Lời nói đầu
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô có tầm ảnh
hởng vô cùng quan trọng đến toàn bộ đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thông
qua chính sách này, Ngân hàng trung ơng, Chính phủ chính sách thể đa ra các
biện pháp nhằm ổn định giá cả, tăng trởng kinh tế và cải thiện tình trạng công ăn
việc làm. Để chính sách tiền tệ phát huy một cách tối đa hiệu quả của nói, việc sử
dụng các công cụ của chính sách này hợp lý trong từng giai đoạn khác nhau của
quá trình phát triển kinh tế xã hội giữ vai trò chủ chốt.
Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bài đề án môn học, em chỉ xin đề cấp
một vài nét về các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ - đặc biệt là hoạt
động trên thị trờng mở của Ngân hàng Trung ơng. Vì vậy trong quá trình trình
bày em mong đợc các thầy cô giáo cho những chỉ dẫn để em có thể hiểu sâu hơn
về vấn đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!.
1
Phần I: Giới thiệu chung
I. Chính sách tiền tệ.
Tiền tệ là một khái niệm dùng để chỉ những gì đợc chấp nhận làm môi giới
trung gian trong trao đổi và là phơng tiện thanh toán các khoản nợ. Từ khi ra đời
cho đến nay, tiền tệ đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội
của tất cả các quốc gia trên thế giới. Lịch sử phát triển của tiền tệ đã trải qua
nhiều hình thái khác nhau nhng tựu chung lại chúng có cùng một bản chất. Đi
kèm với quá trình hình thành và phát triển của tiền tệ hoạt động tài chính ngân
hàng cũng đã ra đời và phát triển không ngững và ngày càng khẳng định vai trò
không thể thiếu đợc của hoạt động tiền tệ. Ngày nay hệ thống ngân hàng và đặc
biệt là Ngân hàng Trung ơng thông qua một cơ chế điều chỉnh tiền tệ gọi là
chính sách tiền tệ đã có khả năng kiểm soát đợc các vấn đề về tiền tệ. Các nhà
kinh tế học cũng cha đa ra đợc một định nghĩa chính xác về thế nào là chính sách
tiền tệ, tuy nhiên chính sách tiền tệ cũng có thể đợc coi là những biện pháp mà
Ngân hàng Trung ơng, ngân hàng có quyền lực cao nhất trong toàn bộ hoạt động
ngân hàng và tài chính, sử dụng để đạt những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.
đo lợng đợc, có thể kiểm soát đợc và quan trọng hơn đó là chúng đều có mối liên
hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng. Hệ thống mục tiêu này bao gồm nhiều chỉ
tiêu khác nhau. Vì vậy để đạt đợc nó cần có những công cụ hỗ trợ đắc lực và hiệu
quả. Trong từng giai đoạn khác nhau của nền kinh tế có thể các mục tiêu này sẽ
tạm thời thay thế cho nhau. Vì vậy việc linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ
của chính sách tiền tệ sao cho phù hợp nhất với các mục tiêu là vô cùng quan
trọng và Ngân hàng Trung ơng sẽ là ngời ra quyết định cuối cùng đối với các
công cụ này. Hiện nay, công cụ trực tiếp và gián tiếp của chính sách tiền tệ đó là:
Hạn mức tín dụng, nghiệp vụ lãi chiết khấu, dự trữ bắt buộc và hoạt động của
3
Ngân hàng Trung ơng trên thị trờng tự do này còn gọi là nghiệp vụ thị trờng mở.
Trong điều kiện thế giới khi nền kinh tế thị trờng đã phát triển đa số các nớc tiên
tiến thờng sử dụng các công cụ gián tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy
nhiên, Việt Nam là một nớc mới chuyển sang nền kinh tế thị trờng, sự phát triển
của hệ thống thị trờng cha đợc đầy đủ và hoàn thiện vì vậy việc sử dụng các công
cụ này trong điều hành chính sách tiền tệ gặp nhiều khó khăn về khách quan cũng
nh chủ quan đặc biệt là trong giai đoạn giao thời nh hiện nay.
