TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ YẾN NHI
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN KHẢ NĂNG HỐI LỘ CỦA CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Kinh doanh quốc tế
Mã số ngành: 52340120
11-2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ YẾN NHI
MSSV: 4114860
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN KHẢ NĂNG HỐI LỘ CỦA CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
Mã số ngành: 52340120
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU............................................................................. 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................ 3
1.2.1 Mục tiêu chung.................................................................................. 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.................................................................................. 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 3
1.3.1 Không gian ........................................................................................ 3
1.3.2 Thời gian ........................................................................................... 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 4
2.1 Cơ sở lý luận ........................................................................................ 4
2.1.1 Tham nhũng, những loại tham nhũng................................................. 4
2.1.2 Hối lộ, những loại hối lộ.................................................................... 6
2.1.3 Lý thuyết và giả thuyết ...................................................................... 7
2.2 Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 13
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu........................................................... 13
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu ......................................................... 14
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG, HỐI LỘ Ở VIỆT NAM 21
3.1 Nguyên nhân ...................................................................................... 21
3.1.1 Nguyên nhân khách quan................................................................. 21
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan .................................................................... 23
3.2 Thực trạng hối lộ, tham nhũng ở Việt Nam......................................... 23
3.3 Tác hại của hối lộ, tham nhũng ........................................................... 27
3.3.1 Về kinh tế ........................................................................................ 28
3.3.2 Về chính trị...................................................................................... 28
3.3.3 Về xã hội ......................................................................................... 29
Bảng 4.4 Mối quan hệ giữa hối lộ và giới tính nhà quản lý của công ty .... 34
Bảng 4.5 Các nhân tố tác động đến khả năng hối lộ của công ty cổ phần.. 35
Bảng 4.6 Các nhân tố tác động đến số tiền hối lộ của công ty cổ phần...... 38
v
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu................................................................... 13
vi
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta
từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục
tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Nhịp sống hiện
đại và thời buổi kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực
trong tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội, khi con người phải tranh giành lợi ích
và quyền lực với nhau để giúp mình có thể tồn tại và phát triển. Trong đó nạn
tham nhũng, hối lộ là một hiện tượng xã hội, được Đảng ta xác định là “quốc
nạn” và đang là tâm điểm của công luận trong thời gian qua.
Hối lộ, tham nhũng diễn ra ở các hầu hết các lĩnh vực vực từ y tế, giáo
dục, kinh tế, chính trị,…Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, hiện tượng tham
nhũng, hối lộ có phần nghiêm trọng hơn khi tiền bạc, vật chất là yếu tố được
đặt lên hàng đầu trong tất cả công việc. Tham nhũng, hối lộ trong kinh tế làm
chi phí giao dịch tăng cao, tạo ra môi trường kinh doanh thiếu minh bạch,
động. Tham nhũng trong kinh tế liên quan đến hai chủ thể là cán bộ, công
chức Nhà nước và doanh nghiệp. Quy mô tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế
rất lớn, nhưng chưa được xác định chính xác và đầy đủ. Sự câu kết giữa doanh
nghiệp và một số quan chức bằng các nhóm lợi ích thân hữu đã tạo ra nhiều
khó khăn trong việc phát hiện, đánh giá chính xác về mức độ tham nhũng của
cán bộ và hối lộ của doanh nghiệp trong kinh doanh. Bên cạnh đó, thực tế hiện
nay có nhiều doanh nghiệp chủ động đưa hối lộ trước khi cán bộ Nhà nước
yêu cầu để đạt được công việc như mong muốn. Vì vậy, cần có những nghiên
cứu về tham nhũng, hối lộ dưới góc nhìn từ phía doanh nghiệp. Nghiên cứu
“Doanh nghiệp, bối cảnh, hối lộ bằng chứng các doanh nghiệp tư nhân ở Đồng
bằng sông Cửu Long, Việt Nam” (Phan Anh Tú, 2012) đã cho thấy ảnh hưởng
của đặc điểm doanh nghiệp và ngữ cảnh đến hoạt động hối lộ của doanh
nghiệp. Nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa tác lực bên trong và tác lực bên
ngoài đến xác suất hối lộ của doanh nghiệp, mẫu nghiên cứu bao gồm 54%
doanh nghiệp tư nhân, 11% công ty trách nhiệm hữu hạn, 2% công ty cổ phần.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp tư nhân. Tuy
nhiên, với xu hướng cổ phần hóa của các doanh nghiệp hiên nay, số lượng các
công ty cổ phần ngày một tăng. Với áp lực cạnh tranh gay gắt và phải kinh
doanh hiệu quả để mang lại lợi nhuận, tăng giá trị công ty và thu hút các nhà
2
đầu tư mua cổ phần của mình, công ty cổ phần cũng không thể tránh khỏi
“vòng xoáy” hối lộ với mục đích chiếm ưu thế trong cạnh tranh. Do đó, cần có
nghiên cứu làm rõ các yếu tố tác động đến khả năng hối lộ của các công ty cổ
phần ở Việt Nam. Nghiên cứu “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả
năng hối lộ của các công ty cổ phần ở Việt Nam” sẽ cho biết các nhân tố
nào có tác động đến khả năng hối lộ của các công ty cổ phần. Dựa vào kết quả
nghiên cứu này có thể đề ra các giải pháp góp làm giảm tình trạng hối lộ của
lợi. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong
các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các
cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước.
