technology
TAM:
Technology Acceptance Model
TPB:
Theory of Planned Behavior
TRA:
Theory of Reasoned Action
SPSS:
Statistical Package for the Social Science
EFA:
Exploratory Factor Analysis
ĐH:
Đại học
HV:
Học viện
lương cao hơn, để được thăng chức, hay để giành được cơ hội đi du học
và làm việc ở nước ngoài, không thể không kể đến khi tiếp xúc với Tiếng
Anh, chúng ta còn học hỏi được nhiều điều về văn hóa và lối sống của
người Mĩ, Anh thông qua các phương tiện truyền thông của họ. Từ đó,
làm khai mở rộng tầm hiểu biết, có cái nhìn thực tế, mục tiêu rõ ràng và
chắc chắn là cả những trải nghiệm thú vị hơn trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, sự ra đời của máy tính và internet như chất xúc tác mạnh để
quá trình toàn cầu hóa được diễn ra nhanh và dễ dàng hơn, điển hình là
việc phổ cập internet ở Việt Nam đang đứng đầu Đông Nam Á và đứng
thứ 18 thế giới với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 14%, trong đó 42%
người sử dụng internet tại Việt Nam ở độ tuổi 15 – 24 tuổi. Hiểu và bắt
kịp xu hướng đó, các nhà cung cấp dịch vụ đã cho ra đời hàng loạt các
chương trình học tiếng Anh trực tuyến để phù hợp với các điều kiện, hoàn
cảnh khác nhau của từng đối tượng, và tăng tính linh hoạt của dịch vụ về
chi phí, thời gian, địa điểm so với các dịch vụ giảng dạy tiếng Anh truyền
thống.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều quan ngại về chương trình dạy tiếng Anh
trực tuyến vì các lý do khác nhau. Trên thực tế đã có những nghiên cứu
và đánh giá về các tác động và lợi ích mà việc sử dụng các trang mạng
học tiếng Anh trực tuyến mang lại tại các nước trên thế giới như Trung
Quốc, Mỹ… nhưng ở Việt Nam lại chưa có những thống kê hoặc nghiên
cứu chính thức đánh giá về mức độ sử dụng các trang mạng tiếng Anh
trực tuyến như vậy. Do nguồn lực có hạn, chúng tôi chọn chương trình
cho sinh viên vì đây là đối tượng cần tiếng Anh cho cả việc học tập cũng
như làm việc và là đối tượng có kiến thức, kỹ năng sử dụng máy tính và
internet khá tốt. Hơn nữa, Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường Đại học
có chất lượng cao và là một trong những thị trường lao động có lượng lớn
nhu cầu về lao động có trình độ tiếng Anh trong cả nước.
•
Về mặt không gian: Sinh viên các trường Đại học trên địa bàn
thành phố Hà Nội, các trường Đại học đa dạng các ngành, khối như Đại
học Kinh tế Quốc dân, Đại học Hà Nội, Đại học Ngoại Thương, Học viện
ngân hàng, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Y Hà Nội,
Học viện quân Y…
•
Về mặt thời gian: Số liệu được thu thập từ tháng 12 năm 2014 đến
tháng 2 năm 2015
1.5 Cấu trúc báo cáo
•
Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu
•
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về học trực tuyến, đào tạo trực tuyến và
chương trình đào tạo tiếng Anh
•
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
•
Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn học
tiếng Anh trực tuyến của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
•
Chương 5: Một số kiến nghị và giải pháp
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỌC TRỰC TUYẾN, ĐÀO
TẠO TRỰC TUYẾN VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIẾNG ANH
2.1 Học trực tuyến và đào tạo trực tuyến
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
Các loại hình của giáo dục-đào tạo trực tuyến:
Hình 2.1: Các loại hình giáo dục - đào tạo trực tuyến
sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội, hay chính là học tập trực tuyến,
một tập hợp con của giáo dục trực tuyến.
Dựa theo kết quả nghiên cứu và tình hình tại Việt Nam hiện nay, nhóm
nghiên cứu cho rằng: Học tiếng Anh trực tuyến là việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào việc giảng dạy tiếng Anh để đạt được thuận lợi và hiệu
quả như đã đề cập ở trên và các trang web học Tiếng Anh trực tuyến là
các trang web cung cấp các chương trình giảng dạy cho người học tiếng
Anh phù hợp với trình độ sẵn có và mục tiêu của từng người học.
