Vận dụng quan điểm toàn diện trong việc giải quyết xóa đói giảm nghèo ở Tuyên Quang hiện nay - Pdf 29

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
*******************

NÔNG VĂN QUÝ

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở TUYÊN QUANG
HIỆN NAY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Triết học Mác- Lênin NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TH.S NGUYỄN THỊ GIANG
HÀ NỘI - 2011
2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo Th.S
Nguyễn Thị Giang đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận này. Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Trường Đại

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2011
Sinh viên thực hiện.

Nông Văn Quý 4

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản 5
1.2.Các quan niệm về nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay
và khái quát chương trình xóa đói giảm nghèo ở Tuyên Quang hiện nay. 15
Chương 2: THỰC TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TUYÊN
QUANG HIỆN NAY 26
2.1.Tình hình kinh tế- xã hội và tác động của nó trong việc giải quyết

trong những thách thức lớn của toàn Đảng, toàn dân. Toàn Đảng, nhà nước và
nhân dân Việt Nam cùng nhiều tổ chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam
đang cùng nhau tìm kiếm những giải pháp tiếp cận để giảm tỉ lệ nghèo đói ở
các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng sâu, vùng
xa.
Đặc biệt, Tuyên Quang là tỉnh miền núi nghèo ở phía Bắc nước ta.
Trong thời gian vừa qua, đồng thời với sự giúp đỡ của các tổ chức trong nước
và quốc tế tại Việt Nam trong việc thực hiện những mục tiêu quốc gia của
Đảng và nhà nước ta về thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo. Các cấp
Ủy Đảng và nhân dân trong tỉnh đã có nhiều những biện pháp đẩy mạnh công
tác xóa đói giảm nghèo và thu được những kết quả khả quan ban đầu. Thể
hiện ở kết quả giảm nghèo của tỉnh: số hộ nghèo giảm mạnh từ 31,60% năm
2006 xuống còn 25,24% năm 2007 đến năm 2009 giảm xuống còn 21,93%
[18, 16].
6

Thực tế trên cho thấy rằng, chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ta có nhiều ưu việt. Song, việc triển khai thực hiện chính sách xóa
đói giảm nghèo đến các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều lúng
túng, bất cập và thiếu đồng bộ. Nhiều cán bộ được giao triên khai các chính
sách của chính phủ đến các vùng khó khăn còn yếu kém về năng lực, thiếu
kinh nghiệm và hiểu biết về tính ưu việt của chính sách xóa đói giảm nghèo
nên một số cán bộ đã thiếu đi cách nhìn khách quan và cách tiếp cận với
người nghèo, vùng nghèo dẫn đến hiệu quả giảm nghèo của chính sách xóa
đói giảm nghèo không cao. Đặc biệt là tỉnh Tuyên Quang tỉ lệ hộ nghèo đến
năm 2009 vẫn ở mức cao là 21,93% [18, 16]. Do vậy, tôi đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Vận dụng quan điểm toàn diện trong việc giải quyết xóa đói
giảm nghèo ở Tuyên Quang hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xóa đói giảm nghèo trở thành vấn đề được các quốc gia trên thế giới

nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
Tuyên Quang hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích
Làm rõ các nguyên nhân gây ra đói nghèo và thực trạng đói nghèo,công
tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Tuyên Quang hiện nay. Từ đó đưa ra những
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xoa s đói giảm nghèo ở tỉnh
Tuyên Quang.
* Nhiệm vụ
+ Làm sáng tỏ về mặt lí luận của quan điểm toàn diện trong triết học và
các quan niệm về đói nghèo.
8

+ Nghiên cứu thực trạng đói nghèo ở Tuyên Quang và tìm ra các
nguyên nhân dẫn tới thực trạng đói nghèo ở Tuyên Quang.
+ Từ đó vận dụng quan điểm toàn diện trong việc giải quyết xóa đói
giảm nghèo ở Tuyên Quang hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
Nghiên cứu về chương trình xóa đói giảm nghèo ở Tuyên Quang hiện
nay.
* Phạm vi
Nghiên cứu về chương trình xóa đói giảm nghèo ở Tuyên Quang giai
đoạn từ 2006-2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin. Phương pháp lôgic- lịch sử và các
phương pháp nghiên cứu khoa học khác: phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh.
6. Ý nghĩa đề tài

