GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
MỤC LỤC
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, đất nước ta đứng trước những thách thức và vận hội
mới. Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trên bước đường công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, Việt Nam đang chuyển dịch từ nền kinh
tế nông nghiệp sang nền kinh tế đa dạng với nhiều thành phần kinh tế theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay ngành chăn nuôi ngày càng có vị trí
quan trọng trong sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt chăn nuôi lợn được coi là
một ngành quan trọng nhất đối với sự phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam.
Con lợn giúp người nông dân, từ nguồn thức ăn sẵn có, tạo thu nhập bằng tiền
để trang trải chi phí gia đình, là một nghề truyền thống sản xuất ra trên 70%
tổng sản lượng thịt mỗi năm. Từ đó, Đảng và Nhà Nước Việt Nam đã đưa ra
và từng bước hoàn thiện những chủ trương, chính sách nhằm phát triển
nghành chăn nuôi trên phạ m vi cả nước. Điều này đã khuyến khích và từng
bước đưa nghành chăn nuôi lợn phát triển lên một tầm cao mới, trong đó phải
kể đến chăn nuôi các giống lợn mang lại lợi nhuận cao hơn để phục vụ nhu
cầu ăn uống ngày một cao cấp của mọi người. Tuy nhiên, thực trạng chăn
nuôi truyển thống đang còn tồn tại rất nhiều và là dấu hỏi cho ngành chăn
nuôi Việt Nam trong công cuộc phát triển. Đó là chăn nuôi phân tán, quy mô
nhỏ, năng suất thấp, tiêu thụ bị động, hàng hóa chất lượng cao còn ít, giá
thành cao, dẫn đến cạnh tranh thấp, nhất là trong xuất khẩu. Đặc biệt chúng
không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất, phục vụ nhu cầu xã hội mà còn thực hiện
sản xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của chính con người. Những
quan hệ này tạo thành cơ sở kinh tế cho toàn bộ các quan hệ tư tưởng, tinh
thần trong nông nghiệp nông thôn, tạo nên cơ sở kinh tế cho sự phát triển
nông nghiệp
Hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sẩn xuất, những hình
thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản
xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với
toàn bộ nền nông nghiệp. Nói cách khác, hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng
thể các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp
2. Đặc điểm của hệ thống nông nghiệp
2.1. Đặc điểm chung
2.1.1. Sản xuất nông nghiệp có tính vùng
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm trên
2
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
cho thấy, ở đâu có đất và lao động thì có thể tiền hành sản xuất nông nghiệp.
thế nhưng, ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết, khí hậu
khác nhau nên nông nghiệp mang tính chất khu vực rất rõ rệt. Đặc điểm này
đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn
đề kinh tế - kỹ thuật sau:
- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thủy sản trên phạm
bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư
liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật
nuôi tốt hươn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc các giống hiện có và nhập
những giống mới tốt phù hợp với điều kiện từng địa phương
2.1.4. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
Đó là nét đặc thù điển hình nhất trong sản xuất nông nghiệp bởi vì quá
trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn bó chạc chẽ
với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất
xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời
vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không
thể xóa bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó. Hơn nữa,
do sự biến thiên về điều kiện thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích
ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn tới tính mùa vụ khác nhau
2.2. Đặc điểm riêng của nông nghiệp nước ta
2.2.1. Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạch hậu, tiến lên xây dựng
nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa không
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi
chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là rất thấp
so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cơ sở vật chất còn nghèo nàn,
kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ
trọng lớn trong tuẩn lao động xã hội, năng suất lao động thấp. Để đưa nền
kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển trình độ sản xuất hàng hóa cao, cần
thiết phải bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển nông nghiệp và nông
thôn, khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp và hệ
thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp; bổ sung hoàn thiện và đổi mới hệ
thống chính sách kinh tế nông nghiệp nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất,
4
nước, mà là ở hiệu quả hoạt động, vai trò đầu tàu lôi kéo, liên kết các bô phận
kinh tế khác phát triển đạt hiệu quả cao
5
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
- Sở hữu tập thể: Là bộ phận hợp thành chế độ sở hữu, có quan hệ mật
thiết với các loại hình sở hữu khác. Kinh tế tập thể tồn tại và phát triển lâu dài
trong nông nghiệp là tất yếu khách quan ở mọi nước nhằm hỗ trợ, giúp đỡ cho
kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển và hợp tác, liên kết với kinh tế nhà
nước để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Sở hữu cá thể tư nhân: Là loại hình sở hữu không thể thiếu được trong
hệ thống kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần. Trong nền nông nghiệp nước