2.1.2 Vai trò của đào tạo trực tuyến
Ngày nay, các doanh nghiệp đang áp dụng hệ thống đào tạo trực tuyến
như là một trong những phương thức chính để đào tạo cho nhân viên của
chính họ (Simmons, 2002). Cũng trong giai đoạn hội nhập kinh tế như
hiện nay, các tổ chức giáo dục đang tăng cường sự sử dụng trang mạng và
các phương tiện truyền thông công nghệ cao cho việc giảng dạy ở cả ở
trong các trường đại học và hệ thống giáo dục từ xa. Đối với việc sử dụng
hệ thống tương đối là đắt đỏ này của các tổ chức kinh tế và giáo dục, chắc
chắn là hệ thống giáo dục – đào tạo trực tuyến phải mang đến những lợi
ích nhất định.
Xét về góc độ của giáo viên, việc giảng dạy bây giờ đã có thể thực hiện ở
mọi nơi, mọi lúc.Các tài liệu giảng dạy có thể được cập nhật và sửa đổi,
và người học có thể thấy sự thay đổi này ngay lập tức. Khi mà người học
có quyền tiếp cận các tài liệu ở trên Internet, thì điều này sẽ dễ dàng hơn
cho giáo viên để hướng họ tới thông tin phù hợp dựa trên nhu cầu và khả
năng học tập. Nếu các tài liệu và phương tiện giảng dạy được thiết kế một
cách hợp lý, hệ thống học tập trực tuyến có thể được sử dụng để xác định
nhu cầu của người học cũng như đánh giá trình độ hiện tại của họ, cũng
như giao những bài tập phù hợp cho sinh viên, để đạt được kết quả học
tập mà họ mong ước.
Data Corporation) và ước tính khoản đầu tư này sẽ vượt quá 23 tỷ USD
năm 2004 (Anderson, Dankens, &Julian, 2000). Các cơ sở giáo dục sau
trung học cũng đã trải qua sự tăng trưởng đáng kể trong việc sử dụng hệ
thống giáo dục trực tuyến, với một số tổ chức cung cấp toàn bộ các
chương trình học tập thông qua giáo dục từ xa. Như một ví dụ của sự tăng
trưởng này, trong năm 1993, Cẩm nang hướng dẫn của Trường Cao đẳng
Peterson (Peterson’s College Guide) chỉ ra rằng 93 trường cao đẳng cung
cấp hệ thông giáo dục trực tuyến, và đến năm 1997, con số này đã tăng
lên gần 800 (Gubernick & Ebeling, 1997). Hơn nữa, trong năm 2001,
WebCT báo cáo rằng hơn 2200 tổ chức sau trung học đã sử dụng sản
phẩm của mình để cung cấp giáo dục trực tuyến.
2.1.3 Một số mô hình về chấp nhận sử dụng công nghệ trực tuyến
Học tiếng Anh trực tuyến là một phương pháp học mới xuất hiện trên thế
giới và cả ở Việt Nam sau sự ra đời của Internet.Nhiều trang mạng học
tiếng Anh trực tuyến nở rộ và được nhiều người dùng tham gia.Vì vậy,
cũng xuất hiện những nghiên cứu về sự chấp nhận của học sinh, sinh viên
đối với các trang mạng học tiếng Anh trực tuyến.Tuy nhiên, học tiếng
Anh trực tuyến là một loại hình học mới nên Việt Nam chưa có một
nghiên cứu nào về vấn đề này.Số lượng bài nghiên cứu trên thế giới rất
hạn chế, hầu hết chỉ ở các nước phát triển về công nghệ. Trong mỗi một
nghiên cứu, những nghiên cứu sinh hay những nhà nghiên cứu lại có
những mô hình áp dụng khác nhau như TAM, UTAUT, …
•
Mô hình TAM
Mô hình chấp nhận công nghệ TAM được xây dựng bởi Fred Davis năm
1989 và Richard Bagozzi năm 1992, dựa trên sự phát triển từ thuyết TRA
và TPB.
Thuyết hành động hợp lý TRA được phát triển bởi Martin Fishbein năm
1975 và Ajzen năm 1980. TRA đi sâu vào nghiên cứu thái độ và hành vi.
