Sở giáo dục và đào tạo Quảng Ninh
Phòng giáo dục và đào tạo thị xã Uông Bí
-----------------------------------------------
Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:
Kinh nghiệm sử dụng thiết bị dạy học để hớng dẫn học sinh tiểu học giải toán có lời
văn loại:
Tìm ngợc từ cuối lên
Ngời thực hiện: Hồ Thị Khánh Linh
Đơn vị công tác: Trờng Tiểu học Yên
Thanh
Thị xã Uông Bí Tỉnh Quảng
Ninh
N¨m häc 2008 – 2009
Phần mở đầu
I/ Lí do chọn đề tài:
1) Cơ sở lí luận:
Căn cứ mục tiêu của ngành giáo dục thì ngời giáo viên cần phải có chuyên
môn, nghiệp vụ. Đặc biệt đối với ngời giáo viên tiểu học cần phải biết truyền
thụ đầy đủ kiến thức mà Bộ giáo dục đề ra. Đồng thời phải biết cách phối hợp
các hình thức, phơng pháp dạy học sao cho các đối tợng học sinh đều dễ dàng
tiếp thu kiến thức.
Để đạt đợc điều đó, ngời giáo viên Tiểu học phải hiểu đợc tâm lí lứa tuổi
học sinh. Khi tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học, ta thấy ở lứa
dạng một ẩn số mà ở tiểu học thờng có các bài toán cụ thể là: Điền vào ô
trống, tìm X, tìm Y...
Ví dụ: Trong sách giáo khoa bồi dỡng học sinh giỏi toán 5 có bài: Tìm
một số biết rằng lấy số đó gấp lên hai lần cộng với 10 đợc bao nhiêu chia cho
4 thì có kết quả bằng 20.
Với bài toán này, ta có thể giải bằng hai cách: Cách thứ nhất là dùng phơng pháp số học đi ngợc từ dới lên; cách thứ hai dung X thay cho ẩn số và
diễn đạt bài bằng ngôn ngữ, kí hiệu toán học, ta có:
{( X x 2 ) + 10 } :
4 = 20
Và lần lợt tìm thành phần của mỗi phép tính.
- Đầu tiên là tìm số bị chia:
- Sau đó là tìm số hạng cha biết:
( X x 2 ) + 10 = 20 x 4
X x 2 = 80 - 10
X x 2 = 70
- Và cuối cùng là tìm thừa số cha biết:
X = 70 : 2
X = 35
Song thông thờng khi gặp bài toán nh thế này học sinh thờng giải theo phơng án một. Học sinh thờng tính ngợc từ cuối lên nh sau:
Nếu số đó chỉ gấp đôi lên hai lần rồi cộng với 10 mà không chia cho 4 thì
sẽ là:
20 x 4 = 80
Nếu số đó gấp đôi lên mà không cộng với 10 thì sẽ là: 80 - 10 = 70.
Nếu số đó mà không gấp đôi lên thì sẽ là: 70 : 2 = 35 ( số cần tìm)
Đây là bài toán có một nội dung đơn giản cha đòi hỏi phải có sự đầu t suy
nghĩ nhiều nhng bên cạch đó có những bài phức tạp hơn, đòi hỏi phải có thủ
thuật giải.
đầu bài.
Trên thực tế cho thấy là khi giải bất cứ một loại toán gì thì cần phải phân
tích kĩ đầu bài và xác định rõ bài toán thuộc loại nào thì việc giải bài toán mới
không gặp phải khó khăn nữa. Đối với bài toán giải bằng cách đi ngợc từ
cuối lên khi đã phân tích đợc yêu cầu của đề bài thì việc vận dụng phơng
pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt bài toán sẽ gợi ra cho học sinh một
cách giải ngắn gọn, dễ hiểu. Mặc dù vậy để vận dụng tốt phơng pháp này vào
giải bài toán thì yêu cầu đặt ra là học sinh phải biết dùng các đoạn thẳng tơng
ứng để biểu diễn dữ kiện của bài toán. Nh vậy đỏi hỏi học sinh phải có khả
năng t duy, phân tích, tổng hợp rất cao mà không phải học sinh nào cũng
có.Thực tế cho thấy nhiều em có khả năng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng nhng lại có lời giải sai. Nguyên nhân là do các em cha hiểu về sơ đồ hoặc có
hiểu nhng cha sâu sắc. Điều đó chứng tỏ rằng phơng pháp dùng sơ đồ đoạn
thẳng để giải bài toán Đi ngợc từ cuối lên đã có từ lâu nhng việc vận dụng
phơng pháp đó để hớng dẫn học sinh giải luôn là vấn đề mới mẻ do khả năng
truyền đạt của mỗi giáo viên. Chính vì lí do đó đòi hỏi ngời giáo viên khi hớng
dẫn các em cách giải phải thật ngắn gọn, dễ hiểu, khoa học, biết diễn đạt bài
toán dới dạng ngôn ngữ toán học.
