Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh hòa bình (việt nam) hiện nay - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

NGUYỄN THỊ HỮU

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN VÀO VIỆC THỰC HIỆN XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HÒA BÌNH
(VIỆT NAM) HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2013

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị đã tạo
điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời
gian và do sự hạn chế về khả năng của bản thân nên khóa luận của em không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hữu

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
TS.Vi Thái Lang. Em xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng em;
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.


2.1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc
thực hiện xóa đói giảm nghèo ở Hòa Bình hiện nay .................................. 23
2.2. Thực trạng sự vận dụng quan điểm toàn diện trong việc thực hiện xóa
đói giảm nghèo ở tỉnh Hòa Bình hiện nay và một số vấn đề đặt ra ............ 27
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHO VIỆC THỰC HIỆN XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN
DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN............................................................. 48
3.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện xóa đói
giảm nghèo ........................................................................................................48
3.2. Một số giải pháp trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
Hòa Bình hiện nay..................................................................................... 50
KẾT LUẬN.................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 72

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay xóa đói giảm nghèo được mọi quốc gia trên thế giới đặc biệt
quan tâm, được coi như là yêu cầu cấp thiết về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội. Bởi vì đói nghèo không những là lực cản lớn của sự phát triển, mà đói
nghèo gây nên những tác động tiêu cực về mặt đạo đức, tinh thần gây mất trật

GVHD: TS. Vi Thái Lang

túng, bất cập và thiếu đồng bộ. Nhiều cán bộ được giao triển khai các chính
sách của Chính phủ đến các vùng khó khăn còn yếu kém về năng lực, thiếu
kinh nghiệm và hiểu biết về tính ưu việt của chính sách xóa đói giảm nghèo
nên một số cán bộ đã thiếu đi cách nhìn khách quan và cách tiếp cận với
người nghèo, vùng nghèo dẫn đến hiệu quả giảm nghèo của chính sách xóa
đói giảm nghèo không cao. Đặc biệt là tỉnh Hòa Bình tỉ lệ hộ nghèo đến năm
2010 vẫn ở mức cao là 28,8% . Do vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
ở tỉnh Hòa Bình (Việt Nam) hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về
chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước như:
* Nhóm công trình là sách:
- Nguyễn Thị Hằng (1993), Đói nghèo ở Việt Nam, Nxb Lao động
Thương binh và xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Thiều (1996), Xóa đói giảm nghèo, Nxb Lao động Hà Nội.
* Nhóm công trình là luận văn, luận án:
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hằng (1999), Vấn đề xoá đói
giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh.
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Hằng (2001), Vấn đề giảm nghèo
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh.
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Bùi Thị Lý (2000), Vấn đề xoá đói giảm
nghèo ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
* Nhóm công trình là các Báo cáo khoa học trên các tạp chí:
Các báo cáo tại các cuộc tọa đàm về chuẩn đói nghèo ở Việt Nam tại Hà
Nội tổ chức ngày 15 đến 16/2/2002 của các tác giả: Nguyễn Phong, tổng cục

giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
Hòa Bình.
* Nhiệm vụ:
+ Làm sáng tỏ về mặt lý luận của quan điểm toàn diện trong Triết học
và các quan điểm về nghèo đói.
+ Nghiên cứu thực trạng đói nghèo ở Hòa Bình và tìm ra các nguyên
nhân dẫn đến đói nghèo ở Hòa Bình.
+ Từ đó vận dụng quan điểm toàn diện vào việc thực hiện xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Hòa Bình hiện nay.

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

3

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
Nghiên cứu về chương trình xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hòa Bình hiện
nay
* Phạm vi
Nghiên cứu về chương trình xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hòa Bình giai
đoạn từ 2006 - 2010
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

 Khái quát về phép biện chứng duy vật
Trong tác phẩm “Bút ký triết học”, hơn ba lần Lênin đưa ra định nghĩa
về phép biện chứng và Ăngghen đã định nghĩa vô cùng chính xác về phép
biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về
những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài người và của tư duy” [14, tr. 201]. Như vậy, phép biện chứng có một
quá trình hình thành lâu dài. Phép biện chứng ra đời từ khi triết học ra đời với
ba hình thức cơ bản là phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện
chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật. Trong đó phép biện chứng duy
vật là hoàn bị và trở thành phương pháp luận đúng đắn nhất, khoa học nhất.
Với câu nói nổi tiếng của mình “Không ai tắm hai lần trên cùng một
dòng sông”, Hêraclit trở thành nhà tư tưởng biện chứng tiêu biểu thời Hy
Lạp Cổ đại. Ngoài ra còn phải kể đến tư tưởng biện chứng trong thuyết Âm
Dương ngũ hành của triết học Trung Hoa cổ đại. Phép biện chứng cổ đại, kể
cả trong triết học phương Đông và phương Tây đều xem xét mọi sự vật hiện
tượng trong sự sinh thành, biến hóa và trong những mối liên hệ vô cùng, vô
tận. Tuy còn mang tính chất phác ngây thơ, mới chủ yếu dựa trên những
phỏng đoán, những trực kiến thiên tài chứ chưa phải chủ yếu dựa trên kết
quả khoa học nhưng về căn bản là đúng. Phép biện chứng thời cổ đại đã
phác họa ra được bức tranh chung về thế giới trong tác động qua lại chằng