II. Công cụ của chính sách tiền tệ
1. Công cụ trực tiếp Hạn mức tín dụng
Công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động đợc thực hiện trực tiếp bởi
Ngân hàng Trung ơng nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lợng tiền
trong lu thông và lãi suất. Hạn mức tín dụng là một loại công cụ trực tiếp đó là lãi
suất d nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ơng bắt buộc các tổ ch chính sách tín dụng
phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế đây là công cụ tác động trực tiếp
vào khối lợng tiền trong lu thông với công cụ này Ngân hàng Trung ơng có thể
kiểm soát đợc khối lợng tiền trong thời kỳ hoạt động tài chính đợc điều tiết chặt
chẽ, khi đó các công cụ gián tiếp cha có điều kiện để áp dụng. Trong trờng hợp
khẩn cấp với sức ép lạm phát tăng cao, lợng tiền cung ứng cần đợc khống chế trực
tiếp và ngay lập tức, Ngân hàng Trung ơng kiểm soát tất cả các khoản cho vay lớn
của các ngân hàng trung gian, hạn chế cho vay tiêu dùng, cho vay trả chậm, cho
trung gian sẽ mở một tài khoản ở Ngân hàng Trung ơng, điều này có thể giúp cho
việc thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau giữa ngân hàng trung gian
và Ngân hàng Trung ơng, việc chi trả các khoản phí giao dịch ... Dự trữ bắt buộc
5
bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đây là tỷ lệ phần trăm tính trên tổng
sốd tiền các loại tại một thời gian nào đó. Dự trữ bắt buộc đợc sử dụng lần đầu
tiên ở Mỹ vào năm 1913, sau những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài vào những
năm 30, nó dần dần đợc sử dụng phổ biến ở những nớc khác và lúc này Ngân
hàng Trung ơng đã nhận ra rằng dự trữ bắt buộc không chỉ có thể đảm bảo khả
năng thanh toán và an toàn cho các ngân hàng trung gian mà nó còn có thể là
công cụ để điều tiết trong nền kinh tế. Thông qua việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc Ngân hàng Trung ơng có thể tác động vào nguồn dự trữ, vốn khả dụng của
các ngân hàng và do vậy nó sẽ làm tăng hay giảm lợng tiền cung ứng trong lu
thông.
Mặc dù lịch sử ra đời của dự trữ bắt buộc là từ những năm đầu của thế kỷ
20, nhng ở nhiệm vụ mới chỉ bắt đầu làm quen với khái niệm này vào năm 1990.
Tháng 5/1990, sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng đợc ban hành thì các ngân hàng
bắt đầu thực hiện qui chế dự trữ bắt buộc. Theo Pháp lệnh Ngân hàng nhà nớc
Việt Nam, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đợc tính trên số d tiền gửi của các tổ chức, các cá
nhân ở các ngân hàng, tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau mà tỷ lệ này sẽ đợc qui
định khác nhau trong phạm vi từ 10 35%. Trong giới hạn này dự trữ bắt buộc
không đợc trả lãi, còn nếu vì một lý do nào đó và nhằm một mục đích nhất định,
thống đốc Ngân hàng nhà nớc có thể ra quyết định nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên
cao hơn 35%, phần chênh lệch lớn hơn 35% sẽ đợc ngân hàng nhà nớc trả lãi.
Trên thực tế tỷ lệ này thờng là 10%, tuy nhiên việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
cũng khác nhau trong từng thời kỳ và với từng loại tiền gửi khác nhau. Ví dụ nh từ
tháng 5/1990 đến tháng 3/1994 tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% cho tất cả các loại
tiền gửi nhng theo Quyết định 261 QĐ/NH1 ngày 19/09/1995, tỷ lệ 10% chỉ
áp dụng cho loại tiền gửi 12 tháng trở xuống. Giữa 2 thời kỳ này từ tháng 5/1994
đến tháng 9/1995 tỷ lệ dự trữ bắt buộc có sự phân biệt cho 2 loại tiền gửi có kỳ
xuất phát từ mục tiêu của chính sách tiền tệ. Mục tiêu của chính sách tiền tệ sẽ
qui định mức độ cung ứng tiền, quy định cách quản lý điều tiết tiền, đây là yếu tố
quyết định nhất đến việc qui định này. Mục tiêu của chính sách tiền tệ trớc tiên sẽ
là điều chỉnh cơ cấu và khối lợng tiền trong lu thông sao cho hợp lý nhất và từ đó
cách quản lý tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ đó sẽ đợc xác định một cách tối u và
hiệu quả.