2) Cơ sở thực tiễn:
Trong thực tế giảng dạy, nhiều giáo viên không ngừng phân đấu vơn lên
đạt hiệu quả cao trong giờ dạy, tạo niềm tin nơi phụ huynh học sinh nhng
nhiều khi còn lúng túng trong việc hớng dẫn học sinh giải dạng toán này.
Về phía học sinh: Trong quá trình học tập, nhiều em có khả năng t duy vợt lên hơn, song nếu giáo viên hớng dẫn và truyền đạt, phơng pháp giải không
phù hợp với các em dẫn đến các em ít hứng thú trong học tập.
Nh vậy vấn đề cần đặt ra ở đây là giáo viên phải biết áp dụng phơng pháp
hớng dẫn cách giải tỉ mỉ, ngắn gọn, khoa học và thật dễ hiểu để học sinh nắm
đợc bản chất của việc dùng sơ đồ đoạn thẳng khi giải toán.
Chính vì có sự mâu thuẫn giữa trình độ vốn có của học sinh với chơng
trình mà sách giáo khoa đặt ra cũng nh mâu thuẫn giữa phơng pháp giải toán
viên và khả năng tiếp thu bài của học sinh khi đợc học về loại toán tìm hiểu lời
giải bằng cách Đi ngợc từ cuối lên kết hợp với ghi chép tỉ mỉ khi đi dự giờ
các giáo viên khối 5.
3) Phơng pháp điều tra.
- Phơng pháp này nhằm điều tra thực trạng của học sinh lớp 5 trong trờng,
trong lớp mình. Từ đó, giáo viên nắm bắt đợc khả năng của học sinh.
- Điều tra trực tiếp từng học sinh bằng cách giáo viên phats phiếu với hệ thống
câu hỏi:
* Em có thích học môn toán này không?
* Khi gặp bài toán có nội dung mà các yếu tố cơ bản đợc diễn giải dới
dạng công thức toán học mà trong đó chỉ có phép tính đầu có ẩn số tham gia
thì em phải làm gì?
* Em có thích tìm hiểu những bài toán nh trên không?
Hoặc bằng cách trò chuyện, tổ chức trò chơi toán học, giáo viên có thể nắm
bắt đợc sở thích học toán của học sinh.
- Điều tra gián tiếp: Thông qua phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm các
lớp khối 5 để biết thêm đợc ý thức, kết quả học tập của các em.
Với phơng pháp này, giáo viên có thể nắm bắt đợc khá chính xác về đối tợng. Từ đó giáo viên có những phơng pháp phù hợp để dạy giải toán cho học
sinh.
4) Phơng pháp khảo nghiệm
Để so sánh đối chiếu khả năng nhận thức của học sinh thông qua phơng
pháp truyền đạt của giáo viên giữa phơng pháp cũ và phơng pháp mới, tôi đã
tiến hành dạy cho 2 đối tợng ( thử nghiệm và đối chứng) và kiểm tra chất lợng
thông qua một bài kiểm tra để so sánh kết quả một cách cụ thể.
Nội dung nghiên cứu
I/ Cơ sở lí luận:
1) Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học:
Vào khoảng 6 12 tuổi ( lứa tuổi tiểu học ) là giai đoạn phát triển mới của t
duy. ở lứa tuổi này, tri giác của các em còn mang tính trực quan cụ thể. Tri
đã nghiên cứu cách giải của phơng trình bậc nhất một ẩn số trong chơng III
bài 4 ( sách giáo khoa đại số 8).