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

5

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp


SVTH: Nguyễn Thị Hữu

6

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

luật, phạm trù. Đó là nguyên lý về sự phát triển và nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến. Nó đồng thời là lý luận nhận thức và lôgic học của chủ nghĩa Mác,
có sự thống nhất trong nó giữa tính cách mạng, tính khoa học, tính thực tiễn,
trở thành phương pháp lý luận chung nhất cho mọi hoạt động nhận thức và
thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội của con người.
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
- Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được đặt ra là:
Các sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua
lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau?
Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó?
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho
rằng: các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên
cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và chuyển
hóa lẫn nhau; nếu có chỉ là những liên hệ có tính ngẫu nhiên, bề ngoài. Hạn
chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giới quan triết học, dựng lên
ranh giới giả tạo giữa các sự vật, hiện tượng. Hạn chế này có nguồn gốc bởi
phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng
rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đoạn siêu tập tài

vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng phong phú. Song, chúng đều
chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất thế giới
vật chất.
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan chỉ biểu hiện sự tồn
tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất
tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua
lại giữa các mặt của bản thân chúng với các sự vật, hiện tượng khác.
Theo quan điểm duy vật biện chứng mối liên hệ phổ biến có tính chất:
- Tính khách quan: Có thể khẳng định, mối liên hệ giữa các sự vật hiện
tượng là khách quan, vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của
thế giới. Biểu hiện trong tất cả các quá trình: Tự nhiên, xã hội và tư duy sự vật
hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất của các mặt đối lập và sự vật, hiện
tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác.
Ngay trong cả sự vật vô chi, vô giác cũng đang hàng ngày, hàng giờ chịu sự
tác động của các sự vật, hiện tượng khác. Các mối liên hệ là vốn có của mọi
sự vật, hiện tượng, nó không phụ thuộc vào ý thức của con người.
- Tính phổ biến: Không chỉ mang tính khách quan, mối liên hệ còn
mang tính phổ biến, tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
SVTH: Nguyễn Thị Hữu

8

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

+ Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật

9

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức
+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực
Như vậy, có thể khẳng định bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
cũng luôn tồn tại trong mối liên hệ mật thiết với các sự vật, hiện tượng khác.
Do đó, muốn tìm hiểu về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải đặt
trong mối liên hệ, quan hệ với xung quanh. Nghĩa là, phải xem xét một cách
toàn diện, đó chính là nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến.
1.1.2. Những nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến
- Quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật, rút ra quan điểm toàn diện. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
đều tồn tại trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ
rất đa dạng phong phú. Do đó, khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta
phải có quan điểm toàn diện, tránh rơi vào quan điểm phiến diện, chỉ xem xét
sự vật, hiện tượng ở một vài mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay
tính quy luật của chúng. Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi
hoạt động nhận thức và thực tiễn, quan điểm toàn diện đặt ra yêu cầu sau:
Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật
trong mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và

sự kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ tạo nên một hình ảnh không đúng về
sự vật. Do vậy, trong hoạt động thực tiễn, theo quan điểm toàn diện khi tác
động vào sự vật chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ của
sự vật ấy với các sự vật khác. Ví dụ: Để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” một mặt chúng ta phải biết phát
huy nội lực, mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, nhất là xu thế toàn cầu hóa
đem lại.
Tóm lại, qua tìm hiểu mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật, rút ra được quan điểm toàn diện, đây là nguyên tắc phương pháp luận có
ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn.
- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể có nghĩa là: trong những điều kiện hoàn
cảnh khác nhau thì mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng khác nhau.
Bản thân nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi trước hết chúng ta phải
xem xét phương pháp tư duy là tính lịch sử. Những phương pháp cơ bản của