ta, sở hữu cá thể tư nhân đã tồn tại và phát triển ở những mức độ khá nhau
qua các thời kỳ lịch sử. Trong thời kỳ đổi mới, sở hữu cá thể tư nhân trong
nông nghiệp được khuyến khích phát triển
- Sở hữu liên kết: là loại hình sở hữu phổ biến và phát triển rất đa dạnh
cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa nông nghiệp dựa trên trình độ
phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất. Hình thức biểu hiện của sở
hữu liên kết rất phong phú như:
+ Liên kết đồng sở hữu
+ Liên kết dựa trên nền tảng sở hữu nhà nước
+ Sở hữu của công ty cổ phần nông nghiệp
+ Sở hữu của công ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con
+ Sở hữu liên kết theo mô hình tập đoàn kinh tế
3.2. Tương ứng với các hình thức sở hữu nói trên sẽ hình thành và phát
những mệnh lệnh hành chính, đảm bảo vận hành nền nông nghiệp chủ yếu
theo nguyên tắc thị trường kết hợp với các kế hoạch định hướng và các chính
sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Mọi yếu tố đầu vào của sản xuất và đầu ra của sản phẩm nông nghiệp
đều phải đi vào thị trường. Như vậy trong tương lai, nông nghiệp và nông
thôn nước ta sẽ ngày càng đầy đủ một hệ thống thị trường thông suốt và thống
nhất, phát huy đầy đủ vai cho thúc đẩy nền nông nghiệp nước ta phát triển với
tốc độ nhanh và có hiệu quả
4. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
4.1. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã
hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò quan trọng
trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát
triển.Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được
7
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng
tăng về cả số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của các
nhân tố như gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người. Do
đó, lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính quyết định sự tồn tại phát
triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
4.2. Nông nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và
khu vực đô thị
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu
nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sực mua từ khu vực nông thôn sẽ làm
cho nhu cầu về sản phẩn công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển,
từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và sức cạnh tranh
trên thị trường quốc tế
4.4. Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.
Các loại nông , lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với
các sản phẩm công nghiệp. Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồn xuất
khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản. Xu hướng
chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hóa, ở giai đoạn đầu giá trị xuất
khẩu nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu
và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng sự phát triển cao của nền kinh tế. Tuy nhiên,
xuất khẩu nông, lâm, thủy sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới
có xu hướng giảm xuống, giá cả sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng làm
cho nông nghiệp bị thua thiệt hơn so với công nghiệp
4.5. Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển
bền vững của mội trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi
trường tự nhiên.Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như phân bón, thuốc trừ
sâu… làm ôn nhiễm môi trường. Qúa trình canh tác nông nghiệp làm đất đai
bị xói mòn, rừng bị tàn phá. Vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông
nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển
bền vững của môi trường
5. Chiến lược phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
5.1. Chiến lược chung
a. Căn cứ xây dựng chiến lược
9
có cơ cấu sản phẩm hàng hóa phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường trong
nước và đẩy mạnh vào xuất khẩu, đồng thời đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa
10
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
học công nghệ mới để nâng cao năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh
trên thị trường
- Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, đảm bảo an
ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước thành một nền nông nghiệp sạch
c. Mục tiêu phát triển
Để thực hiện phương hướng chiến lược phát triển trên, nông nghiệp
nước ta cần đạt các mục tiêu sau:
- Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia
- Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu
- Nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho dân cư nông thôn
- Bảo vệ môi trường sinh thái
5.2. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp là cấu trúc bên trong của một ngành nông
nghiệp. Nó bao gồm các bộ phận hợp thành ngành sản xuất nông nghiệp và
các mối quan hệ tỷ lệ hữu cơ cả về mặt lượng và mặt chất giữa các bộ phận
hợp thành đó trong thời gian và không gian nhất định
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta còn lạc hậu, trồng trọt chiếm tỷ
trọng lớn. Để đạt được mục tiêu, cần nhanh chóng đổi mới co cấu sản xuất nông
nghiệp, định hướng đổi mới cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính trong nông nghiệp
Mục tiêu của việc nghiên cứu cơ hội đầu tư là xác định các khả năng
đầu tư một cách nhanh chóng và ít tốn kém về chi phí. Do đó, đặc điểm
nghiên cứu của giai đoạn này còn khác sơ sài. Việc xác định đầu vào, đầu ra
và hiệu quả tài chính KT-XH của cơ hội đầu tư thường dựa vào các ước tính
tổng hợp, hoặc các dự án tương tụ hoạt động trong hoặc ngoài nước.