Thực chất của loại toán này bằng cách đi ngợc từ cuối lên là dạng đặc
biệt của phơng trình bậc nhất một ẩn số. Để tìm ra đáp án của bài toán thì đó
chính là quá trình đặt ẩn và giải phơng trình bậc nhất đó. Để tìm hiểu cách
giải về dạng toán này ở tiểu học, tôi đã tham khảo sách Phơng pháp giảng
dạy toán và các phơng pháp giải toán ở tiểu học. Bài 3 Phơng pháp giải
toán ngợc từ cuối lên. Nội dung phơng pháp này đợc trình bày nh sau:
Một số bài toán mà ta có thể tìm số cha biết bằng cách thực hiện liên tiếp
các phép tính ngợc lại với phép tính đã cho trong bài toán. Khi giải bài toán
theo phơng pháp này thì kết quả của một phép tính đã trở thành một phần đã
biết trong phép tính liền sau đó, cứ tiếp tục nh thế cho đến khi tìm đợc số phải
tìm. Ta nói bài toán đợc giải theo phơng pháp tính ngợc từ cuối lên.
Ví dụ: Tìm một số biết rằng số đó lần lợt cộng với 1 rồi nhân với 2 đợc
bao nhiêu đem chia cho 3 rồi trừ đi 4 thì đợc kết quả là 5.
Phân tích theo sơ đồ đoạn thẳng ta có nh sau:
1
Cộng 1:
Nhân 2:
Chia 3:
Trừ 4:
5
4
Nếu số phải tìm chỉ cộng với 1, nhân với 2, chia cho 3 mà không trừ cho 4
thì kết quả sẽ là: 4 + 5.
Nếu số phải tìm chỉ cộng với 1, nhân với 2 mà không chia cho 3 thì kết
biểu thức.
Với cách này đợc đa vào tiểu học dới dạng bài toán Đi ngợc từ cuối lên
và ẩn số đợc minh hoạ bằng các đoạn thẳng để các em dễ dàng tri giác mà từ
đó suy ra cách giải số học.
Nh vậy bài toán đi ngợc từ cuối lên đợc xây dựng trên cơ sở đại số là phơng trình bậc nhất một ẩn mà nó thể hiện ẩn số ở tiểu học là đoạn thẳng.
3/ Một số vấn đề lý luận có liên quan.
Các bớc giải toán của Pôlia vận dụng vào tiểu học. Nh ta đã biết, khi
đứng trớc một bài toán ta cần phải có quá trình tìm hiểu các vấn đề và có một
bớc giải nhất định.
Để tìm hiểu các bớc giải một bài toán số học hay một bài toán có lời văn
ta phải thông qua các bớc giải nào?
Tôi đã tham khảo cuốn Phơng pháp giảng dạy toán , phần phơng pháp
chung khi giải các bài toán hợp 4 bớc.
Giải toán của Pôlia vận dụng vào tiểu học:
* Bớc 1: Tìm hiểu đề:
- Giáo viên đọc đề lần đầu rõ ràng, chính xác có điều nào cần giải thích thì
giải thích trớc.
- Yêu cầu 2 3 học sinh nhìn sách giáo khoa đọc lại đề đồng thời giáo viên
tóm tắt đề bài bằng ngôn ngữ toán học lên bảng.
- Cho học sinh đọc lại đề, không nhìn sách giáo khoa mà căn cứ vào tóm tắt
trên bảng đọc đến khi đa số học sinh thuộc nội dung đề.
* Bớc 2: Tìm tòi lời giải.
+ Bài toán hỏi gì?
+ Bài toán cho biết gì?
+ Mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho và yếu tố cần tìm.
+ Căn cứ vào đây để chia bài toán hợp thành các bài toán đơn, căn cứ mỗi
bài toán đơn tơng ứng ta đặt một câu hỏi.