Còn một định nghĩa nữa về tham nhũng mà Ngân hàng Thế giới thường
sử dụng. Theo đó, tham nhũng là “lạm dụng công quyền để tư lợi”. Định nghĩa
này cho rằng tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm dụng công quyền,
tham nhũng gắn liền với Nhà nước và các hoạt động của Nhà nước, từ việc
Nhà nước can thiệp vào thị trường và sự tồn tại của khu vực công. Nói cách
khác, khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư
nhân, và chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công.
Do đó, có thể nói nếu không có Nhà nước thì không có tham nhũng, nhưng
điều này là không thể.
Từ những định nghĩa trên cho thấy chủ thể tham nhũng phải là người có
chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước. Họ sử dụng chức vụ, quyền hạn
của mình như một phương tiện để mang lại lợi ích cho bản thân, cho gia đình
hoặc cho người khác. Mục đích của hành vi tham nhũng là nhằm vụ lợi. Vụ lợi
ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ,
quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.
Hành vi mang đầy đủ những đặc điểm này thì mới được gọi là tham nhũng.
4
Tham nhũng có thể được phân thành hai loại là tham nhũng hành chính
và tham nhũng chính trị (Phan Anh Tú, 2013). Tham nhũng hành chính (quy
mô nhỏ) chỉ những khoản đút lót của các doanh nghiệp liên quan đến việc sử
dụng các dịch vụ công, chẳng hạn như xin cấp giấy phép kinh doanh, giấy
phép xuất nhập khẩu, thủ tục đất đai, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ,…Nói cách
khác, tham nhũng hành chính nhằm để đạt được hay đẩy nhanh việc thực hiện
một quyền cụ thể nào đó mà công dân hay pháp nhân đó có quyền được
có lợi cho mình”. Một định nghĩa khác, hối lộ là hành động biếu tặng, nài xin
một sự ủng hộ, hứa hẹn, hay quà cáp có liên quan đến lợi ích bằng tiền bất hợp
pháp hay những lợi ích khác đến các nhân viên Nhà nước nhằm mục đích ảnh
hưởng đến hành động của nhân viên Nhà nước đi ngược lại với chức trách của
họ (Phan Anh Tú, 2013).
Tóm lại, với các quan điểm tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản đều
thống nhất chung về hối lộ với nội dung khái quát như sau: hối lộ là việc sử
dụng một lợi ích nào đó tác động vào hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn để hành vi của người đó diễn ra theo cách người đưa hối lộ mong muốn.
Quan hệ hối lộ liên quan đến hai chủ thể chính là người đưa hối lộ và
người nhận hối lộ. Theo đó, nhất thiết phải có sự hiện diện của hai chủ thể này
mới phát sinh quan hệ hối lộ. Ngoài ra, trong quan hệ hối lộ cũng có thể có
chủ thể khác như người trung gian (người làm môi giới hối lộ), bởi trong
nhiều trường hợp nhờ có chủ thể này thì người hối lộ và người được hối lộ
mới liên hệ với nhau và thực hiện hành vi hối lộ. Trong hai chủ thể chính,
người được hối lộ thuộc khu vực công và người đưa hối lộ lại thường thuộc
khu vực tư. Người đưa hối lộ thường là doanh nghiệp nhằm mục tiêu gây ảnh
hưởng đến quyết định của cán bộ, công chức Nhà nước, mang lại lợi ích cho
doanh nghiệp. Chẳng hạn như, các doanh nghiệp có thể hối lộ cán bộ, công
chức Nhà nước để được giảm thuế hay những khoản phí khác, xin giấy phép,
tránh (tiềm năng) bị nhũng nhiễu hay phiền hà trong kinh doanh, cũng có thể
nhằm làm giảm nhẹ kết quả của việc xử lý vi phạm pháp luật đối với doanh
nghiệp.
