Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành nông, thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGÔ THỊ VÂN ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH NÔNG,
THỦY SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số

: 60.34.03.01

TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2015


Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đường Nguyễn Hưng

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Công Phương

Phản biện 2: TS. Nguyễn Hữu Phú

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt

sản, tác giả đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành
nông, thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố tài chính ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp


2
ngành nông, thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.
- Từ kết quả kiểm định của mô hình rút ra kết luận về sự ảnh
hưởng của các yếu tố đó đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành nông, thủy sản niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, qua đó đề xuất các kiến nghị.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Các doanh nghiệp trong ngành nông, thủy sản niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu: báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm
2008 đến năm 2013 của 25 doanh nghiệp ngành nông, thủy sản niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số liệu được thu thập từ
website của Công ty chứng khoán ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng
vpbs.com.vn và Công ty cổ phần chứng khoán FPT fpts.com.vn.
- Phương pháp thực hiện: trong nghiên cứu này tác giả sử

1.1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
Trong bất cứ hoạt động nào, con người cũng luôn mong
muốn thu được lợi ích cao nhất. Tuy nhiên, khi thực hiện các hoạt
động đó con người không thể sử dụng tùy tiện, thoải mái các nguồn
lực mà luôn bị ràng buộc bởi sự giới hạn nên lợi ích thu được từ các
hoạt động luôn phải được cân nhắc, so sánh với các nguồn lực đã bỏ
ra. Vì thế, khi đánh giá một hoạt động nói chung cũng như hoạt động
kinh doanh nói riêng, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc xem xét kết
quả thu được mà phải xem xét mối quan hệ giữa kết quả thu được với
các chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động đó. Đây cũng chính là vấn
đề hiệu quả, là mối quan tâm lớn nhất của con người khi thực hiện
bất cứ hoạt động nào. Trong kinh doanh, hiệu quả hoạt động kinh
doanh là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà kinh tế. Hiệu quả
hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phức tạp, việc hiểu và
đánh giá đúng hiệu quả hoạt động kinh doanh không phải là việc làm
đơn giản. Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, quan điểm về hiệu quả
hoạt động kinh doanh của các nhà nghiên cứu cũng có những sự khác
biệt nhất định. Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu đều thống nhất
cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh trước hết là chỉ tiêu phản
ánh trình độ sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt
được kết quả hữu ích cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất. Sau nữa,
hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét
một cách toàn diện, gắn chặt với hiệu quả xã hội.
Một cách tổng quát hiệu quả kinh doanh có thể được xác
định như sau:


5



Doanh thu thuần
Tài sản cố định trung bình

Số vòng quay tài sản cố định cho biết 1 đồng giá trị bình
quân tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ.
Nếu số vòng quay tài sản cố định lớn thì có thể doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực thâm dụng vốn. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ
hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao và ngược lại.
c. Số vòng quay vốn cổ phần
Chỉ tiêu này đo lường khả năng doanh nghiệp tạo ra doanh
thu từ việc đầu tư vào nguồn vốn cổ phần (bao gồm cổ phần thường
và cổ phần ưu đãi). Chẳng hạn, tỷ số này bằng 3 có nghĩa là với mỗi


6
đồng đầu tư vào vốn cổ phần, doanh nghiệp sẽ tạo ra được 3 đồng
doanh thu.
Vòng quay vốn cổ phần

=

Doanh thu thuần
Tổng vốn cổ phần bình quân

1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh
doanh mang tính tổng hợp
a. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu


* 100%


7
c. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu (ROE)