* Bớc 3: Thử lại.
tới việc không hiểu bài của một số học sinh. Lí do thứ nhất là hầu hết các em
cha hiểu bài là những em có lực học từ trung bình trở xuống. Lí do thứ hai là
giáo viên cha chú trọng nhiều vào việc phân tích bài toán và hớng dẫn học
sinh hiểu cách sử dụng sơ đồ đoạn thẳng khi giải toán.
Vì vậy việc hớng dẫn của giáo viên chỉ phù hợp với những học sinh có lực
học từ trung bình trở lên. Còn những em có lực học kém hơn một chút thì hầu
nh bị mắc khi giải loại toán này. Cái vớng mắc của các em ở đây là các em ch-
a hiểu thấu đáo việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải toán nh thế nào? Hoặc
có khi các em lại hiểu một cách máy móc nên khi tóm tắt đề toán thì đúng nhng lời giải lại không ăn khớp với việc tóm tắt trên. Nguyên nhân dẫn đến sai
sót trên là do giáo viên cha đa ra hệ thống câu hỏi chi tiết để khai thác nội
dung yêu cầu của bài cho học sinh. Giáo viên hớng dẫn học sinh giải toán
bằng sơ đồ đoạn thẳng nhng cha giải thích kĩ về mối quan hệ giữa các đại lợng
trên sơ đồ dẫn đến học sinh cha hiểu rõ đợc bản chất của sơ đồ đoạn thẳng.
Rồi khi đã tóm tắt đợc bài toán bằng sơ đồ thì cha chỉ ra đợc tác dụng của sơ
đồ đoạn thẳng đã gợi ra cho ta điều gì để giải toán.
Nh vậy, nhìn chung những u điểm của phơng pháp dùng sơ đồ thẳng để hớng dẫn học sinh giải loại toán Đi ngợc từ cuối lên cha đợc giáo viên khai
thác tốt.
3) Hồ sơ thu thập:
a/ Biên bản dự giờ số 1 :
Tiết luyện toán
I.
II.
Dự giờ lớp 5A2.
ổn định tổ chức:
Kiểm tra bài cũ: Gọi HS lên bảng làm bài.
- Giáo viên hớng dẫn học sinh tìm
hiểu yêu cầu.
+ Bài toán cho biết gì?
+ Một ngời bán trứng, lần thứ nhất
bán đợc một nửa số trứng và 0,5 quả.
Lần thứ hai bán nửa số trứng còn lại
và 0,5 quả. Lần thứ ba bán nửa số
+ Bài toán hỏi gì?
trứng còn lại và 0,5 quả thì vừa hết.
+ Ngời đó bán mỗi lần đợc bao nhiêu
- Cho HS nêu GV ghi tóm tắt lên quả trứng?
bảng.
Lần 1:
Lần 2:
Lần 3:
0,5
0,5
0,5
- Nêu : Đây là dạng toán mới chúng ta
dùng sơ đồ đoạn thẳng để biểu đạt các
dữ kiện của bài toán cho biết, sau đó
các em nhận xét và tính ngợc từ cuối
lên.
- HS làm bài vào vở.
- Cho HS tiến hành làm bài.
- HS nêu: + Lần 1: 4 quả.
- ở bài 6 kiến thức khó hơn, phức tạp hơn, cần phải cho HS đọc kĩ đầu bài,
tìm hiểu sâu sắc, các vấn đề đợc nêu lên trong bài toán. Giáo viên hớng dẫn
cha tỉ mỉ, chi tiết và dùng sơ đồ hình vẽ cha đợc chuẩn xác để học sinh dễ hình
dung ra. Không nên hớng dẫn qua loa dẫ đến học sinh làm bài mà không
thuộc nội dung ý nghĩa của đầu bài.
- Cuối cùng khi chữa mỗi bài giáo viên không nên hỏi có bao nhiêu em làm
đúng, chỉ cần hỏi Em nào có kết quả giống nh cô? là sẽ nắm đợc số học
sinh hiểu bài và làm đợc bài để có hớng chỉnh cách dạy hoặc giành thời gian
để giảng lại bài cho học sinh.
b/ Biên bản dự giờ số2:
Dự giờ lớp 5A3
Ôn tập: Các phép tính với số tự nhiên, phân số, số thập
phân
Tiết 137: Phép trừ
I. ổn định lớp:
HS hát.