Căn cứ vào mục đích hối lộ (đút lót), có hai loại đút lót là đút lót cần
thiết và đút lót thực sự (Phan Anh Tú, 2013). Theo đó, có thể hiểu đút lót cần
thiết như là chi phí bôi trơn trong kinh doanh, mục tiêu của nó nhằm đạt được
những thuận lợi nhất định khi sử dụng các dịch vụ công. Ví dụ như đút lót để
6
quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí
7
của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho công ty. Adam
Smith đã có dự đoán về xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự
phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty. Thật vậy, sự phát
triển của thị trường chứng khoán và sự tăng lên nhanh chóng về số lượng các
nhà đầu tư, vấn đề sở hữu vốn trong các công ty cổ phần ngày càng bị phân
tán và cổ phần được sở hữu bởi nhiều chủ thể đa dạng hơn. Vì vậy, để đảm
bảo lợi ích cho các cổ đông đã dẫn đến sự phân tách giữa quyền sở hữu và
quyền quản lý công ty. Đây là một hình thức mới về tài sản, mà tài sản đó
được kiểm soát, quản lý bởi người quản lý công ty (người làm thuê) hơn là các
cổ đông (những chủ sở hữu thật sự của công ty).
Sự phát triển của các công ty cổ phần và xu hướng tách biệt giữa chủ sở
hữu và nhà quản lý xuất hiện sớm nhất ở các nước phương Tây và tạo ra tiền
đề cho việc xây dựng các lý thuyết giải thích về mối quan hệ giữa các cổ đông
và người quản lý công ty được thuê. Đáng chú ý nhất là học thuyết đại diện
(Agency theory). Theo học thuyết này, quan hệ giữa các cổ đông và người
quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác. Mối
quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông bổ
nhiệm, chỉ định người khác làm người quản lý công ty, để thực hiện việc quản
lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết
định định đoạt tài sản của công ty. Lý thuyết đại diện cho rằng, nếu cả hai bên
trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở cho
rằng người quản lý công ty sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho
công ty, cho tất cả các cổ đông. Với vị trí của mình, người quản lý công ty
được cho là có xu hướng tư lợi, cố gắng tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình
hay người thứ ba chứ không phải cho công ty. Lý thuyết đại diện cũng nhấn
mạnh rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát người quản lý công ty
ngắn hạn có thể mang lại kết quả nhanh chóng, giúp tăng uy tín của họ trước
các cổ đông. Không những thế, nhà quản lý còn có xu hướng chọn các dự án
đầu tư ít rủi ro, lợi nhuận thấp, và một tỷ lệ nợ thấp để giảm xác suất bị phá
sản. Chính vì nhà quản lí e ngại trước những rủi ro, bao gồm cả hành vi bất
hợp pháp như hối lộ nên có xu hướng né tránh điều này và tập trung xây dựng
hình ảnh nhà quản lý chuyên nghiệp- quản lý công ty hoạt động ổn định. Mặt
khác, nhà quản lý chỉ là người được thuê để quản lý công ty và họ hoàn toàn
không sở hữu cổ phần nên không có động cơ nào để tối đa hóa giá trị của công
ty mà chỉ tập trung hướng đến khoản lương, thưởng hay lợi ích cá nhân của
mình mà thôi. Trái lại, chủ doanh nghiệp- cổ đông khi nắm giữ vị trí quản lý
9
vì muốn tối đa hóa lợi ích của công ty- tăng giá trị cổ phần nắm giữ nên họ có
động cơ thực hiện hành vi hối lộ cao hơn với mục tiêu tạo thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao cho công ty, cũng như trực tiếp làm
gia tăng lợi ích bản thân. Từ những lý luận trên, tôi đặt ra giả thuyết rằng:
Giả thuyết 1: Công ty không có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà
quản lý có khuynh hướng thực hiện hối lộ nhiều hơn so với công ty có sự tách
biệt này.