thay thế.
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện ngay trong triết học Cantơ và hoàn
thiện trong triết học Hêghen - một đại biểu suất sắc của triết học cổ điển Đức,
ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Tính chất duy tâm trong phép biện
chứng của Hêghen thể hiện ở chỗ: Ông coi “ ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành
giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về chính mình trong tinh thần. Thực
chất, phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen, của ý niệm sản sinh
ra biện chứng của sự vật. Phép biện chứng cổ điển Đức có những đóng góp to
lớn vào sự phát triển tư duy biện chứng của nhân loại, thúc đẩy tư duy biện
10

chứng lên một trình độ cao. Nhưng với những hạn chế duy tâm nó chưa trở
thành cơ sở lý luận cho thế giới quan khoa học.
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó.
Mác, Ăngghen đã tiếp thu có phê phán triết học Hêghen và chủ nghĩa duy vật
Phoiơbăc. Đối với Hêghen trong tác phẩm Bộ tư bản, Mác đã viết: “ Ở
Hêghen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là
sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lí của nó đằng sau cái vỏ thần bí của nó”
[4, 67-68].
Mác tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn. Do vậy, bản
chất phép biện chứng của Mác cao hơn về chất so với phép biện chứng của
Hêghen, ông nói: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác
phương pháp biện chứng của Hêghen về căn bản, mà còn đối lập hẳn với
phương pháp biện chứng ấy nữa”.[14, 96]. Theo Hêghen, thì sự vận động của
tư duy mà ông đặt cho cái tên là ý niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập,
chính chúa sáng tạo ra giới hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là
hiện tượng bên ngoài của ý niệm mà thôi. Trái lại, theo Mác thì sự vận động
của tư duy chỉ là sự phản ánh sự vận động hiện thực, di chuyển và biến hình
trong đầu óc con người. Nhờ đó mà chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn là tính
phê phán đối với mọi quan niệm sai lầm, những quan điểm siêu hình, chủ

Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được đặt ra là:
Các sự vât, hiện tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua
lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau?
Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó?
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho
rằng: các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên
cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và chuyển
12

hóa lẫn nhau; nếu có chỉ là những liên hệ có tính ngẫu nhiên, bề ngoài. Hạn
chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giới quan triết học, dựng lên
ranh giới giả tạo giữa các sự vật, hiện tượng. Hạn chế này có nguồn gốc bởi
phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng
rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đoạn sưu tập tài
liệu. Phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra được cái chung, cái bản
chất, quy luật của sự tồn tại vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng
trong thế giới.
Đối lập với quan điểm siêu hình, những người theo quan điểm biện
chứng lại cho rằng: Các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn
tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Thế giới như
một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự vật, hiện tượng tồn tại trong mối liên
hệ phổ biến.
Để trả lời cho câu hỏi thứ hai, những người theo quan điểm chủ nghĩa
duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng: cái quy định
mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực
lượng tinh thần siêu tự nhiên hoặc cảm giác, ý thức của con người. Đứng trên
quan điểm duy tâm chủ quan, Beccơli cho rằng: Cảm giác là nền tảng mối
liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Hêghen xuất phát từ lập trường duy tâm
khách quan, lại cho rằng: “Ý niệm tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa
các sự vật, hiện tượng.

rẽ, cụ thể được các nhà khoa học nghiên cứu. Phép biện chứng duy vật nghiên
cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới. Bởi thế
Ăngghen viết: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài
người và của tư duy”. [14, 181]. Cùng với lí do trên, triết học gọi mối liên hệ
14

đó là mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các mối
liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới còn thấy rõ tính đa dạng
phong phú, nhiều vẻ của nó.
- Tính đa dạng: có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng thành từng
loại tùy theo tính chất: đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, độ nông
hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp. Mà có thể khái quát thành những mối
liên hệ khác nhau tùy theo từng cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên
ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và
mối liên hệ không bản chất. Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận
động và phát triển của bản thân các sự vật hiện tượng quy định tính đa dạng
của các mối liên hệ. Các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới,
được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng:
+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng.
+ Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết qủa.
+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng.
+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức.
+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực.
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận
động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự
quy định, chuyển hóa lẫn nhau, giữa các yếu tố, các thuộc tính của các mặt sự
vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. các mối
liên hệ khác nhau cũng có mối quan hệ biện chứng như mối liên hệ biện

Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật
trong mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và
trong tác động giữa sự vật đó với các sự vật khác. Cần tránh quan điểm phiến
16

diện, chỉ xem xét sư vật, hiện tượng ở một hoặc một vài mối liên hệ mà đã vội
vàng đi đến những kết luận về bản chất sự vật. Như Lênin từng nói: muốn
thực sự hiểu được sự vật cần hiểu bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả
các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó. Chỉ trên cơ sở đó mới nhận
thức đúng về sự vật.
Thứ hai, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối
liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên…Để hiểu rõ bản chất của sự vật và có
phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt
động của bản thân. Chúng ta phải xem xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên
hệ của sự vật để khái quát và làm nổi bật cái cơ bản nhất, quan trọng nhất của
sự vật, hiện tượng đó. Song, trong nhận thức và hoạt động, chúng ta cần chú ý
sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định.
Trong quan hệ giữa con người với con người chúng ta phải biết cách ứng xử
sao cho phù hợp với từng người.
Thứ ba, quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào những sai lầm
của chủ nghĩa triết trung và thuật ngụy biện. Thực chất chủ nghĩa triết trung là
sự kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ tạo nên một hình ảnh không đúng về
sự vật. Do vậy, trong hoạt động thực tiễn, theo quan điểm toàn diện khi tác
động vào sự vật chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ của
sự vật ấy với các sự vật khác. Ví dụ: Để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” một mặt chúng ta phải biết phát
huy nội lực, mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, nhất là xu thế toàn cầu hóa
đem lại.
Tóm lại, qua tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy

trường cụ thể trong đó sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại và phát triển. Một
18

luận điểm nào đó trong điều kiện này là luận điểm khoa học nhưng sẽ không
phải luận điểm khoa học trong điều kiện khác. Trong lịch sử triết học khi xem
xét các hệ thống triết học bao giờ ta cũng phải xem xét hoàn cảnh ra đời và
sự phát triển của các hệ thống đó.
Để xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của
từng thời kì xây dựng đất nước bao giờ Đảng ta cũng phải phân tích tình hình
cụ thể của đất nước cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai
đoạn và từng thời kì đó. Dĩ nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ trương
Đảng ta cũng luôn bổ sung và điều chỉnh kịp thời để phù hợp với diễn biến
của hoàn cảnh cụ thể.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể có những đòi hỏi mang tính tổng hợp. Quán
triệt nguyên tắc này trong quá trình vận dụng phương pháp tư duy sẽ đưa
nhận thức của con người tới chân lí. Một khi xa rời những điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể thì chân lí sẽ trở thành sai lầm.
Tóm lại, qua tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và nguyên tắc lịch sử- cụ thể. Đây là
những nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt
động nhận thức và thực tiễn.
1.2. Các quan niệm về nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay và
khái quát chương trình xóa đói giảm nghèo ở Tuyên Quang hiện nay
1.2.1. Các quan niệm về đói nghèo trên thế giới và ở Viêt Nam hiện
nay
* Các quan niệm đói nghèo trên thế giới
Thông thường các nước sử dụng thước đo mức độ nghèo đói, dựa vào
tiêu chí tính trên đầu người để tính toán người nghèo. Tổng cục thống kê và
ngân hàng thế giới đã dựa trên những tính toán từ cuộc điều tra mức sống dân
cư năm 1993 và năm 1998 ở Việt Nam và được chia thành hai ngưỡng nghèo:


phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và thay đỏi theo thời gian,
không gian.
* Các quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vấn đề đói nghèo,
người coi đây là một trong những động lực, điều kiện thiết yếu để xây dựng
và phát huy sức mạnh toàn dân. Hồ Chí Minh quan niệm: Xóa đói giảm nghèo
là làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì
giàu thêm. Vậy là, mọi thành viên trong xã hội không ngừng phấn đấu vươn
lên vượt qua cửa ải đói nghèo, người quan niệm xã hội mà chúng ta xây dựng
là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nó xa lạ với
đói nghèo, bần cùng, lạc hậu, là xã hội giàu về kinh tế, lành mạnh về văn hóa-
xã hội. Quan niệm này hàm chứa ý nghĩa to lớn trong việc giải phóng sức sản
xuất, hướng đến phát triển toàn diện con người. Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng
gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức, bóc lột, lại kinh qua nhiều
năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái cần
cù. Từ ngày có Đảng nhân dân ta đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng ta cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm
không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. [15, 511].
Theo chuyên nghành Kinh tế học, khái niệm đói nghèo được hiểu là:
Nghèo là một tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập thiếu
do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản của cuộc sống
hàng ngày, thiếu tài sản tiêu dùng lúc bất trắc sảy ra và dễ bị tổn thương trước
những mất mát.
Theo từ điển tiếng việt, khái niệm xóa đói giảm nghèo là: “Xóa đói
giảm nghèo là xóa bỏ tình trạng đói kém và giảm dần sự nghèo nàn, lạc hậu”.
[25, 1.469].
21