II. Kiểm tra bài cũ:
Cho 2 học sinh chữa bài.
* Bài 1:
a/ X + 12,75 = 12,75
X
= 12,75 - 12,75
X
= 0
+ Phép trừ là phép tính ngợc của phép
cộng.
+ Phép trừ có tính chất gì?
+ Phép trừ không có tính chất giao
hoán.
+Hiệu của hai số bằng nhau thì bằng 0.
+ Trừ một số bất kì cho 0 thì bằng
- Sau khi hớng dẫn học sinh làm chính số đó.
xong một số bài tập trong sách giáo - Bài tập nâng cao: Một ngời bán hàng
1
khoa , giáo viên cho học sinh làm
vải, bán lần thứ nhất tấm vải, lần thứ
bài 78 ( trang 47) trong sách giáo
5
khao nâng cao
- Giáo viên đọc đề bài 1 lần.
- Hớng dẫn tìm hiểu đề.
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán yêu cầu chúng ta tìm gì?
- Hớng dẫn cách giải: Để làm đợc
bài toán này các em cần nêu đợc
phân số chỉ số vải còn lại sau mỗi
lần bán, phân số chỉ số vải còn lại.
Từ đó các em sẽ tính đợc chiều dài
tấm vải bằng cách lấy 12 chia cho
phân số chỉ 12 tấm vải.
- Cho HS làm bài.
5 7 35
Phân số chỉ số vải bán cả hai lần:
1 16 23
+
=
( tấm vải)
5 35 35
Phân số chỉ 12 m vải là:
23 12
=
(tấm vải)
35 35
12
Tấm vải dài là: 12 :
= 35 (m)
35
1-
b/ Số vải bán lần thứ nhất là:
1
= 7 (m)
5
35 x
Số vải bán lần thứ hai là:
35 x
III/ Đề xuất phơng pháp cải tiến
1) Về lí luận:
a- Ví dụ: Khi hớng dẫn học sinh lớp 5 giải loại toán bằng cách Đi ngợc từ
cuối lên bằng phơng pháp dùng sơ đồ hình vẽ, theo tôi khi giáo viên dùng sơ
đồ đoạn thẳng để tóm tắt thì nên kết hợp hài hoà cùng với câu hỏi.
Khi dạy bài 6 trong tiết Luyện toán ở lớp 5A2 trớc tiên giáo viên
đọc đề toán trớc 1 lần sau đó gọi từ 2 3 học sinh đọc và trả lời câu hỏi:
+ Bài toán cho biết gì? ( Học sinh sẽ trả lời: Một ngời bán trứng, bán lần
thứ nhất đợc một nửa số trứng và 0,5 quả; lần thứ hai bán một nửa số trứng
còn lại và 0,5 quả. Lần thứ ba bán nửa số trứng còn lại sau hai lần bán và 0,5
quả thì vừa hết.)
Lúc này giáo viên kẻ một đoạn thẳng lên bảng và nói: Nếu cô kẻ
một đoạn thẳng nh thế này để biểu diễn số trứng ngời đó có thì số trứng bán
lần thứ nhất và số trứng còn lại sau lần bán này cô sẽ biểu diễn bằng một đoạn
thẳng song song với đoạn thẳng đầu. Cô chia đoạn thẳng thành hai phần và
thêm 0,5 quả là thêm một đoạn nhỏ, số trứng đã bán cô biểu diễn bằng nét
liền, số trứng cha bán cô biểu diễn bằng nét khuất. Số trứng bán lần thứ hai và
số trứng còn lại sau khi bán lần thứ hai cô cũng biểu diễn tơng tự nhng song
song với phần nét khuất ở trên ( đoạn chỉ số trứng còn lại sau khi bán lần thứ
nhất). Số trứng bán lần 3 cô sẽ biểu diễn bằng đoạn nét liền và chia đôi đoạn
thẳng đó và một nửa là 0,5 quả.