Nhân tố quan trọng nhất trong dự đoán hành động tiêu dùng là dự định
cảm thấy hệ thống dễ sử dụng và hữu hiệu thì họ càng có ý định tiếp tục
sử dụng cộng đồng học trực tuyến lâu dài trong tương lai. Dựa vào những
kết quả rút ra được, nhóm tác giả đã đưa ra những lời khuyên, đường lối
chỉ đạo cho việc thành lập cộng đồng học trực tuyến như thiết kế khóa
học là ưu tiên hàng đầu, lấy người dùng là trung tâm. Người dùng nên
được khích lệ tích lũy nhiều kinh nghiệm học trực tuyến hơn và sử sụng
công nghệ thông tin để học tiếng Anh. Hơn thế nữa, sự hỗ trợ bổ sung
nên được chú ý tới khi thiết kế giao diện. Mặc dù đề xuất được những giải
pháp hữu hiệu nhưng nghiên cứu này còn rất nhiều hạn chế về đối tượng
và quy mô mẫu bỏi những học sinh phản hồi bảng hỏi phần lớn là học
sinh chưa tốt nghiệp trường THPT.Vì vậy mà khó có được những thông
tin khách quan để so sánh sự khác nhau giữa các độ tuổi, trình độ học vấn
khác nhau.
Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng tới sự chấp nhận môi trường
học trực tuyến của sinh viên ở các nước đang phát triển” (năm 2013),
nhóm tác giả Ali Tarhini, Kate Hone, Xiaohui Liu ở Đại học Brunel,
nước Anh đã có sự linh hoạt hơn trong việc lấy mẫu, khắc phục được hạn
chế của nghiên cứu của nhóm đến từ Đài Loan. Bài nghiên cứu được thực
hiện với gần 600 người tham gia trong độ tuổi từ 17 đến 35 với các trình
độ tiếp cận công nghệ khác nhau trong phạm vi quốc gia Li-băng. Nghiên
cứu đã chỉ ra rằng việc học trực tuyến được đón nhận tích cực và ngày
càng được chấp nhận ở Li-băng. Bằng việc kết hợp quan niệm xã hội và
chất lượng cuộc sống như hai yếu tố chủ đạo, nghiên cứu đã mô tả và giải
thích được cách sinh viên quyết định về việc chấp nhận và sử dụng hệ
thống học trực tuyến. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa đưa ra những giải
pháp thiết thực để giải quyết những vẫn đề còn tồn tại trong môi trường
học trực tuyến.
Một nghiên cứu khác “Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận hệ
Trong mô hình này, ba nhân tố tác động đến dự định hành vi là hiệu quả
mong đợi, nỗ lực mong đợi và ảnh hưởng của xã hội.
Những nghiên cứu đã có áp dụng mô hình UTAUT
Năm 2013, tác giả Paul Juinn Bing Tan đã thực hiện nghiên cứu “Áp
dụng mô hình UTAUT để hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng
các trang mạng học tiếng Anh trực tuyến ở Đài Loan”. Ở trong nghiên
cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình UTAUT để nghiên cứu về sự chấp
nhận và sử dụng những trang học tiếng Anh trực tuyến của những sinh
viên học ở Đài Loan. Tác giả đã thu thập thông tin từ 176 người dùng
trang học tiếng Anh trực tuyến là sinh viên từ hơn 10 trường cao đẳng,
đại học ở Đài Loan. Qua đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố Hiệu
quả mong đợi, Nỗ lực mong đợi, Ảnh hưởng xã hội, Điều kiện thuận lợi
và Dự định hành vi đều tác động một cách tích cực đến sự chấp nhận sử
dụng trang học tiếng Anh trực tuyến. Khả năng chấp nhận sử dụng dịch
vụ của sinh viên càng tăng nếu họ hi vọng một trang học tiếng Anh trực
tuyến nào đó sẽ cải thiện trình độ của họ, nếu trang web đó dễ sử dụng
hay khi giảng viên của họ hay một nhân vật quan trọng nào đó với họ gợi
ý việc học tiếng Anh trực tuyến. Bên cạnh đó sinh viên sẽ thường xuyên
truy cập vào các trang học trực tuyến hơn nếu trang web tạo điều kiện
thuận lợi để sử dụng và sinh viên càng có ý định sử dụng sẽ càng ham
dùng.Qua đó, tác đã đề xuất một vài giải pháp cho các nhà quản lý trang
mạng học tiếng Anh trực tuyến.Những nhà thiết kế trang web nên cải
thiện các tính năng quản lý kho kiến thức và giao diện để người dùng có
thể dễ dàng sử dụng hơn. Hơn thế nữa, sinh viên nên được thông báo rằng
các trang web có thể được hỗ trợ bởi những điều kiện thuận tiện. Tuy
nhiên, nghiên cứu mới thu thập thông tin từ phần trả lời của các phiếu hỏi
mà chưa đi vào phỏng vấn sâu. Thêm vào đó, nghiên cứu về sự chấp nhận
sử dụng trang mạng học tiếng Anh trực tuyến giữa những sinh viên cao
đẳng, đại học ở Đài Loan nên kết quả chưa thể đại diện cho hệ thống học
tiếng Anh trực tuyến ở các quốc gia khác.