=

Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân

* 100%

1.3. ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.2.1. Ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp
Theo lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu, khi một doanh nghiệp bắt
đầu vay nợ, doanh nghiệp có lợi thế về thuế. Chi phí nợ thấp kết hợp
với lợi thế về thuế sẽ làm cho chi phí vốn bình quân gia quyền
(WACC) giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ trên vốn chủ
sở hữu tăng, buộc các chủ sở hữu phải tăng lợi tức yêu cầu của cổ
đông (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng). Đồng thời, ở mức tỷ lệ
nợ trên vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ cũng tăng bởi khả năng doanh
nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn). Vì
vậy, ở mức tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC sẽ tăng. Do
đó, lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu cho rằng, cấu trúc vốn có tác động

sản phẩm càng giảm. Quy mô sản lượng lớn hơn cho phép doanh
nghiệp khai thác được lợi thế của việc chuyên môn hóa, máy móc
trang thiết bị phải đủ số lượng lớn mới cho phép doanh nghiệp tổ
chức sử dụng tài sản theo kiểu chuyên biệt. Chúng có thể được phân
bổ và được sử dụng riêng cho những khâu, những công đoạn sản xuất
khác nhau mà nhờ đó năng suất có thể tăng lên. Trong nhiều trường
hợp, việc chế tạo một chiếc máy có công suất gấp đôi lại rẻ hơn việc
chế tạo hai chiếc máy có công suất nhỏ bằng một nửa chiếc máy trên.
Điều đó có nghĩa là chi phí để mua một chiếc máy lớn thường nhỏ
hơn mua hai cái máy nhỏ có tổng công suất là tương đương. Quy mô
phải đủ lớn mới tạo ra cơ hội để doanh nghiệp khai thác được lợi thế


9
của chiếc máy lớn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có quy mô lớn có thể
sử dụng máy móc tiên tiến hơn, góp phần tăng chất lượng sản phẩm,
góp phần tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.4. Ảnh hƣởng của tỷ trọng tài sản cố định đến hiệu
quả hoạt động kinh doanh
Tài sản cố định là cơ sở vật chất ban đầu cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
phụ thuộc khá nhiều vào vấn đề máy móc, trang thiết bị; để tăng
cường tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường các doanh nghiệp
luôn phải theo dõi thường xuyên tình trạng của các loại máy móc
thiết bị để có biện pháp cải tạo, nâng cấp kịp thời. Theo lý thuyết, cấu
trúc của tài sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ trọng tài sản cố
định trên tổng tài sản và được giả định là có tác động cùng chiều đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.5. Ảnh hƣởng của vòng quay tài sản đến hiệu quả
hoạt động kinh doanh

c. Hoạt động nuôi trồng thủy sản
2.1.4. Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nƣớc
2.1.5. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn trong nƣớc
2.2. THỊ TRƢỜNG TIÊU THỤ CỦA NGÀNH
2.2.1. Thị trƣờng tiêu thụ nội địa
2.2.2. Thị trƣờng tiêu thụ xuất khẩu
a. Tổng quan xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những


11
bước tiến vượt bậc trong gần 20 năm qua. Kim ngạch xuất khẩu thủy
sản từ mức thấp chỉ 550 triệu USD năm 1995 đã có những bước tăng
trưởng mạnh mẽ qua từng năm với mức tăng trưởng bình quân
15,6%/năm. Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành
một trong năm nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò
chủ đạo trong việc cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu.
b. Tổng quan xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trong các mặt hàng nông sản của nước ta thì hiện nay, gạo là
mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, được các nhà hoạch định chính
sách xếp vào nhóm có sức cạnh tranh cao. Từ năm 1989, Việt Nam
chính thức tham gia vào thị trường lúa gạo thế giới, sự phát triển lúa
gạo là một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong công
cuộc đổi mởi về kinh tế. Từ chỗ hàng năm phải nhập khẩu trên dưới
1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã vươn lên là một trong những
nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo với sản lượng xuất khẩu
khoảng từ 3,5 đến 4 triệu tấn/ năm. Tuy nhiên, trên thị trường thế
giới, gạo Việt Nam lại yếu thế cạnh tranh về phẩm chất theo yêu cầu
của thị trường và giá cả. Gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là gạo
tẻ thường, trong một vài năm gần đây đã bắt đầu chú ý sản xuất và

nguồn vốn lớn để duy trì hoạt động liên tục. Tuy nhiên, khi điều kiện
kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì hầu hết các ngân hàng đều e dè hỗ
trợ vốn cho người nuôi và doanh nghiệp để hạn chế rủi ro, một số đối
tượng còn tồn đọng dư nợ cũ cao càng khiến các ngân hàng trở nên
thận trọng hơn. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho doanh
nghiệp, khiến các doanh nghiệp không kịp xoay sở vốn cho hoạt
động kinh doanh, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Thời gian
gần đây, dù Chính phủ đã ra chỉ đạo cho vay hỗ trợ doanh nghiệp
thủy sản nhưng nhìn chung khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng vẫn
chưa được cải thiện đáng kể.