Trên cơ sở các cơ hội đầu tư đã xác đinh, tiến hành phân tích để lựa
chọn cơ hội đầu tư được xem là có triển vọng nhất để chuyển sang giai đoạn
nghiên cứu tiếp theo. Việc nghiên cứu và phát hiện các cơ hội đầu tư cần
được tiến hành thường xuyên ở mọi cấp độ để cung cấp các dự án sơ bộ cho
nghiên cứu tiền khả thi và khả thi, từ đó xác định được danh mục các dự án
đầu tư cần thực hiện trong từng thời kỳ kế hoạch.
2. Nghiên cứu tiền khả thi
Đây là bước nghiên cứ tiếp theo đối với các cơ hội đầu tư có nhiều triển
vọng đã được lựa chọn. Cơ hội đầu tư này thường có quy mô đầu tư lớn, các
12
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
giải pháp kỹ thuật phức tạp, thời gian thu hôi vốn lâu, có nhiều yếu tố bất định
tác động. Giai đoạn này nghiên cứu sâu hơn, chi tiết hơn các khía cạnh mà khi
xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chăn, nhằm tiếp tục lựa
chọn, sàng lọc để khẳng định lại tính khả thi của cơ hội đầu tư đã lựa chọn.
Đối với các cơ hội đầu tư có quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt ký thuật và
triển vọng đem lại hiệu quả là rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu
tiền khả thi.
Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết,
- Nghiên cứu khía cạnh tổ chức quản lý và nhân sự của dự án
- Phân tích khía cạnh tài chính cửa dự án
- Phân tích khía cạnh KT-XH của dự án.
Kết quả nghiên cứu chúng được cụ thể hóa trong báo cáo nghiên cứu khả
thi.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập dự án đầu tư phát triển
nông nghiệp
1. Đặc điểm vốn có của ngành nông nghiệp
Vì khu vực nông nghiệp có những đặc thù không thể bỏ qua, nên các
mô hình về hành vi đầu tư trong khu vực này tất yếu phải được xây dựng
trong những khung khổ lý thuyết phản ánh các đặc thù ấy.
WB (2007) tổng quát hoá đặc thù của khu vực nông thôn là nơi mà cả
thị trường lẫn chính phủ đều thể hiện những thất bại: chi phí giao dịch cao,
thiếu điều kiện và không đồng đều trong việc tiếp cận thông tin, cạnh tranh
không hoàn hảo, ngoại ứng, thiếu hàng hoá công, như cơ sở hạ tầng yếu kém
hoặc phân tán. Ngoài ra, đây cũng là nơi thiếu vắng một số thị trường quan
trọng nhất, chẳng hạn thị trường tín dụng và bảo hiểm.
Hơn nữa, các hộ nông nghiệp là những hộ gắn bó với một chút đất đai
và chủ yếu sử dụng lao động trong hộ để làm việc đồng áng. Các hộ này nằm
trong những môi trường kinh tế và chính trị truyền thống mà vì nó hành vi
của họ bị chi phối nặng nề, và đặc biệt là họ chỉ tiếp cận một phần với thị
trường, mà các thị trường này thì thường là không hoàn hảo và không đầy đủ
Phải xác định rằng xác định đặc trưng của các tác nhân trong khu vực
nông nghiệp là những đơn vị có sản xuất và tiêu dùng hỗn hợp, nghĩa là chỉ
một phần sản phẩm được bán trên thị trường, còn một phần là tự sản tự tiêu.
