Lời nói đầu
Năm 1986 trở về trớc nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ,
mang tính tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Mặt khác do những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ
nghĩa. Nền kinh tế nớc ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng trầm trọng kéo dài,
mức sống nhân dân thấp.
Đứng trớc bối cảnh đó con đờng đúng đắn duy nhất để đổi mới đất nớc
là đổi mới kinh tế. Từ 1986 , vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa duy
vật biện chứng Mác Lênin và nhận thức rõ về thực trạng đất nớc Đảng ta đã có
những chủ chơng đúng đắn thể hiện trong các văn kiện đại hội Đảng từ đại hội
Đảng VI đến đại hội Đảng IX làm kim chỉ nam cho sự nghiệp giải phóng xã
hội, phát triển con ngời xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nớc ta.
Đờng lối đó đợc thực hiện mời sáu năm đổi mới đã đem lại những thành
tựu đáng khích lệ chứng tỏ đờng lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc là hoàn
toàn đúng đắn. Nhng phía sau những thành tựu đó còn không ít những khó
khăn nổi cộm. Do đó cần nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện những quan điểm,
biện pháp để nền kinh tế nớc ta phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa và
giữ vững định hớng đó. Vì vậy em chọn đề tài: Vận dụng quan điểm toàn
diện trong vấn đề thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt
Nam hiện nay. Làm tiểu luận triết học cho mình.
Chơng I
1
phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu của quan điểm
toàn diện
I. phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu của quan điểm toàn diện
1.1 Thế giới vật chất đợc tạo thành từ những sự vật, những hiện tợng, những
quá trình khác nhau. Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh h-
ởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập tách rời nhau? Nếu chúng tồn tại trong
sự liên hệ qua lại, thì nhân tố gì quy định sự liên hệ đó?
Những ngời theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật và hiện tợng
hoặc một lĩnh vực nào đó của thế giới. Có mối liên hệ về thời gian trong quá
trình lịch sử của sự vật, hiện tợng Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa
dạng trong sự tồn tại, vận động và phát triển của chính sự vật và hiện tợng quy
định.
Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động,
phát triển của sự vật, hiện tợng. Chẳng hạn: sự vật, hiện tợng nào cũng có mối
liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, nhng vai trò của chúng đối với sự
vận động và phát triển của sự vật hiện tợng là khác nhau. Mối liên hệ bên
trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, còn mối liên hệ bên ngoài không có
ý nghĩa quyết định, vả lại nó phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát
huy tác dụng đối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tợng.
Dĩ nhiên sự phân loại các mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tơng đối. Các loại
liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá nh vậy có thể
diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát qua xem xét, hoặc do kết quả vận
động khách quan của chính sự vật, hiện tợng. Chẳng hạn cái là ngẫu nhiên khi
xem xét trong mối quan hệ này nhng lại là tất nhiên khi xem xét trong mối
quan hệ khác; vả lại trong quá trình vận động, mối liên hệ ngẫu nhiên có thể
chuyển hoá thành tất nhiên và ngợc lại.
3
Nh vậy sự tác động qua lại, liên hệ của sự vật, hiện tợng trên thế giới
không những là vô cùng, vô tận mà còn rất phong phú đa dạng và phức tạp.
Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tính phức tạp của sự liên hệ đợc nhận
lên do sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt của vô vàn các hoạt động có mục
đích, có ý thức của con ngời. Chính vì vậy mà quá trình nhận thức và phân loại
sát, đúng các mối liên hệ trong xã hội trở nên khó khăn hơn nhiều so với trong
tự nhiên.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ bíên là một trong những cơ sở, nền tảng
của phép biện chứng duy vật. Đồng thời, nó cũng là cơ sở lý luận của quan
điểm toàn diện một quan điểm mang tính phơng pháp luận khoa học trong
nhận thức và thực tiễn.
Chẳng hạn xã hội học trớc khi triết học Mác xuất hiện mới chỉ dừng lại
ở sự mô tả các mối liên hệ đa dạng, phong phú mà cha xác định đợc vị trí, vai
trò của chúng hoặc đánh giá sai vị trí vai trò của chúng nên cha thể đợc coi là
một khoa học. Trong cuộc sống thực tiễn chúng ta phải tìm nguyên nhân một
hiện tợng, một vụ việc nào đó, Nếu chỉ dừng lại ở việc liệt kê một loạt các
nguyên nhân mà cha phân loại đợc, cha xác định đợc nguyên nhân nào là cơ
bản, chủ yếu, bên trong, bêm ngoài, khách quan, chủ quan thì nhận thức còn
rất hạn chế và thực tiễn sẽ gặp nhiều khó khăn.