Trước đây, khi chưa có sự ra đời của UTAUT, mô hình TAM được xem
là mô hình được sử dụng nhiều nhất trong việc sử dụng hành vi sử dụng
hệ thống, đặc biệt là trong lĩnh vực e-banking. Tuy nhiên, mô hình TAM
nguyên thủy có nhược điểm là chỉ được xây dựng nhằm vào đối tượng là
các tổ chức.Và sau này, UTAUT với sự kết hợp từ tám lý thuyết đã khắc
phục vấn đề này và có thể cho phép nghiên cứu từng cá nhân riêng biệt.
Theo nghiên cứu và nhận định của Venkatesh (2003), lý thuyết UTAUT
giải thích được 70% các trường hợp trong ý định sử dụng, tốt hơn so với
bất kỳ mô hình nào trước đây, khi mà chúng chỉ có thể giải thích được từ
30-45%.
Trước thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa
chọn sử dụng dịch vụ đào tạo tiếng Anh trực tuyến của sinh viên trên địa
bàn Hà Nội ” sẽ tìm ra những yếu tố ảnh hưởng sâu sắc nhất đến quyết
định hành vi người dùng về việc học tiếng Anh trực tuyến. Qua đó,
nghiên cứu tìm ra nhu cầu của người dùng và đưa ra những kiến nghị,
giải pháp giúp các nhà quản lý trang web hiểu được hành vi và tạo những
điều kiện cần thiết để thu hút và đáp ứng nhu cầu của người học.
2.2 Đặc điểm và vai trò của chương trình đào tạo tiếng Anh
2.2.1 Dịch vụ đào tạo và đặc điểm của chương trình đào tạo tiếng Anh
•
Dịch vụ đào tạo
Theo truyền thống từ xa xưa, giáo dục đào tạo được hiểu là một hình thức
học tập mà ở đó, kiến thức và kinh nghiệm được truyền từ người này sang
người khác, từ nhóm người này sang nhóm người khác, từ thế hệ này
sang thế hệ khác bằng phương thức giảng dạy là chủ yếu. Nhưng ngày
nay, cùng với sự phát triển của xã hội và sự hội nhập về kinh tế, chính trị,
giáo dục đào tạo ngày càng lớn mạnh; qua đó, quá trình dạy và học trở
nên có mục đích, hệ thống, sáng tạo hơn và được thực hiện bằng nhiều
Đặc điểm của chương trình đào tạo tiếng Anh
Như được khẳng định trên đây, trong tình hình giáo dục hiện đại ngày
nay, việc đào tạo tiếng Anh ngày càng trở nên thiết yếu và quan
trọng.Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chí, vụ phó Vụ Giáo dục (Ban Khoa giáo
trung ương) từng phát biểu “trong thực tiễn có xu hướng thương mại hóa
giáo dục tốt và không tiếc tiền đi du học nước ngoài”.Các chương trình
đào tạo tiếng Anh đa dạng về môi trường, người dạy và phương pháp học.