Giáo viên lại hỏi: Bài toán yêu cầu tìm gì? ( Tìm số trứng bán mỗi
lần)
Giáo viên giải thích: Với bài toán này muốn tìm đợc số trứng bán đợc mỗi lần thì chúng ta phải xuất phát từ điều cho biết cuối cùng ngợc trở lên,
tức là tìm từ lần bán thứ ba trở lên. ( Nhấn mạnh về loại toán mới Loại toán
giải bằng cách đi ngợc từ cuối lên).
Khi đã tóm tắt đợc bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng giáo viên yêu cầu
học sinh nhìn vào sơ đồ đọc lại bài toán. Sau đó để học sinh làm quen với cách
ở bài toán này, giáo viên nên khuyết khích học sinh có năng lực toán
học dùng ẩn số để diễn giải và giải bài toán.
b/ Những việc cụ thể cần làm khi chuẩn bị một bài dạy:
Để tiết dạy của mình đạt kết quả cao thì việc soạn giáo án là nhiệm vụ
rất quan trọng. Nếu nh trớc giờ lên lớp giáo viên đã có sự chuẩn bị chu đáo về
giáo án và các phơng tiện dạy học thì sẽ vững tin hơn khi lên bục giảng. Vậy
việc chuẩn bị một giáo án cần làm những công việc gì?
Nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung dạy học:
* Nghiên cứu vị trí, yêu cầu các bài học trong kế hoạch dạy học cả năm,
nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, sách hớng dẫn giảng dạy, sách bài tập và các tài
liệu có liên quan tới bài đó.
* Xác định cụ thể vị trí và mối liên quan của bài học với bài trớc và bài
sau.
* Xác định cụ thể mục tiêu bài học, mức độ yêu cầu về 3 mặt: Kiến thức
mới, phát triển t duy và khả năng suy luận, rèn luyện kĩ năng.
* Xác định kiến thức trọng tâm và quan tâm bồi dỡng cho những học
sinh có khả năng về toán học.
* Lựa chọn những phơng pháp dạy học cụ thể và chuẩn bị các phơng
tiện tơng ứng. Đặc biệt cần lựa chọn một số bài tập ở lớp và ở nhà ( có hớng
dẫn những chỗ cần thiết nhất là đối với những học sinh kém). Xác định bài tập
bắt buộc và bài tập kèm thêm ( chia thành 2 loại cho học sinh trung bình và
học sinh khá giỏi). Tự giải và soạn phần hớng dẫn cho các bài tập khó và gợi ý
phơng pháp tìm lời giải.
* Soạn các câu hỏi gợi ý hay hớng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà. Khi
làm các bài tập trên phải luôn chú ý tới tín vừa sức với mỗi học sinh.
Kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh về bài học :
* Tình hình nắm vững kiến thức đã học có liên quan đến bài mới.
* Các vấn đề còn tồn tại cần đợc giải quyết trong bài mới( Kiến thức
nào đã học cần đợc củng cố và tiếp tục rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thái độ học
tập, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỉ luật của học sinh yếu kém).
- GV đọc đề bài.
- 2 HS đọc lại.
- Cho HS đọc lại đề bài.
- HS nêu: Một ngời bán trứng, lần thứ
- Tìm hiểu đề bài:
1
+ Bài toán cho biết gì?
nhất bán số trứng và 0,5 quả. Lần
2
1
số trứng còn lại và 0,5
2
1
quả. Lần thứ ba bán số trứng còn
2
thứ hai bán
lại và 0,5 quả thì vừa hết.
+ Mỗi lần bán đợc bao nhiêu quả?
+ Bài toán yêu cầu gì?
- GV vẽ sơ đồ đoạn thẳng tóm tắt và
giải thích qua đầu bài để học sinh
Lần 1:
hiểu:
+ Số trứng lúc đầu ngời đó có biểu
diễn bằng một đoạn thẳng. Chia đôi Lần 2:
đoạn thẳng này ta đợc
- 2 HS đọc lại.
- 1 vài HS nêu: Đợc tính bắt đầu từ
lần bán thứ ba.
- HS theo dõi.
- HS quan sát và nêu ý kiến:
+ Dạng toán này có tên gọi là Giải
bằng cách đi ngợc từ cuối lên
- Yêu cầu HS quan sát sơ đồ và tìm
cách giải:
+ Muốn biết lần thứ ba ngời đó bán đợc bao nhiêu quả trứng ta làm nh thế
nào?