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

11

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

tư duy biện chứng là kết quả của lịch sử quá trình nhận thức, của tư duy, đã
thể hiện ở việc con người đi sâu nhận thức thế giới và vận dụng phép biện
chứng vào quá trình tư duy của con người. Phương pháp tư duy là sản phẩm

trường cụ thể trong đó sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại và phát triển. Một
luận điểm nào đó trong điều kiện này là luận điểm khoa học nhưng sẽ không
phải luận điểm khoa học trong điều kiện khác. Trong lịch sử triết học khi xem
xét các hệ thống triết học bao giờ ta cũng phải xem xét hoàn cảnh ra đời và sự
phát triển của các hệ thống đó.
Để xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của
từng thời kỳ xây dựng đất nước bao giờ Đảng ta cũng phải phân tích tình hình

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

12

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

cụ thể của đất nước cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai
đoạn và từng thời kỳ đó. Dĩ nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ trương
của Đảng ta cũng luôn bổ sung và điều chỉnh kịp thời để phù hợp với diễn
biến của hoàn cảnh cụ thể.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể có những đòi hỏi mang tính tổng hợp. Quán
triệt nguyên tắc này trong quá trình vận dụng phương pháp tư duy sẽ đưa
nhận thức của con người tới chân lý. Một khi xa rời những điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể thì chân lý sẽ trở thành sai lầm.
Tóm lại, qua tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và nguyên tắc lịch sử - cụ thể. Đây là
những nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động

dựng mức ca-lo tối thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng con người.
Nhu cầu ca- lo của mỗi người là rất khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi, giới
tính và cường độ hoạt động thể chất mà họ thực hiện. Tuy vậy, để xây dựng
một ngưỡng nghèo cần phải xác định mức nhu cầu trung bình cho toàn bộ dân
số. Ngân hàng thế giới đã nhiều lần làm như vậy và con số phổ biến để xác
định ngưỡng nghèo là 2.100 ki- lô ca- lo cho mỗi người/ một ngày.
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhangen, Đan Mạch (tháng 3 năm 1995) đã đưa ra khái niệm về nghèo
cụ thể như sau: “Người nghèo là tất cả những ai thu nhập thấp hơn 1 USD/
mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm
thiết yếu để tồn tại”.
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức
tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9 năm 1993) xác định: “Nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của
con người được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và phong tục tập quán của địa phương”. Theo khái niệm này, không có chuẩn
nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều
kiện cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo thời gian, không gian.
 Các quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vấn đề đói nghèo,
Người coi đây là một trong những động lực, điều kiện thiết yếu để xây dựng
và phát huy sức mạnh toàn dân. Hồ Chí Minh quan niệm: Xóa đói giảm nghèo
là làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì
giàu thêm. Vậy là, mọi thành viên trong xã hội không ngừng phấn đấu vươn
lên vượt qua cửa ải đói nghèo, Người quan niệm xã hội mà chúng ta xây dựng
là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nó xa lạ với
SVTH: Nguyễn Thị Hữu

14


khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo; dưới 20 kg gạo/tháng tương
đương với 70.000 đồng đối với khu vực nông thôn, đồng bằng và trung du;
dưới 25 kg gạo/tháng tương đương với 90.000 đồng đối với khu vực thành thị.
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau
thì tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ đói có sự thay đổi.

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

15

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

Ở Việt Nam, theo Quyết định số 170/2005/QĐ - TTg do thủ tướng ban
hành ngày 07/08/2005 về chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, đã
đưa ra điều kiện để cấp “sổ hộ nghèo” là gia đình phải thuộc diện có thu nhập
bình quân đầu người hàng tháng từ 200.000 đồng trở xuống đối với khu vực
nông thôn, hoặc 260.000 đồng trở xuống đối với khu vực thành thị [21, tr.
22]. Một số địa phương có mức sống giàu có hơn có thể điều chỉnh chuẩn hộ
nghèo với mức thu nhập bình quân trong hộ cao hơn.
1.2.2. Sự cần thiết phải thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Hòa Bình
hiện nay
Xóa đói giảm nghèo là chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ Việt
Nam nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam.
Năm 1989, Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường. Trong sản xuất nông
nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ gia đình, đã nhảy vọt từ nước thiếu lương