Hiện nay có ba môi trường học tiếng Anh chủ yếu bao gồm học trên lớp
tại các trường công lập từ Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ
thông và Đại học chính quy. Tại các trường công lập, giáo trình dạy tiếng
Anh được sắp xếp bài bản và theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Các trường dân lập, đặc biệt là các trường Quốc tế thường tập trung đào
tạo tiếng Anh nhiều hơn trong điều kiện cơ sở vật chất tốt với chi phí cao,
tùy vào từng trường. Nhiều trường Đại học công lập mở thêm những
khoa chính quy đào tạo các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh, khoa liên
kết với các trường cao đẳng, đại học ở nước ngoài. Với các khoa chính
quy, sinh viên vẫn phải thi theo quy định của Bộ và nhà trường, còn các
khoa liên kết gần như độc lập với quy định của Bộ. Môi trường học tiếng
Anh thứ ba là các trung tâm đào tạo tiếng Anh, tùy vào mỗi trung tâm mà
có các khóa học tiếng Anh dành cho những mục tiêu khác nhau như tiếng
Anh giao tiếp, tiếng Anh tổng quát, hay các chứng chỉ Quốc tế như
TOEIC, IELTS, TOEFL IBT…Tại các môi trường khác nhau, với những
điều kiện và chi phí dịch vụ khác nhau mà người dạy cũng trở nên đa
dạng.Giáo viên Việt Nam được đào tạo trong nước hay nước ngoài
thường dạy ở các trường công lập là chủ yếu.Giáo viên nước ngoài gồm
hai loại giáo viên bản xứ và người thạo tiếng Anh nhưng không phải
người Việt Nam hay bản xứ.Các giáo viên nước ngoài thường dạy ở các
trường dân lập hay các trung tâm tiếng Anh. Đi cùng với sự phát triển của
ngạch xuất khẩu, các chính phủ gắn nhãn cho thương mại nước ngoài,
được giao dịch giữa các công ty trong nước và những chi nhánh nước
ngoài của họ.
Tại sao thảo luận về kinh tế cùng với các ngôn ngữ tiếng Anh?Bởi vì
ngôn ngữ tiếng Anh được liên kết chặt chẽ với hiện đại hóa kinh tế và
phát triển công nghiệp. Trong kỉ nguyên công nghệ số, thông tin được
truyền tải với tốc độ ngày càng tăng. Các nhu cầu cạnh tranh của các
chính phủ, các ngành công nghiệp, và các tổ chức ở cả trong nước và đa
quốc gia, là nguyên nhân cơ bản của các tiến bộ công nghệ và nó đòi hỏi
một sự hiểu biết về tiếng Anh để có thể sử dụng cho các mục đích thương
mại.
Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu, khi đã tham gia vào một chương
trình đào tạo tiếng Anh, điều này sẽ cải thiện đáng kể cả động lực và kết
quả học tập của người học. Người học sẽ có động lực hơn khi tham gia
vào việc học tiếng anh. Bởi khác xa với phương pháp truyền thống, người
học được tham gia vào các hoạt động tương tác, các bài tập không mang
tính gò bó nặng về mặt lý thuyết mà có tính thực tiễn gây nên sự hứng thú
cho người học (ví dụ để cải thiện kĩ năng nói, chủ đề có thể là các bộ
phim được công chiếu gần đây, hay một người mà bạn ngưỡng mộ).
Thêm vào đó, một khi người học tìm thấy mục tiêu và động lực học tập,
kết quả học tập sẽ được cải thiện một cách đáng kể, bởi sự phân bổ thời
gian hợp lý giữa việc học và các hoạt động khác của cuộc sống. Bên cạnh
đó, tính hiệu quả của chi phí là không thể không kể đến. Với sự phát triển
của Internet, hầu hết các lĩnh vực kinh doanh đều có lợi trong việc xây
dựng chính sách giá cho khách hàng của mình, và dịch vụ giáo dục trực
tuyến không phải là ngoại lệ. Theo đó, chi phí khóa học sẽ được giảm đến
mức đáng kể. Thông thường một học viên phải trả cho một khóa học dạy
về “Quản lý thương hiệu” trung bình khoảng năm triệu đồng, thì đối với
một khóa học trực tuyến chi phí chỉ vào khoảng 500,000 nghĩa là chỉ
1/10. Hay một khóa học tiếng Anh có giá khoảng 3 triệu đồng thì nếu học
nhau, từ các bé vẫn còn học mẫu giáo cho đến những người đã đi làm.
Các đối tượng học tiếng Anh cũng học với nhiều mục đích khác nhau, có
người học để giao tiếp, người khác lại học để đi thi các chứng chỉ tiếng
Anh quốc tế phục vụ mong muốn du học hay nâng cao khả năng tìm được
một công việc tốt. Do đó, nội dung học tập của các chương trình đào tạo
tiếng Anh cũng rất đa dạng, phù hợp với mục tiêu của từng đối tượng.
Đi kèm với đó, các dịch vụ đào tạo tiếng Anh ra đời với nhiều hình thức,
từ các chương trình giảng dạy bắt buộc trong các trường Đại học, Cao
Đẳng đến việc học gia sư, học thêm tại các trung tâm Tiếng Anh tư nhân.