vững. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỉ lệ đói nghèo (bao gồm cả thiếu lương
thực) mà đa số phân bố ở các xã thuộc chương trình 135 (xã nghèo).
Đầu những thập niên 1990 Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ.
Ngay đầu năm 1991 vấn đề xóa đói giảm nghèo đã được đề cập ở các diễn
đàn, các nghiên cứu và triển khai thành phong trào xóa đói giảm nghèo. Tổng
bí thư Đỗ Mười khi đó rất quan tâm đến chương trình này, ông lo lắng những
thế hệ mai sau bị ảnh hưởng do đói nghèo hôm nay.
Nghị quyết quốc hội Việt Nam về nhiệm vụ năm 1993 đã đánh giá cao
tinh thần cao tinh thần cộng đồng, tương thân, tương ái “trong nhân dân đã
phát triển nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ nhau và phong trào xóa đói giảm
nghèo, đền ơn đáp nghĩa”… sáng kiến của thủ tướng chính phủ được mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lấy ngày 17 tháng 10 là “ngày vì người nghèo” đó cũng là
ngày Liên Hợp Quốc chọn là ngày “thế giới chống đói nghèo”.
Ngày 21 tháng 5 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “chiến
lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”. Đây là chiến lược đầy
đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) của Liên
Hợp Quốc công bố. Trong quá trình xây dựng chiến lược có sự tham gia của
các chuyên gia quốc tế tại Việt Nam như: UNDP, WB… tổng hợp thành các
mục tiêu phát triển tại Việt Nam. Vấn đề là cụ thể hóa chiến lược bằng các
chương trình, dự án được triển khai, được giám sát và đánh giá thường xuyên.
Các nghiên cứu đã lập được bản đồ phân bố đói nghèo đến từng xã, từng hộ
gia đình, Việt Nam đã vào tuyên bố thiên niên kỷ với 8 mục tiêu:
- Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói.
- Đạt phổ cập giáo dục tiểu học.
- Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ.
23

- giảm tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh.
- Tăng cường sức khỏe bà mẹ.

- Thu nhập của nhóm nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005.
- Các xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng, thiết yếu.
- 6 triệu lượt hộ nghèo được vay tín dụng ưu đãi.
- 4,2 triệu lượt hộ nghèo tập huấn về khuyến nông - lâm - ngư.
- 1,5 triệu người được miễn giảm phí học nghề.
- 15 triệu người được khám chữa bệnh miễn phí khi đau ốm.
- 19 triệu lượt hộ nghèo được miễn giảm học phí, tiền xây dựng trường.
- 500 nghìn hộ gia đình nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm.
Trong cuộc họp giữa Bộ lao động, Thương binh và xã hội với Ủy ban
dân tộc giải phóng, chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố
quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chương tình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo giai đoạn 2 (2006-2010). Bộ lao động, Thương binh và xã hội cho biết:
+ Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1
(2001-2005) và năm 2006 đã có 4.354 triệu lượt hộ vay tín dụng ưu đãi,
51.136 hộ được hỗ trợ sản suất, trên 2 triệu hộ được hướng dẫn cách làm ăn…
Để thực hiện giai đoạn 2 (2006-2010) chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tổng nguồn vốn cho giảm nghèo
khoảng 43.488 tỉ đồng.
+ Mục tiêu của giai đoạn 2 (2006-2010) là đẩy nhanh tốc độ giảm
nghèo, hạn chế tái nghèo; củng cố thành quả giảm nghèo, tạo cơ hội cho hộ
nghèo đã thoát nghèo vươn lên khá giả.
Bộ trưởng chủ nhiệm Ủy ban dân tộc Kson Phước cho biết: Tổng
nguồn vốn cho chương trình 135 giai đoạn 2 vừa được Chính phủ phê duyệt là
khoảng 16.000 tỷ đồng. Ông Jonh Hendra trưởng đại diện UNDP tại Việt
25

Nam cũng cho biết: Thông qua UNDP các tổ chức nước ngoài sẽ hỗ trợ
khoảng 300 triệu USD cho giai đoạn 2 của chương trình 135.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta cực kỳ quan tâm tới chương trình xóa
đói giảm nghèo và coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status