13
Theo số liệu thu thập được cho thấy các doanh nghiệp trong
ngành có tỷ lệ nợ ngắn hạn cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ nợ dài hạn.
Thậm chí có những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ ngắn hạn gần như
chiếm 100% trong tổng nợ. Chẳng hạn như công ty cổ phần xuất
nhập khẩu thủy sản Bến Tre (ABT), công ty cổ phần Thủy sản số 1
(SJ1), công ty cổ phần Hải Việt (SHV)…
Do đặc trưng của ngành đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi
nguồn vốn của các doanh nghiệp còn hạn chế nên hầu hết các doanh
nghiệp đều sử dụng vốn vay ngắn hạn, nhằm đáp ứng đủ vốn lưu
động cho hoạt động kinh doanh. Điều này cũng cho thấy các doanh
nghiệp thường có các chiến lược kinh doanh ngắn hạn nên tập trung
nhiều vào nguồn vốn vay ngắn hạn hơn là các khoản vay dài hạn.
Nhìn chung, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều sử dụng nợ
ngắn hạn khá cao, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản của nhiều doanh
nghiệp qua các năm đều từ 50% trở lên, điều này có thể gây khó khăn
trong hoạt động kinh doanh.




15
lớn của các chỉ tiêu khác trong việc so sánh hiệu quả hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp cùng ngành có quy mô, đặc điểm khác
nhau. Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở
Việt Nam đã sử dụng hai chỉ tiêu này trong việc đo lường hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, chỉ tiêu mà tác giả lựa chọn
sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp ngành nông, thủy sản niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 là ROA, ROE.
3.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.2.1. Các giả thuyết về mối quan hệ của các yếu tố tài chính
và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành
nông, thủy sản niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam
Thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp trong ngành nông, thủy sản đã cho thấy bên cạnh một số yếu
tố khách quan tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp niêm yết trong ngành như: tình hình kinh tế thế giới, nguyên
liệu đầu vào, những thách thức về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm,
rào cản thương mại…; còn có các yếu tố chủ quan xuất phát từ bản
thân nội tại của doanh nghiệp như: tỷ lệ nợ của doanh nghiệp (cơ cấu
vốn), quy mô của doanh nghiệp, mức độ đầu tư vào tài sản cố định,
vào công nghệ. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ xem
xét các yếu tố chủ quan, cụ thể là các yếu tố tài chính trực tiếp tác
động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trong
ngành, bao gồm: tỷ lệ nợ (cấu trúc vốn), quy mô của doanh nghiệp
(tổng tài sản), tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp và tỷ
trọng tài sản cố định trên tổng tài sản.



Nợ ngắn hạn
trên tổng tài sản

+/-

+/HIỆU QUẢ

Nợ dài hạn
trên tổng tài sản

+/-

HOẠT
ĐỘNG
KINH
DOANH

Quy mô
của doanh nghiệp

+

(ROA,
ROE)

+
Tốc độ tăng trưởng
doanh thu


Y: Biến phụ thuộc
X: Biến độc lập
Đối với dữ liệu bảng có 3 mô hình có thể sử dụng tùy vào
đặc điểm các phạm vi nghiên cứu, bao gồm:
Mô hình Pooled OLS: là mô hình đơn giản nhất khi không
xem xét tới sự khác biệt giữa các công ty nghiên cứu, mô hình này ít
khi được sử dụng.
Mô hình Fixed effect: phát triển thêm từ Pooled khi có đưa
thêm sự khác nhau về các công ty, và có sự tương quan giữa phần dư
của mô hình và các biến độc lập.