Với những nội dung, mục đích học khác nhau, đối tượng học tiếng Anh
sẽ lựa chọn các chương trình được giảng dạy bằng người Việt Nam hay
người bản ngữ. Vì vậy yêu cầu trong đào tạo tiếng anh về trình độ,
phương pháp giảng dạy cũng được nâng cao và thay đổi cho phù hợp với
cách học tập của người Việt Nam.
Tiếp thu sự phát triển của công nghê, các chương trình đào tạo tiếng Anh
cũng áp dụng nhiều hơn các trang thiết bị như: video, máy ghi âm hay tai
nghe trong chương trình đào tạo, nhằm tạo môi trường học tập tốt nhất
cho người học.
Nói tóm lại, dịch vụ đào tạo tiếng Anh hiện nay vô cùng đa dạng, phù
hợp với nhiều loại đối tượng, đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội và
ít nhiều đã nâng cao được khả năng tiếng Anh của mọi người.
•
Thực trạng đào tạo tiếng Anh trực tuyến
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, chương trình đào tạo học tiếng
Anh trực tuyến ra đời là giải pháp cho những người có nhu cầu học tiếng
Anh với khoảng thời gian eo hẹp, là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp mọi
người có thể học tiếng Anh mọi lúc nọi nơi.
Số lượng chương trình đào tạo Tiếng Anh trực tuyến hiện nay khá lớn,
- Ảnh hưởng xã hội là mức độ nhận thức cá nhân về sự ảnh hưởng của
người khác trong việc nên sử dụng hệ thống mới.
- Điều kiện thuận lợi là mức độ mà một cá nhân tin rằng cơ sở hạ tầng tổ
chức và kỹ thuật có thể hỗ trợ trong việc sử dụng hệ thống.
Trong đó, “Giới tính”, “năm học đại học”, “kinh nghiệm” và “tự nguyện
sử dụng” là các biến điều tiết tới bốn nhân tố ảnh hưởng ở trên. Trong đó:
- Năm học đại học liên quan đến điều kiện, cơ hội sử dụng các websites
học tiếng Anh trực tuyến, dựa vào đặc điểm chung của các nhóm sinh
viên.
- Kinh nghiệm liên quan đến việc đã từng trải nghiệm/sử dụng bất kỳ các
websites họchọc tiếng Anh trực tuyến
- Tự nguyện sử dụng liên quan đến mức độ sẵn sàng tiếp cận/trải nghiệm
các websites học tiếng Anh trực tuyến để phù hợp với xu thế xã hội.
Trong mô hình này, tất cả các biến độc lập đều có tác động tích cực tới
các biến phụ thuộc.
Dựa trên mô hình đã đề xuất và các nghiên cứu trước đó, nhóm nghiên
cứu đã thiết kế phiếu điều tra, khảo sát bao gồm các yếu tố đo lường sau
đây:
Các khía cạnh đo lường Các yếu tố đo lường
Tham khảo
Hiệu quả
mong đợi
(HQ) HQ1: Sử dụng websites học tiếng Anh trực tuyến giúp tôi áp dụng
tốt hơn trong giao tiếp bằng tiếng Anh Venkatesh, Morris, Davis and
Davis (2003), Paul Juinn Tan (2013)
HQ2: Sử dụng websites học tiếng Anh trực tuyến giúp tạo động lực
học tập
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan (2013)
AH2: Những người quan trọng với tôi khuyên tôi nên sử dụng
websites học tiếng Anh trực tuyến
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn
Tan (2013)
AH3: Bạn bè và thầy cô khuyên rằng tôi nên sử dụng websites học
tiếng Anh trực tuyến
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan (2013)
AH4: Tôi nghĩ rằng sử dụng websites học tiếng Anh trực tuyến là
một xu hướng thời thượng
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan
(2013)
Điều kiện thuận lợi
(DK) DK1: Đủ phương tiện để sử dụng websites học tiếng Anh trực
tuyến Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan (2013)
DK2: Đủ kiến thức để sử dụng websites học tiếng Anh trực tuyến
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan (2013)
DK3: Websites học tiếng Anh trực tuyến tích hợp với các chương
trình/hệ thống đang sử dụng
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan
(2013)
DK4: Nếu có vấn đề với websites học tiếng Anh trực tuyến, có
người/nhóm người giải quyết giúp tôi những vấn đề đó nhanh chóng
Venkatesh et al (2003), Pau Juinn Tan (2013)
Dự định
hành vi
(DD) DD1: Tôi có ý định sử dụng websites học tiếng Anh trực tuyến
trong các hoạt động học tập ở tương lai
Venkatesh et al (2003), Pau
Juinn Tan (2013)
DD2: Tôi sẽ sử dụng websites học tiếng Anh trực tuyến để cải
cao về trình độ tin học để việc tiếp cận học tập dễ dàng hơn.