1
Tạp chí KH và đào tạo Ngân hàng số 3 ( 5+ 6/2000 )
2
7
Thứ đến đó là qui mô hoạt động của các tổ chức tín dụng khi sử dụng dự
trữ bắt buộc trong điều tiết của Ngân hàng Trung ơng ngời ta coi đây là một thứ
thuế đánh vào các tổ chức tín dụng. Xét trên một khía cạnh nào đó dự trữ bắt buộc
đợc coi nh một khoản thuế là quan niệm có thể chấp nhận đợc, vì hầu hết các
khoản dự trữ bắt buộc đều không đợc trả lãi. Vì vậy nhằm tạo điều kiện cho các
ngân hàng nhỏ giảm mức độ gánh nặng của dự trữ bắt buộc, ngời ta thờng căn cứ
vào qui mô tiền gửi của các ngân hàng để định ra tỷ lệ dự trữ cho từng loại hình tổ
chức tín dụng. Hiện nay các tổ chức tín dụng thực hiện dự trữ bắt buộc theo Quyết
định số 51/1999/QĐ-NHNN1 của Ngân hàng nhà nớc Việt Nam ngày
10/02/1999. Nhóm các Ngân hàng thơng mại quốc doanh, ngân hàng thơng mại
cổ phần đô thị. Chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, ngân hàng liên doanh và công ty
tài chính đợc áp dụng tỷ lệ 5% trên tổng số d tiền gửi dới 12 tháng. Cũng với loại
tiền gửi này tỷ lệ áp dụng cho các tổ chức tín dụng còn lạ là 1% và 0%
(1).1
Ngày nay các công cụ điều hành chính sách tiền tệ đã đợc củng cố và mở
rộng, hoàn thiện và phát huy vai trò kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng nhà nớc. Vì
vậy dự trữ bắt buộc không còn là công cụ mang lại hoạt động cao nhất, trong việc
điều hành chính sách tiền tệ từ đó việc qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực chất đó
là việc xác lập một tỷ lệ sao cho nó có thể kết hợp với các khác thật nhịp nhàng
trong điều tiết lợng tiền cung ứng và mức lãi suất hợp lý trên thị trờng.
trữ bắt buộc tính trên tổng số d tiền gửi bình quân ngày mức dự trữ sẽ thay đổi
đáng kể và dẫn đến sự thay đổi theo cấp số nhân của lợng tiền cung ứng. Điều này
làm cho công cụ dự trữ bắt buộc trở nên thiếu linh hoạt vì nếu cứ thay đổi thờng
xuyên sẽ gây nên sự rối loạn mới ổn định cho hoạt động của các Ngân hàng. Đi
kèm theo đó là khoản chi phí cho các biến động cũng tăng theo. Vì vậy công cụ
này thờng đợc sử dụng kết hợp với các công cụ khác nhằm điều chỉnh lợng vốn
khả dụng của ngân hàng khi cần thiết.
b. Chính sách tái chiết khấu
9
Về thực chất chính sách tái chiết khấu là toàn bộ các qui định và điều kiện
cho vay của Ngân hàng Trung ơng đối với các ngân hàng thơng mại là một hệ
thống có hoạt động cung cấp một lợng vốn lớn đáp ứng nhu cầu của xã hội bằng
cách đi huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân c. Họ sẽ nhận tiền gửi và lấy
khoản tiền đó cho ngời có nhu cầu cần vay ngời ta gọi đó là hoạt động tín dụng
đối với nền kinh tế. Tuy nhiên khi tiến hành kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị
trờng không phải ngân hàng nào cũng có thể hoạt động một cách trôi chảy do
điều kiện cạnh tranh giữa ngân hàng này và ngân hàng khác. Nhiều khi có những
biến động bất thờng mà các ngân hàng cha hoặc không thể xoay sở kịp vốn hoặc
dự trữ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng lúc đó các ngân hàng này buộc phải đi
tìm nguồn vốn bổ sung từ các ngân hàng khác hoặc từ Ngân hàng Trung ơng để
bảo đảm kinh doanh. Trên cơ sở các ngân hàng thơng mại yêu cầu mình cho vay
khoản tiền nào đó, ngân hàng trung ơng sẽ xem xét và đa ra quyết định có cho các
Ngân hàng thơng mại vay hay không. ở Mỹ, quỹ dự trữ liên bang (Fed) cấp cho
các ngân hàng 3 loại cho vay chiết khấu. Tín dụng điều chỉnh, tín dụng thời vụ và
tín dụng mở rộng. Cho vay tín dụng điều chỉnh, một loại thông dụng nhất nhằm
giúp các ngân hàng giải quyết vấn đề khả năng hoàn trả ngắn hạn do tiền gửi bị
tạm thời rút ra. Tín dụng điều chỉnh đợc cấp bằng một cú điện thoại sẽ đợc hoàn
trả khá nhanh chóng vào cuối ngày làm việc sau đối với các ngân hàng lớn.