2.1.3.2 Tỷ lệ cổ phần
Một khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trong công ty cổ phần là sự
tập trung hay phân tán quyền sở hữu cổ phần. Jensen và Meckling (1976) từng
chỉ ra những xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu- tức các cổ đông,
họ còn cho rằng phương thức hiệu quả giải quyết vấn đề này là nhà quản lý
chính là cổ đông của công ty. Nói cách khác, khi nhà quản lý sở hữu cổ phần
của công ty, hay nhà quản lý chính là cổ đông thì lợi ích của các cổ đông cũng
chính là lợi ích của nhà quản lý. Vì vậy, nhà quản lý hành động theo lợi ích
của mình cũng đồng thời mang lại lợi ích cho công ty, các cổ đông còn lại.
đông, đặc biệt là cổ đông lớn nhất.
Lợi ích và quyền lực của cổ đông lớn nhất luôn đi đôi với trách nhiệm.
Khi sở hữu càng nhiều cổ phần thì trách nhiệm đối với công ty càng cao và
càng phải thận trọng khi ra bất cứ quyết định gì liên quan đến hoạt động công
ty. Người sở hữu càng nhiều cổ phần thì họ có xu hướng muốn xây dựng danh
tiếng công ty và đưa công ty phát triển theo hướng bền vững, né tránh bất ổn
mang lại lợi ích lâu dài cho mình thay vì hành động vì món lợi lớn nhưng chỉ
mang tính nhất thời. Bên cạnh đó, chi phí hối lộ công ty phải chi cũng có ảnh
hưởng đến lợi ích của cổ đông, ảnh hưởng đến quyết định có nên thực hiện
hay không và hành vi bất hợp pháp này do người trực tiếp điều hành công ty
quyết định nên phải chịu trách nhiệm pháp lý khi sự việc đổ vỡ. Vì vậy, sự gia
tăng tỉ lệ cổ phần mà cổ đông lớn nhất nắm giữ có thể làm tăng hay giảm khả
năng hối lộ của công ty. Điều này phụ thuộc vào lợi ích nhận được và chi phí
mất đi của hành vi hối lộ. Nếu lợi ích mang lại cao hơn chi phí hối lộ thì có thể
cổ đông lớn nhất sẽ ủng hộ hành vi này vì họ được hưởng lợi nhiều nhất.
Ngược lại, chi phí cao hơn lợi ích, họ không muốn thực hiên hối lộ vì chi phí,
rủi ro phải gánh chịu. Hành vi hối lộ mang theo nhiều rủi ro nên người điều
hành luôn thận trọng khi đưa ra quyết định có nên thực hiện hành vi hối lộ hay
không. Sự cân nhắc giữa lợi ích đạt được và chi phí, rủi ro sẽ tác động đến
11
quyết định của chủ sở hữu (cổ đông lớn nhất), công ty chỉ thực hiên hối lộ khi
hành vi này mang lại lợi ích. Do vậy, giả thuyết sau được đưa ra để kiểm
chứng.
Giả thuyết 2: Khả năng công ty thực hiện hành vi hối lộ tăng khi tỷ lệ cổ
phần mà cổ đông lớn nhất sở hữu tăng.
2.1.3.3 Giới tính của chủ sở hữu- nhà quản lý
Ngoài những yếu tố trên, tôi còn cho rằng có mối quan hệ giữa giới tính
tự do phạm sai lầm và đối mặt với rủi ro. Bởi nguyên nhân trên, đi đến kết
luận rằng nam giới có nhiều động cơ vi phạm pháp luật hơn nữ (Tittle và
Paternoster, 2000; Gottfredson và Hisschi, 1990). Giả thuyết sau được đưa ra
từ những lý giải trên.
Giả thuyết 3: Công ty có nhà quản lý nam giới có khả năng hối lộ cao
hơn so với nữ.
Từ những lập luận trên, mô hình nghiên cứu được thể hiện trong Hình
2.1 chỉ ra những nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến quyết định thực hiện
hành vi hối lộ của các công ty cổ phần.
Sự tách biệt quyền
sở hữu- quản lý
Tỷ lệ cổ phần của cổ
đông lớn nhất
Giới tính của người
quản lý công ty
H1 (+)
H2 (+)
Khả năng hối
lộ
Các yếu tố
khác
H3 (-)
liệu nghiên cứu được trích ra từ bộ dữ liệu này chỉ bao gồm các công ty cổ
phần Việt Nam mà thôi. Tổng số quan sát được trích ra từ bộ dữ liệu để sử
dụng trong nghiên cứu này là 316 công ty cổ phần.
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng số liệu thứ cấp do Tổ chức Minh bạch
quốc tế công bố về chỉ số tham nhũng của Việt Nam từ năm 2007 đến năm
2013.