- NL4: Thể hiện sự quan tâm và chuyên nghiệp của các nhà cung cấp, ghi
lại những hoạt động của người dùng để họ có thể theo dõi quá trình học
tập của bản thân.
Các yếu tố đo lường của biến “Ảnh hưởng xã hội”, các yếu tố thể hiện
từng cấp độ ảnh hưởng khác nhau từ ít quen thân đến rất quan trọng cũng
như là theo suy nghĩ của bản thân người học.
- AH1: Ảnh hưởng người xung quanh (ít quen thân)
- AH2: Ảnh hưởng của những người quan trọng (thân thiết: bố mẹ, anh
chị em…)
- AH3: Ảnh hưởng của những người có quan hệ trực tiếp với việc học của
người dùng trong việc đánh giá, so sánh (bạn bè, thầy cô)
- AH4: Ảnh hưởng theo suy nghĩ của bản thân
Các yếu tố đo lường của biến “Điều kiện thuận lợi” mức độ đáp ứng tối
thiểu của người học để thực hiện các chương trình học trực tuyến
- DK1: Thể hiện sự đáp ứng về mặt cơ sở vật chất để việc học có thể diễn
ra được. Ví dụ như máy tính, tai nghe,… để người học có thể tiếp cận với
các kiến thức được cung cấp trong trang mạng
- DK2: Thể hiện sự đáp ứng về mặt kiến thức tối thiểu về mặt tin học để
có thể truy cập và sử dụng trang mạng
- DK3: Thể hiện sự đáp ứng về mặt tương thích với hệ thống của người
dùng. Ví dụ, người dùng rất bất tiện một trang mạng chỉ hiển thị tốt nhất
trên chương trình Firefox trong khi học chỉ sử dụng Google chrome.
- DK4: Thể hiện sự đáp ứng về mặt hỗ trợ, có thể là bạn bè người xung
quanh hoặc có thể là các nhà cung cấp để giải quyết một số vấn đề thường
gặp hoặc vấn đề bất thường về mặt kỹ thuật.
Các yếu tố đo lường của biến “Dự định hành vi” thể hiện từng cấp độ,
mong muốn sử dụng của người dùng
nhận thông tin mới và phức tạp, vì vậy ảnh hưởng đến việc học công
nghệ mới (theo Morris et al. 2005; Plude và Hoyer 1985). Những khó
khăn này được quy là do sự giảm khả năng nhận thức và trí nhớ theo quá
trình lão hóa (theo Posner 1996). Vì vậy, người nhiều tuổi thường quan
trọng sự sẵn có của việc hỗ trợ đầy đủ hơn so với người trẻ (theo Hall và
Mansfield 1975).
Ngoài ra, Kinh nghiệm cũng điều tiết mối quan hệ giữa Điều kiện thuận
lợi và Hành vi sử dụng. Kinh nghiệm nhiều dẫn đến việc quen hơn, hiểu
biết rõ hơn công nghệ và tích lũy nhiều kiến thức, kĩ năng để người dùng
thuận tiện trong việc làm quen với công nghệ mới, nhờ vậy mà giảm được
sự phụ thuộc của người dùng vào sự hỗ trợ bên ngoài (tlba và Hutchinson
1987). Như vậy, phương pháp phân tích tổng hợp chỉ ra rằng người sử
dụng mà có ít kinh nghiệm sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào điều kiện thuận
lợi. Hơn thế nữa, Tuổi tác và Kinh nghiệm còn điều tiết chung đến mối
quan hệ giữa Điều kiện thuận lợi và Hành vi sử dụng. Khi người sử dụng
chưa đủ kiến thức và thành thạo kĩ năng, tác động của Tuổi tác sẽ trở nên
có ý nghĩa hơn với những người có đủ kiến thức và nhiều trải nghiệm với
công nghệ.