Tín dụng thời vụ đợc cấp để đáp ứng các nhu cầu thời vụ của một số ít ngân hàng
đang nghỉ và của những vùng nông nghiệp hoạt động theo thời vụ. Tín dụng mở
ơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Nguyên nhân chủ chốt của vấn đề
này đó là ở Việt Nam cha hội đủ những điều kiện để có thể tiến hành hoạt động
này. Trớc tiên đó là hoạt động chiết khấu thơng phiếu của các ngân hàng thơng
mại còn hạn hẹp từ khi có quyết định số 198/QĐ-NH5 ngày 16/09/1994 của
Thống đốc Ngân hàng nhà nớc ban hành thể lệ tín dụng ngắn hạn cũng đã có quy
định về chiết khấu chứng từ có giá nhng cho đến nay nghiệp vụ này của ngân
hàng thơng mại hầu nh không đáng kể, chủ yếu chỉ là mua các tín phiếu, trái
phiếu ngắn hạn của nhà nớc cha đến hạn
(1)
. Trong khi đó thơng phiếu công cụ
tài chính quan trọng nhất trong sản xuất kinh doanh lại là hình thức công cụ tài
chính cha phát triển ở Việt Nam. Chúng ta mới chỉ có trái phiếu kho bạc, trái
phiếu ngắn hạn vì vậy phát triển hình thức tín dụng mới này còn gặp nhiều khó
11
khăn. Để khắc phục điều này, đa dạng hoá các công cụ tài chính để làm cơ sở cho
tín dụng ngân hàng sẽ là một bớc đột
1
biến làm thay đổi hoạt động của hệ thống
ngân hàng. Bên cạnh vấn đề công cụ tài chính, một yếu tố nữa không kém phần
quan trọng đó là từ khi có quyết định 198 về chứng từ có giá cho đến nay khi Luật
ngân hàng và các tổ chức tín dụng đợc thi hàng 01/10/1998 thì các qui định và h-
ớng dẫn nghiệp vụ còn chung chung. Đặc biệt là cha có tiêu chí xác định phân
loại các chứng từ có giá để có thể áp dụng vào nghiệp vụ này. Mặt khác kinh tế n-
ớc ta chủ yếu là sản xuất nhỏ cha đạt đến đợc nền sản xuất lớn hiện đại và qui mô
vừa mới tiếp cận với cơ chế thị trờng qua mời năm đổi mới trong khi đó nghiệp vụ
này là rất cần thiết với nền kinh tế trong thời kỳ phát triển. Vì vậy những bớc
chuẩn bị về luật pháp cũng nh quá trình phát triển kinh tế là điều kiện để nghiệp
vụ này đợc mở rộng và phát triển trong một thời gian không xa.
Với những u điểm nh vậy, chính sách tái chiết khấu liệu có còn điều gì hạn
chế hay không ? với khả năng định hớng và thông báo trớc, chính sách tái chiết
đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, tuy
nhiên trong việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp
nhiều trở ngại trớc hết là sự am hiểu về một phơng pháp điều hành mới còn hạn
chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn thiếu những điều kiện để điều hành
chính sách tiền tệ theo đúng nghĩa gốc của mỗi công cụ. Chẳng hạn chính sách tín
dụng chúng ta cho vay theo hạn mức truyền thống tiền đến cho vay theo chỉ định
là chủ yếu với cách tính và trả lãi sau hàng tháng (khác với cho vay chiết khấu là
hình thức cho vay trả lãi trớc ). Chiết khấu giấy tờ có giá mới bắt đầu tập dợt trên
thị trờng sơ cấp đối với tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng nhà nớc và tín
phiếu các ngân hàng thơng mại. Trên thị trờng thứ cấp nghiệp vụ này còn nằm
trên bản thảo, nên cha có kinh nghiệm. Quá trình dự thảo các văn bản pháp qui
liên quan đến các công cụ của chính sách tiền tệ còn nhiều vấn đề cần trao đổi
rộng rãi.