+ Một quả còn chính là gì nữa?
+ Muốn biết số trứng bán lần 2 ta làm
nh thế nào?
- GV nêu: Cách tìm số trứng bán lần 1
ta thực hiện tơng tự.
- Cho HS làm bài.
- Yêu cầu 1 HS giỏi làm bài vào bảng
phụ.
- Gọi 1, 2 em đứng tại chỗ trình bày
bài giải.
+ Lấy 0,5 x 2 = 1 quả
+ Số trứng còn lại sau lần bán thứ hai.
+ Lấy 1 + 0,5 + 0,5 = 2 quả.
1
tấm vải, lần thứ hai bán
5
4
chỗ vải còn lại thì tấm vải chỉ còn 12 m. Hỏi:
7
a/ Tấm vải đó dài bao nhiêu mét?
b/ Mỗi lần bán đợc bao nhiêu mét vải?
- GV đọc đề bài 1 lần.
- HS theo dõi.
- Cho HS đọc lại bài.
- 3 em đọc to.
- Hớng dẫn tìm hiểu đề bài:
- HS nêu ý kiến:
+ Bài toán cho biết gì?
+ Một ngời bán vải, bán lần thứ nhất
1
4
tấm vải, lần thứ hai bán
chỗ vải
5
7
+ Bài toán yêu cầu tìm gì?
còn lại thì chỉ còn 12 m.
+ Tìm: Tấm vải dài bao nhiêu mét?
12m
- 2 HS đọc to.
- HS nêu ý kiến:
+ Bắt đầu tính từ lần bán thứ hai.
+ Nhìn vào sơ đồ ta thấy 12 mét tơng
ứng với 3 phần. Vậy ta lấy 12 chia
cho 3 rồi nhân với 4 phần.
+ Lấy 12 chia cho 3 rồi nhân với 7
phần.
+ Lấy số vải còn lại sau lần bán thứ
nhất chia cho 4 rồi nhân với 5.
+ Lấy tổng số vải chia cho 5.
+ Cách tính dựa vào phân số.
+ Với bài toán này ta có nhiều cách
giải khác nhau. Ngoài hai cách tính
nêu trên, ta còn có thể biểu thị số vải
lúc đầu ngời đó có bằng một chữ rồi
đa bài toán trở về một thức với một
dãy các phép tính ngợc với các phép
Bài giải
tính đã cho. Với cách tính này không a/ Số vải còn lại sau lần bán thứ nhất
bắt buộc các em làm nhng khuyến là:
khích các em làm quen với cách giải
( 12 : 3) x 7 = 28 (m)
này.
Số vải lúc đầu ngời đó có là:
- Cho HS làm bài.
phần III ( Đề xuất phơng pháp). Tôi tiến hành dạy hai bài trong hai tiết và dạy
nh thế ở lớp đối chứng.
* Nhận xét:
Qua hai tiết dạy cho hai loại đối tợng: đối chứng và thực nghiệm tôi thấy ở
lớp đối chứng, học sinh tiếp thu bài ít hào hứng và chất lợng không đảm bảo,
nhiều em cha làm đợc bài này, phần lớn là những em có học lực trung bình và
yếu. Còn ở lớp thực nghiệm các em tiếp thu bài có phần sôi nổi hơn, các câu
hỏi giáo viên đa ra các em hăng hái pháp biểu xây dựng bài. Số lợng học sinh
làm đợc bài có phần nhiều hơn, những đối tợng không làm đợc bài chủ yếu là
những em tiếp thu chậm, ít chú ý. Để đánh giá kết quả một cách chính xác tôi
đã tiến hành kiểm tra và đợc kết quả nh sau:
3) Kết quả thực nghiệm
A. Khảo sát chất lợng:
*/ Đề kiểm tra:
- Yêu cầu trọng tâm: Kiểm tra về các bài toán bằng cách đi ngợc từ
cuối lên.