o
Tác động của “Hiệu quả mong đợi” đến “Dự định hành vi”
Khái niệm này được tổng hợp từ 5 khái niệm từ các mô hình khác nhau
bao gồm Nhận thức sự hữu ích (TAM/TAM2 và C-TAM-TPB), Động cơ
bên ngoài (MM), Thích hợp công việc (MPCU), Lợi thế có liên quan
(IDT), và Kỳ vọng kết quả (SCT). Khái niệm Hiệu quả mong đợi trong
mô hình là nhân tố dự báo tốt nhất của Dự định hành vi và duy trì ý nghĩa
ở tất cả các điểm đo lường của cả sự tự nguyện và bắt buộc, thống nhất
với các thử nghiệm mô hình trước đây (Agarwal và Prasad 1998;
Compeau và Higgins 1995b; Davis et al. 1992; Taylor và Todd 1995a;
o
Tác động của “Nỗ lực mong đợi” được điều tiết bởi “Giới tính”,
“Tuổi tác” và “Kinh nghiệm”
Venkatesh and Morris (2000) đã chỉ ra rằng Nỗ lực mong đợi nổi bật hơn
đối với phụ nữ. Như được đề cập ở trên, sự khác biệt giới tính có thể
được thúc đẩy bởi nhận thức liên quan đến vai trò giới tính (theo Lynott
and McCandless 2000; Motowidlo 1982; Wong et al. 1985). Tuổi tác lớn
được chỉ ra rằng có liên quan đến những khó khăn trong việc phân bổ sự
chú ý đến thông tin (theo Plude and Hoyer 1985), đặc biệt cần thiết khi
sử dụng hệ thống phần mềm. Những nghiên cứu trước đó đóng góp các
khái niệm mà hình thành Nỗ lực mong đợi sẽ là những yếu tố quyết định
mạnh mẽ đến dự định cá nhân của phụ nữ (theo Venkatesh and Morris
2000) và ít kinh nghiệm sử dụng ( theo Morris and Venkatesh 2000).
o
Tác động của “Ảnh hưởng xã hội” đến “Dự định hành vi”
Ảnh hưởng xã hội được xem như là nhân tố quyết định ảnh hưởng trực
tiếp đến Dự định hành vi. Khái niệm này được xây dựng dựa trên các
khái niêm khác nhau như tiêu chuẩn chủ quan (TRA, TAM2, TPB/DTPB
VÀ C-TAM-TPB), các nhân tố xã hội (MPCU) và hình ảnh (IDT). Mỗi
khái niệm bao gồm ý rõ ràng hoặc hàm ý rằng hành vi cá nhân bị ảnh
hưởng bởi cách mà họ tin rằng những người khác sẽ coi họ như là kết quả
của việc sử dụng công nghệ. Vai trò của Ảnh hưởng xã hội đến quyết
định chấp nhận công nghệ khá phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các
ảnh hưởng ngẫu nhiên. Ảnh hưởng xã hội có tác động lên hành vi cá nhân
thông qua ba cơ chế: tuân thủ, chủ quan và gia nhập (theo Venkatesh and
Davis 2000; Warshaw 1980). Trong khi hai cơ chế trên liên quan đến
thay đổi cấu trúc niềm tin của một cá nhân hoặc khiến cho cá nhân ấy đáp
ứng với sự tăng địa vị xã hội thì cơ chế chủ quan khiến cá nhân đơn giản
là thay đổi ý định của mình để đáp ứng với những áp lực xã hội, các cá
nhân có ý định tuân thủ các ảnh hưởng xã hội.
Phù hợp với các lý thuyết cơ bản ở tất cả các mô hình dự định, Dự định
hành vi được hy vọng là sẽ có một ảnh hưởng tích cực đối với việc sử
dụng công nghệ.
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu (Nguồn: nhóm nghiên cứu)
Quá trình nghiên cứu bao gồm các bước:
Bước 1: Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp về lý thuyết chấp nhận công nghệ
(trong đó tập trung nghiên cứu về mô hình UTAUT, TAM) và đặc điểm
các chương trình đào tạo tiếng Anh
Bước 2: Đưa ra tiêu chí đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ chấp
nhận sử dụng dịch vụ đào tạo tiếng Anh trực tuyến dựa trên mô hình
UTAUT
Bước 3: Tiến hành xây dựng bảng hỏi dựa trên tài liệu thứ cấp
Bước 4: Khảo sát thử và kiểm tra độ chính xác của bảng hỏi
Bước 5: Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu
Bước 6: Kiểm tra độ tin cậy và phân tích số liệu đã thu thập được bằng
SPSS