13
Về cho vay tái cấp vốn, nên cho vay trả lãi trớc ( cho vay chiết khấu ) hay
cho vay trả lãi sau hàng tháng nh lâu nay. Cho vay trả lãi trớc có một u điểm là
giảm đợc sự lạm dụng vay để mua chứng khoản trả lãi trớc. Nhu cầu vốn tạm thời
để điều chỉnh cân đối hàng ngày của các ngân hàng xử lý bằng loại cho vay nào,
có tiếp tục cho vay thanh toán bù trừ không.
Về chiết khấu giấy tờ có giá, có nên chiết khấu nh một công cụ riêng biệt
hay đợc bao gồm trong chính sách tái cấp vốn hoặc giai đoạn đầu của nghiệp vụ
thị trờng mở?
Về nghiệp vụ thị trờng mở, hoạt động trên thị trờng tài chính nói chung hay
chỉ trên thị trờng tiền tệ, công cụ để giao dịch trên nghiệp vụ này là giấy tờ có giá
( GTCG) nói chung hay chỉ GTCG ngắn hạn. Nói một cách khác chính sách tiền
tệ chú ý đến khả năng thanh khoản hay tính thời hạn của công cụ tài chính. Nếu
mối quan tâm nhằm vào tính thời hạn ( ngắn hạn ) thì trên thực tế nhiều công cụ
tài chính dài hạn ở nhiều trờng hợp có khả năng chuyển đổi nhanh hơn các công
cụ ngắn hạn, sẽ bị loại bỏ khỏi nghiệp vụ thị trờng mở (chứng khoán chính phủ
chẳng hạn ). Trong khi đó nhiều GTCG ngắn hạn rất khó chuyển đổi không phù
- Chứng khoán chính phủ
ngắn hạn
- Tín phiếu NHNN ngắn hạn
- Chứng khoán chính phủ
ngắn hạn
- Chứng khoán chính phủ dài
hạn (bao gồm các cơ quan
thuộc chính phủ)
3. Lãi chiết khấu áp dụng - Lãi suất cố định - Lãi suất đấu thầu
4- Kỹ thuật thị trờng mở - Mua, bán hẳn - Mua, bán hẳn
- Mua bán theo hợp đồng
mua lại
5- Thời gian hoạt động - 1 tuần, tháng... - Hàng ngày, khi cần thiết
Ta cần lu ý:
1- Mua hoặc bán chứng khoán tận tay t nhân là cách can thiệp vào lợng tiền
cung ứng trực tiếp và nhanh nhất.
2- Khả năng thanh khoản của chứng khoán quyết định tính linh hoạt của thị
trờng mở chứ không phải thời hạn của chứng khoán, do đó nghiệp vụ thị trờng mở
hoạt động trên thị trờng chứng khoán nói chung chứ không chỉ thu hẹp trên thị tr-
ờng tiền tệ.
Sau đây em xin nêu một vài suy nghĩ và kiến nghị sau đây:
1- Để phù hợp với thông lệ quốc té đồng thời là điều kiệnh thực tế của Việt
Nam hiện nay đề nghị sửa lại Điều 9 và Điều 21 Luật NHNN. Có nh vậy mới tạo
đợc tiền đề cho nghiệp vụ TTM hoạt động có hiệu quả. Cụ thể là cộng cụ mua,
bán trên nghiệp vụ này bao gồm GTCG nói chung chứ không chỉ GTCG ngắn
hạn, hay nói cách khác nghiệp vụ TTM hoạt động trên phạm vi cả thị trờng vốn và
thị trờng tiền tệ, nhất là hiện nay trong điều kiện nền kinh tế mới chuyển đổi
16