14
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
VẬN DỤNG CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN TRÊN ĐỂ LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG TRANG TRẠI LỢN RỪNG
I. Phát hiện cơ hội đầu tư
1. Lựa chọn cơ bản
1.1.
Nhu cầu tiêu dùng hiện nay
Ngày nay, cùng với sự phát triển về kinh tế, thu nhập của người dân
ngày càng tăng cao thì nhu cầu tiêu dùng cũng không ngừng tăng lên. Không
chỉ dừng lại ở việc ăn no mặc đủ mà đã trở thành ăn ngon mặc đẹp. Nhu cầu
tiêu dùng thực phẩm nói chung và nhu cầu tiêu thụ thịt lợn, đặc biệt là thịt lợn
rừng nói riêng đang ngày một tăng lên. Thịt lợn đã trở thành một món ăn
không thể thiếu trong bữa cơm của gia đình Việt. Người tiêu dùng trong nước
tiêu thụ hàng triệu tấn thịt lợn mỗi năm. Tuy nhiên, chất lượng thịt lợn nhiều
nơi chưa đảm bảo, thức ăn dùng cho chăn nuôi chưa được chú trọng, chứa
hàm lượng chất tăng trọng cao, gây ảnh tới sức khỏe người tiêu dùng. Ngoài
ra, thịt lợn thường đã trở nên quá phổ biến, khiến người tiêu dùng cảm thấy
nhàm chán và có xu hướng tìm kiếm nguồn thực phẩm tươi mới và an toàn
hơn. Do đó, trong những năm gần đây, nhu cầu thịt lợn rừng đang tăng cao.
Thịt lợn rừng có nhiều ưu điểm hơn so với thịt lợn thường như: tỉ lệ mỡ và
hàm lượng chất béo thấp, thịt giòn và ngon hơn, mùi vị đặc biệt của núi rừng,
hơn hẳn thị lợn thường. Việc chăn nuôi lợn rừng cũng không quá phức tạp,
nguồn thức ăn sạch, chủ yếu là cỏ và một phần thức ăn thô nên chất lượng thịt
luôn được đảm bảo. Mô hình chăn nuôi lợn rừng đang ngày càng phát triển ở
nhiều nơi trên cả nước tuy nhiên vẫn chưa đủ sản lượng để cung cấp cho thị
trường nên đây là một cơ hội đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư hiện nay
1.2.
Khả năng đầu tư
ngàn tấn (trong đó thịt lợn 2.797 ngàn tấn chiếm 65%). Thực tế số hộ có chăn
nuôi lợn chỉ chiếm 50% - 70% trong số hộ nông dân. Như vậy thực tế mỗi hộ
có chăn nuôi lợn phải nuôi 10 lợn thịt để xuất chuồng được 6,2 lợn thịt đạt
90kg/con/năm. Ước tính có 8,4 triệu hộ có chăn nuôi lợn, đến năm 2015 sẽ
cung cấp cho xã hội được 18 triệu lợn thịt có chất lượng cao. Vậy với một
trăm ngàn mô hình này đến 2015 mỗi tỉnh phấn đấu để có bình quân 1.562 hộ
17
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
mô hình chăn nuôi quy mô nhỏ. Như vậy cũng chỉ mới cung cấp được 50%
nhu cầu thị trường. Như vậy, lợn rừng hoàn toàn có khả năng phát triển để
đáp ứng thêm cho nhu cầu của người tiêu dùng.
Hơn nữa, hiện nay nước ta mới có khoảng 20 trang trại nuôi lợn rừng
quy mô lớn với số lượng lợn từ 500 đến 1000 con mỗi trang trại cùng với
hàng trăm hộ chăn nuôi vừa và nhỏ với số lượng từ 5 đến 100 con mỗi hộ.