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Mục tiêu 1: Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá thực trạng
tham nhũng, hối lộ ở Việt Nam.
- Mục tiêu 2: Sử dụng mô hình hồi quy Probit và Tobit để phân tích tác
động của sự tách biệt quyền sở hữu- quản lý trong công ty, tỷ lệ cổ phần của
cổ đông lớn nhất và giới tính của nhà quản lý đến khả năng hối lộ của các
công ty cổ phần ở Việt Nam.
2.2.2.1 Định nghĩa và đo lường các biến
Biến phụ thuộc là mức độ hối lộ của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu
của mình về việc hối lộ của các công ty, Ramdani và van Witteloostuijin
14
(2012) đã đo lường hối lộ của các doanh nghiệp bằng câu hỏi: “Công việc kinh
doanh thỉnh thoảng được yêu cầu cần có quà cáp hoặc phương thức chi trả
thân mật cho cán bộ, công chức để có được những thuận lợi liên quan đến các
vấn đề thuế, đăng kí độc quyền, cấp giấy phép xuất nhập khẩu, sử dụng dịch
vụ công,… Trung bình, hằng năm công ty bạn chi bao nhiêu phần trăm doanh
thu cho chi phí bôi trơn liên quan đến các vấn đề trên?”. Trong khảo sát của
mình Tổng cục thống kê cũng sử dụng câu hỏi tương tự, khảo sát số tiền hối lộ
thông qua doanh thu công ty. Câu hỏi này được cho là phù hợp, việc không đề
cập trực tiếp đến số tiền mà doanh nghiệp chi cho việc hối lộ cán bộ công chức
sẽ tạo tâm lý thoải mái cho doanh nghiệp đưa ra câu trả lời. Trái lại, câu hỏi
trực tiếp sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp né tránh, không trả lời đúng sự thật.
và nhận giá trị 0 nếu có sự khác biệt này.
Thứ hai, tỷ lệ cổ phần của cổ đông lớn nhất, được xác định dựa trên khảo
sát: “Cổ đông lớn nhất nắm giữ bao nhiêu phần trăm cổ phần của công ty?”.
Tỷ lệ cổ phần được đo lường phần trăm cổ phần mà cổ đông lớn nhất trong
công ty nắm giữ. Giá trị của biến này trong dữ liệu nghiên cứu thay đổi từ
2,25% đến 100%. Giá trị này càng lớn nghĩa là quyền lực của cổ đông lớn nhất
trong công ty càng mạnh. Nói cách khác cổ đông lớn nhất nắm giữ càng nhiều
cổ phần thì công ty có sự tập trung quyền lực vào một số ít cổ đông, đặc biệt là
cổ đông lớn nhất. Trái lại, cổ đông lớn nhất nắm giữ một tỷ lệ nhỏ cổ phần của
công ty tức là quyền sở hữu công ty có sự phân tán.
Thứ ba, giới tính của chủ sở hữu được đo lường bằng một biến giả, nó
giá trị 1 nếu chủ sở hữu- người điều hành công ty là nữ và mang giá trị 0 nếu
là nam. Giá trị biến độc lập này được ghi nhận bằng khảo sát: “Chủ sở hữungười điều hành công ty là nữ?”.
Các biến kiểm soát được đưa vào mô hình để tối thiểu hóa các sai lệch
trong quá trình ước lượng. Các biến kiểm soát bao gồm: xuất khẩu của công
ty, tuổi của công ty, quy mô công ty, kinh nghiệm của người quản lý và cảm
nhận của doanh nghiệp về mức độ cạnh tranh.
Thứ nhất, biến xuất khẩu cho biết hoạt động xuất khẩu mang lại bao
nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu của công ty. Giá trị của nó thay đổi từ 0
đến 100%, cụ thể là khi công ty không có hoạt động xuất khẩu thì giá trị này là
0, giá trị 100% tương ứng với việc công ty chỉ hoạt động xuất khẩu mà không
bán hàng hóa trong nội địa. Công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu
thường phải trải qua trình tự thủ tục phức tạp, mất nhiều thời gian khi xin giấy
16
phép xuất khẩu. Các doanh nghiệp luôn muốn công việc được giải quyết
nhanh gọn nên thường hối lộ cho cán bộ hải quan. Hải quan luôn là lĩnh vực
mà hoạt động hối lộ mang tính phổ biến và được báo chí phản ánh rất nhiều,