19
Mô hình Random effect: cũng giống như mô hình Fixed về
sự khác nhau giữa các công ty nhưng không có mối quan hệ nào giữa
phần dư và các biến độc lập của mô hình.
Việc lựa chọn mô hình nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định
Hausman giữa mô hình Fixed effect và Random effect, với giả thiết:
Ho: Không có tương quan giữa các biến giải thích và thành
phần ngẫu nhiên, mô hình Random effect là phù hợp
H1: Có tương quan giữa các biến giải thích và thành phần
ngẫu nhiên, mô hình Fixed effect là phù hợp
Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:
ROA = c + β0*TDTA + β1*SDTA + β2*LDTA + β3*SIZE
+ β4*GROWTH + β5*TANG
ROE = c + β0*TDTA + β1*SDTA + β2*LDTA + β3*SIZE +
β4*GROWTH + β5*TANG
3.3. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.3.1. Mô tả thống kê các biến
3.3.2. Mối quan hệ tƣơng quan giữa các biến trong mô hình

hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở cả hai chỉ tiêu
ROA và ROE. Tác giả thấy kết quả này dù ngược với lý thuyết
nhưng tác giả nhận thấy hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ các doanh nghiệp
ngành nông, thủy sản Việt Nam rất ít sử dụng nợ dài hạn, hầu như
trong tổng nợ là nợ ngắn hạn, thậm chí có nhiều doanh nghiệp 100%
trong tổng nợ là nợ ngắn hạn. Điều này cho thấy các doanh nghiệp
niêm yết trong ngành chưa biết cách tận dụng tỷ lệ nợ dài hạn. Dù tỷ
lệ nợ dài hạn ở mức rất thấp nhưng vẫn làm giảm hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy biến tốc độ tăng trưởng
của doanh nghiệp – GROWTH, được đo lường bằng tốc độ tăng
trưởng của doanh thu có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, tác giả chấp nhận giả thuyết 4.


21
Theo tác giả kết quả này cũng hoàn toàn hợp lý bởi khi doanh nghiệp
có tốc độ tăng trưởng doanh thu càng cao thì khả năng tạo ra lợi
nhuận của doanh nghiệp càng lớn, từ đó hiệu quả hoạt động kinh
doanh càng được nâng cao. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên
cứu của Zeitun & Tian năm 2007 khi hai tác giả đã đưa ra kết luận
biến tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp là một trong những biến có
tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Hai yếu tố xem xét thêm ngoài tỷ lệ nợ và tăng trưởng doanh
thu là quy mô của doanh nghiệp và tỷ trọng tài sản cố định đều không
có tác động tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.


22
CHƢƠNG 4

23
cũng là chiến lược để các quỹ đầu tư quản lý nguồn vốn, giảm thiểu
sự rủi ro và có tiếng nói nhất định trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, để
thu hút được nguồn vốn từ các quỹ đầu tư, doanh nghiệp cần phải
minh bạch trong báo cáo tài chính, có các dự án khả thi, chiến lược
kinh doanh hiệu quả và một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có năng
lực chuyên môn cao.
4.2. NÂNG CAO NĂNG LỰC KINH DOANH VÀ ĐẨY MẠNH
UY TÍN CỦA DOANH NGHIỆP
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy khả năng tiếp cận vốn của
các doanh nghiệp ngành nông, thủy sản gặp nhiều khó khăn, khả
năng tiếp cận vốn vay ngân hàng vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Đặc điểm của ngành là cần nguồn vốn lớn để duy trì hoạt động liên
tục, tuy nhiên khi điều kiện kinh doanh gặp nhiều khó khăn trong
thời gian qua đã khiến các ngân hàng dè chừng trong việc hỗ trợ vốn
cho doanh nghiệp để hạn chế rủi ro tín dụng. Điều này đã gây khó
khăn cho các doanh nghiệp khi họ không kịp xoay sở vốn cho hoạt
động kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp ít có khả năng tự chủ
nguồn nguyên liệu cho sản xuất chế biến, dẫn đến cần nguồn vốn lớn
trong việc thu mua nguyên liệu. Do vậy, tác giả đã đưa ra các đề xuất
nhằm giúp các doanh nghiệp niêm yết trong ngành tăng khả năng tiếp
cận được nguồn vốn vay.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status