sống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo, và những vùng căn cứ kháng chiến cách
mạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướng
sản xuất hàng hóa, phát triển công nghiệp nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu
hút lao động ở nông thôn vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và
dịch vụ là con đường cơ bản để xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Chuyển dịch
cơ cấu ở nông thôn phải được xem như là một giải pháp hữu hiệu, tạo bước
ngoặt cho phát triển ở nông thôn, nhằm xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước
ta hiện nay.
Hòa bình là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, phần lớn dân số là
dân tộc ít người, vừa được tách ra từ tỉnh Hà Sơn Bình cũ (1991), cơ sở vật
chất còn nghèo nàn, đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn và cũng đang
trong tình trạng đói nghèo lớn. Hòa Bình có 60/214 xã thuộc diện nghèo đói,
trong đó có 24 xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ đói nghèo gần 15%. Phần đông hộ
nghèo là các dân tộc thiểu số tập trung ở vùng sâu, vùng cao, vùng lòng hồ
sông Đà,...Bộ phận dân chúng nghèo khổ này, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân
khác nhau như cơ sở hạ tầng, thiên tai, vốn, trình độ,...Để giải quyết vấn đề
trên, trong những năm qua tỉnh Hòa Bình đã hưởng ứng chương trình mục tiêu
quốc gia của Đảng và Nhà nước ta về chương trình xóa đói giảm nghèo ở các
tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, nâng cao đời sống nhân dân và phát triển bền
vững kinh tế đất nước. Hòa Bình đã thực hiện nhiều giải pháp xóa đói giảm
nghèo, đặc biệt là chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của tỉnh.
Như vậy, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hòa Bình cực kỳ quan tâm tới
chương trình xóa đói giảm nghèo và coi đây là một trong những nhiệm vụ quan

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

17

Lớp K35 - GDCD

người của người nghèo, trang bị cho họ những kiến thức và kỹ năng để tiếp
cận các cơ hội việc làm và thị trường.
+ Tạo việc làm cho người nghèo và xuất khẩu lao động, nhằm giúp cho
người nghèo tiếp cận với các chính sách về tạo việc làm, xuất khẩu lao động,
để tạo ra thu nhập ổn định cuộc sống.

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

18

Lớp K35 - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Vi Thái Lang

+ Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo nhằm xây dựng mô hình và
chia sẻ kinh nghiệm để đảm bảo việc chuyển giao những mô hình sản xuất
thành công.
+ Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã khó khăn (thuộc Chương
trình 135 giai đoạn II), nhằm tạo môi trường thuận lợi ở các xã nghèo, hỗ trợ
các hộ nghèo được tiếp cận thị trường và cơ hội tạo thu nhập và khuyến khích
hoạt động thương mại ở các địa bàn nghèo.
- Nhóm các chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội:
+ Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo nhằm giúp cho người
nghèo có thể tiếp cận miễn phí các dịch vụ y tế của nhà nước để có sức khỏe
tốt hơn và sức khỏe sinh sản được cải thiện hơn.
+ Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo nhằm hỗ trợ cho học
sinh nghèo có điều kiện đến trường, tăng cường nguồn vốn con người và triển

Ngoài ra chương trình giảm nghèo của tỉnh cũng đã đề ra các cơ chế
huy động nguồn lực, với phương châm đa dạng việc huy động và có sự tham
gia của địa phương, cộng đồng nhân dân và bản thân các hộ nghèo.
1.3.2. Kết hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các chủ thể trong việc
xóa đói giảm nghèo
Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các ban, ngành, đoàn thể
tỉnh Hòa Bình luôn coi trọng công tác xóa đói giảm nghèo, nhằm ổn định đời
sống nhân dân trên địa bàn. Cùng với đó là nỗ lực của người dân trong việc
giúp nhau thoát nghèo, giúp công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn đã đạt
được những kết quả khả quan.
Để công tác xóa đói giảm nghèo mang lại hiệu quả thiết thực cho người
dân, tỉnh đã chú trọng nâng cao năng lực cán bộ và truyền thông về công tác
giảm nghèo. Toàn tỉnh đã đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho 2.730 cán
bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo cấp huyện, xã; xuất bản 50.000 bản tin
xóa đói, giảm nghèo và việc làm. Những nội dung truyền thông đã kịp thời
tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, những mô hình
hay, những điển hình tiên tiến trong công tác giảm nghèo. Qua điều tra, đến
nay trên địa bàn đã có hơn 10 vạn lượt hộ nghèo được vay vốn ưu đãi từ Ngân
hàng chính sách xã hội với tổng doanh số 726 tỷ 264 triệu đồng; 34.911 lượt
học sinh, sinh viên nghèo được vay vốn ưu đãi với tổng doanh số 160 tỷ 30
triệu đồng [17, tr. 25]. Thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở, đến hết năm
2010 đã có 17.799 hộ nghèo được hỗ trợ tiền và cho vay ưu đãi cải thiện nhà
ở; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã chủ trì, vận động quỹ “Vì người nghèo”

SVTH: Nguyễn Thị Hữu

20

Lớp K35 - GDCD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status