Mỗi con lợn rừng xuất chuồng có khối lượng khoảng 40kg, lượng thịt cung
cấp được khoảng 25kg/con. Như vậy, sản lượng thịt lợn rừng cung cấp ra thị
trường mỗi năm còn thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu còn thiếu của thị
trường. Với khe hổng này của thị trường, đầu tư nuôi lợn rừng sẽ là ngành có
triển vọng phát triển cao trong những năm tới. Dự kiến đến năm 2020, thị
trường thịt lợn nói chung và thịt lợn rừng nói riêng vẫn chưa bão hòa. Dự án
đầu tư nuôi lợn rừng sẽ có tính khả thi cao.
1.4 Cơ sở pháp lý
Lợn rừng thuần chủng là một loài động vật hoang dã, việc săn bắt
chúng sẽ vi phạm pháp luật nên nguồn cung chủ yếu cho thị trường là lợn
"http://sonongnghiepbp.gov.vn/index.php?language=vi&nv=knkn&op=Tintuc/Hieu-qua-tu-mo-hinh-nuoi-heo-rung-lai-134"nv=knknHYPERLINK
"http://sonongnghiepbp.gov.vn/index.php?language=vi&nv=knkn&op=Tintuc/Hieu-qua-tu-mo-hinh-nuoi-heo-rung-lai-134"&HYPERLINK
"http://sonongnghiepbp.gov.vn/index.php?language=vi&nv=knkn&op=Tintuc/Hieu-qua-tu-mo-hinh-nuoi-heo-rung-lai-134"op=Tin-tuc/Hieu-qua-tu-mohinh-nuoi-heo-rung-lai-134
http://nongdan.com.vn/kienthuc/index.php/nong-dan-lam-giau/moi-tuan-1nghe/11009-ngh-nuoi-ln-rng-lam-chi-n-tht
Với những phân tịch trên cùng với được sự ủng hộ và giúp đỡ từ các cơ
quan Nhà nước, chăn nuôi lợn rừng đang là một nghề chăn nuôi mới đầy hứa
hẹn và mở rộng nhiều tiềm năng.
2. MỤC TIÊU DỰ ÁN NUÔI LỢN RỪNG
2.1.
Mục tiêu ngắn hạn
Nuôi 250 con lợn. Tạo công ăn việc làm cho 3 lao động. Dần ổn định đầu
ra tiêu thụ sản phẩm. Doanh thu ước tính đạt 441 triệu 1 năm. Lãi 200 triệu
19
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
Mục tiêu của Dự án xây dựng mô hình chăn nuôi lợn rừng theo hình
thức bán hoang dã nhằm mục tiêu:
Về xã hội: Tận dụng lợi thế địa lý, khí hậu trung du miền núi Bắc
Giang phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của loài lợn rừng, tận dựng
được nguồn thức ăn phụ phẩm. Tạo thêm công ăn việc làm cho lao động trong
vùng. Góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương nơi cư trú.
Về kinh tế: Tạo ra nguồn thu nhập lớn bằng sản phẩm thịt lợn và lợn
giống an toàn, đảm bảo uy tín chất lượng là lợn rừng thuần chủng, không lai
Mô hình và phương pháp chăn nuôi
a. Mô hình
+ Diện tích cần cho khu vực nuôi heo: Với số lượng 40 lợn cái giống và
10 lợn đực của mô hình, diện tích khoanh nuôi từ 2ha. Dùng cọc bê tông trôn
xung quanh, rào bằng lưới B40. Bên trong sẽ chia thành 2 khu vực.
• Khu vực thứ nhất dùng để nuôi lợn giống và lợn vẫn còn bú sữa mẹ
rộng khoảng 1000 m3. Khu đất này ta sẽ chia thành 30 ô nhỏ. Mỗi ô sẽ được
xây bằng cay bê tông xung quanh và sẽ gồm 2 phần sân chơi và nhà tránh
mưa nắng cho lợn. Tất cả đều là nền đất, có hệ thống máng cho ăn và bú
nước(cải tiến mới)
• Khu vực thứ 2 là tất cả diện tích còn lại dùng để nuôi lợn con đã tách
mẹ cho tới khi xuất chuồng. Khu này sẽ cố gắng tạo cho lợn một môi trường
sao cho giống với ngoài tự nhiên. Gồm có một phần diện tích trũng, có nước
vào mùa mưa và đào sâu tạo thành ao chứa nước vào mùa khô. Xung quanh
khu vực khoanh nuôi trồng thêm một số loài cây che bóng mát kích thước lớn
vì nếu nhỏ sẽ bị lợn ủi bục rễ đổ và bố trí khu vực trồng cây thức ăn bổ sung
cho lợn (chuối, tre, sắn, cỏ,…). Ta sẽ xây những dãy mái che rộng 1000 m3.