1.1.3: Phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, trong tính
nhiều mặt và sự tác động qua lại quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau của
chúng.Sự vật trong thực tế tồn tại với t cách nh một chỉnh thể. Nó không phải
là tổng số đơn giản các mối liên hệ ( mối liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật
khác, mối liên hệ giữa các mặt của sự vật, các yếu tố cấu thành sự vật), mà là
tổng số các mối quan hệ hữu cơ, có sự tác động qua lại, quy định, chi phối lẫn
nhau. Có nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể thỉ mới nhận thức đợc bản chất
của sự vật.
5
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, chủ nghĩa chiết
trung và thuật ngụy biện.
ảnh hởng lối t duy của ngời sản xuất nhỏ, chúng ta hay mắc phải bệnh
phiến diện trong nhận thức và thực tiễn: chỉ thấy mặt này, mối liên hệ này mà
không thấy mặt khác, mối liên hệ khác; làm việc nọ, bỏ việc kia; nhận thức sự
vật trong trạng thái cô lập, giải quyết công việc không đảm bảo tính đồng bộ.
Một biểu hiện của bệnh phiến diện nữa là xem xét và giải quyết công việc một
cách dàn đều, bình quân, không thấy đợc vị trí, vai trò khác nhau của các mối
liên hệ, không xác định đợc trọng tâm, trọng điểm trong hoạt động.
Quan điểm toàn diện cũng hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa chiết trung và
thuật nguỵ bịên. Thực chất của chủ nghĩa chiết trung là kết hợp một cách vô
nguyên tắc, chủ quan những mối liên hệ với nhau, coi những mối liên hệ là
ngang bằng nhau hoặc kết hợp những cái mà về khách quan không thể kết hợp
của công nghiệp hoá rất thấp và trên nhiều lĩnh vực thậm chí không có hiệu
quả ; cùng tình hình đó , nông nghiệp và công nghiệp nhẹ hầu nh không có sự
phát triển , nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân không đáp ứng , đời
sống ngời lao động quá khó khăn. Nghiêm trọng hơn , nền kinh tế nớc ta đã
lâm vào tình trạng thiếu hụt mất cân đối một cách căn bản , chúng ta hầu nh
không có tích lũy và rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài.
7
Có thể nói chúng ta đã phải trả một giá đắt cho công nghiệp hoá
XHCN kiểu đó.Việc giờ dâu của chúng ta là phải từ bỏ một quan niệm không
đúng , thậm chí có thể nói là sai lầm , về CNH và cách thức tiến hành CNH
theo lối cũ , kém hiệu quả hoàn toàn không có nghĩa là phủ nhận tính tất yếu
khách quan của công nghiệp hoá .
Cả lý luận và thực tiễn dều chỉ ra rằng tiến trình phát triển đầy khó
khăn,thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái kinh tế hiện đại
không thể không tiến hành CNH và cùng với CNH là HĐH.CNH phải gằn liền
với HĐH.CNH-HĐH thời đại ngày nay phải lấy giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ làm nền tảng và động lực . Hơn một trăm năm trớc đây , C.Mác
đã từng nói: Theo đà phát triển của đại công nghiệp , việc tạo ra của cải thực
sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào số lợng lao động và vào
số lợng lao động đã hao phí hơn là những tác nhân đợc đa vào vận động trong
suốt thời gian lao động và bản thân những tác nhân đến lợt mình (hiệu suất to
lớn của chúng) , lại tuyệt đối không tơng ứng với thời gian lao động trực tiếp
cần thiết để sản xuất ra chúng mà nói đúng hơn , chúng phụ thuộc vào trình độ
chung của khoa học và vào bớc tiến bộ của khoa học , hay là vào việc sử dụng
khoa học ấy vào sản xuất...Đến một trình độ nào đó , tri thức xã hội phổ biến
biến thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Nhận định dó của Mác ngày càng dợc
thực tiễn phát triển khoa học và công nghệ xác nhận là đúng .
Nhận thức rõ sự gắn kết giữa CNH-HĐH , tại hội nghị lần thứ bảy Ban
chấp hành Trung ơng khoá VII Đảng ta đã khẳng định : CNH-HĐH là quá
trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất , kinh doanh,