- Đề bài:
+ Bài 1: Tìm một số biết rằng khi lấy số đó cộng với 6 rồi chia cho 5 , lấy
thơng tìm đợc trừ đi 2, đợc bao nhiêu nhân với 8 thì đợc kết quả là 32.
+ Bài 2: Một ngời bán dừa, bán lần thứ nhất
1
số dừa, bán lần thứ hai là
4
1
số dừa thì cong lại 150 quả. Hỏi ngời đó có đợc bao nhiêu quả dừa?
2
- Lập luận đúng: (1,5 điểm)
- Đáp số đúng: ( 1,5 điểm)
*/ Đáp án bài kiểm tra:
+ Bài 1:
Tóm tắt:
Cộng 6:
Chia 5:
?
6
2
Trừ 2:
Nhân 8:
32
Bài giải
Cách 1:
Nếu số đó cộng với 6 rồi chia cho 5, trừ đi 2 mà không nhân với 8 thì số
đó sẽ là:
32 : 8 = 4
Nếu số đó cộng với 6, chia cho 5 mà không trừ đi 2 thì số đó sẽ là:
4 + 2 = 6
Nếu số đó cộng với 6 mà không chia cho 5 thì số đó là:
6 x 5 = 30
Vậy số phải tìm là: 30 - 6 = 24
(300 : 3) x 4 = 400 (quả)
Đáp số : 400 quả.
+ Bài 3:
1
số cam và 1 quả.
2
1
1
Lần thứ hai bán đợc
số cam còn lại và 1 quả. Lần thứ ba bán số cam
2
2
- Đặt đề toán: Một ngời bán cam, lần thứ nhất bán đợc
còn lại và 1 quả, cuối cùng còn lại 10 quả.
Hỏi: a/ Lúc đầu ngời đó có bao nhiêu quả cam?
b/ Mỗi lần ngời đó bán đợc bao nhiêu quả?
Bài giải
Số cam còn lại sau khi bán lần hai là:
(10 + 1 ) x 2 = 22 (quả)
Số cam còn lại sau khi bán lần 1 là:
(22 + 1) x 2 = 46 (quả)
Số cam lúc đầu ngời đó có là:
(46 + 1) x 2 = 94 (quả)
b/ Lần thứ nhất ngời đó bán số cam là:
(94 : 2) + 1 = 48 (quả)
Lần thứ hai ngời đó bán số cam là:
(94 - 48 ) : 2 + 1 =24 (quả)
Lần thứ ba ngời đó bán đợc số cam là:
5
4
6
4
7
5
8
7
9
5
10
6
2) B¶ng ®iÓm cña líp 5A2, ®iÓm thÊp nhÊt lµ 3, cao nhÊt lµ 9:
§iÓm
Sè HS
3
1
3) ChÊt lîng :
4
2
5
6%
Lớp 5A1
21%
33%
33%
13%
4) Nhận xét:
Qua đánh giá chung nh trên ta thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm giỏi của
lớp 5A1 hơn lớp 5A2 là gần 1,1 lần. Ngợc lại tỉ lệ học sinh yếu của lớp 5A2
lại hơn lớp 5A1 là hơn 2 lần. Nh vậy kết quả giữa hai lớp tơng đối chênh lệch.
* Cách giải bài toán Tính ngợc từ cuối lên là một trong 13 phơng
pháp giải toán ở tiểu học, nó đợc áp dụng nhiều trong toán nâng cao. Chính vì
thế mà tôi dạy cho học sinh rất kĩ. Học sinh giỏi lớp 5A1 do tôi dạy nắm tơng
đối chắc phơng pháp này cũng nh các phơng pháp khác. Chất lợng học sinh
giỏi trong năm học này đạt:
+ Học sinh giỏi cấp: Tỉnh: 3 em.
Cấp thị: 6 em
Cấp trờng: 15 em.
5) Nhận xét chung:
Qua kết quả trên, tôi càng khảng định tính đúng đắn của phơng
pháp mới mà tôi đề xuất, nó đợc thể hiện ở kết quả kiểm tra và thi học sinh
giỏi của lớp 5A1 hơn lớp 5A2.
các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
năm 2009
Yên thanh, ngày 18 tháng 5
Ngời viết
Hồ Thị Khánh
Linh