Diện tích này cần thiết để nhốt heo thời gian đầu và trong thời gian tập cho
heo quen với những tín hiệu của người nuôi. Khi heo đã quen với tín hiệu,
thời gian cho ăn, khu vực này chỉ để cho heo ngủ vào ban đêm và thuận lợi
cho quản lý.
b. Phương pháp chăn nuôi
- Con giống
Heo đực lai: Đạt 3 tháng tuổi, trọng lượng trung bình từ 10 – 15kg/con;
giống lai thuần chủng từ heo rừng, con lai đảm bảo tỉ lệ 80 – 90% heo rừng,
sức ăn khỏe, sức khỏe tốt, đã được tiêm phòng các loại bệnh cơ bản như
21
hình thành phản xạ có điều kiện để dễ dàng gọi heo khi thả ra ngoài.
22
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thu Hà
Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân
Sau 15 – 20 ngày: Khi thấy heo đã quen với khu vực nuôi, có thể thả heo
ra ngoài kiếm ăn, vẫn duy trì cho ăn bổ sung ngày 2 lần theo thời gian quy
định. Dùng các tín hiệu đã tập cho heo từ trước (gõ kẽng) để gọi heo về khi
cần thiết. Thực tế khi thả, heo có thể đi xa cách khu khoanh nuôi khoảng 1,5 –
2km. Thời gian này, quan sát bụng và khả năng ăn của đàn heo để xác định độ
no của heo sau khi thả để giảm lượng thức ăn bổ sung theo từng bửa ăn.
Mùa lạnh (từ tháng 12 – tháng 3): Đảm bảo giữ ấm, tránh gió lùa cho heo
vào ban đêm. Bổ sung các loại thuốc như Vitamin C, gluco để đảm bảo sức đề
kháng cho heo. Đảm bảo đủ nước uống cho heo. Tiêm phòng các loại bệnh
viêm phổi, lỵ, đường ruột. Theo dõi nếu heo có hiện tượng tiêu chảy, cần
giảm lượng thức ăn là rau xanh, tăng cường cho ăn nước cám pha loãng với
muối và các loại thuốc phòng bệnh theo chỉ dẫn của thú y.
Mùa mưa (Từ tháng 4 – tháng 7): Đảm bảo chỗ cho heo trú mưa. Tiêm
phòng các loại bệnh đường ruột, theo dõi để phòng các loại bệnh ngoài da do
ký sinh trùng, lỡ mồm long móng. Đăc biệt đầu mùa mưa (thời điểm chuyển
mùa) heo thường mắc các loại bệnh có thể làm cho heo chết nhanh chóng, đặc
biệt là heo con. Do vậy cần thường xuyên theo dõi phòng bệnh cho heo.
- Thú y
Cần liên hệ với cán bộ thú y để theo dõi phòng và trị bệnh cho đàn heo
nuôi trong mô hình ở những thời điểm cần thiết
• Định kỳ theo dõi tình hình sức khỏe của đàn heo ít nhất 2 tháng/lần
STT Hạng mục
Đơn vị tính Số lượng Đơn giá
(đ)
Thành tiền
(đ)
Chi phí đầu vào
1
Giống
Heo đực lai
con
2
3000.000
6000.000
Heo nái địa phương
con
8
500.000
4000.000
Vận chuyển giống
Chuyến
1
10.000.000 10.000.000
2
Chuồng trại, dụng cụ, thiết bị làm chuồng với diện tích 2ha, đã tính
khấu hao cho 5 năm
Lưới B40, cọc bê tông,