A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết nước ta là một nước có xuất phát điểm là nông nghiệp có tới 70% dân cư sống
bằng sản xuất nông nghiệp, chính vì vậy vấn đề phát triển nông nghiệp và đằng sau nó là vấn đề nông thôn là
niềm trăn trở thường xuyên của Đảng, Nhà nước và các cấp lãnh đạo của ta. Tư tưởng của Đảng về nông
nghiệp thể hiện rất rõ trong việc xác định vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam và những giải
pháp để phát triển nông nghiệp.
Trong tư tưởng của Đảng nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh
tế cũng như trong việc nâng cao đời sống người dân Việt Nam. Theo như chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ Việt
Nam là một nước sống bằng nông nghiệp. Nền kinh tế nước ta lấy công nông làm gốc. Trong công cuộc xây
dựng Nhà nước, Chính phủ trông mong vào nhân dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta
giàu thì nước ta giàu, nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh”. Và “… nước ta muốn phát triển công nghiệp, phát
triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”.
Khi xác định được tầm quan trọng này của nông nghiệp, em quyết định chọn đề tài “Quan điểm toàn
diện trong vấn đề phát triển nền nông nghiệp Việt Nam”. Để mong có thể tìm hiểu thêm về việc phát triển
nền kinh tế nông nghiệp nước nhà.
Do những hạn chế về thời gian và tài liệu thu thập nên không tránh khỏi những thiếu sót trong quá
trình làm bài. Nhưng được sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, em xin cố gắng hết sức để
hoàn thành bài tiểu luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
B. NỘI DUNG
Chương I
QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN LÀ MỘT TRONG NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, NÓ ĐÒI HỎI CHÚNG TA PHẢI NHẬN THỨC
VỀ SỰ VẬT TRONG MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
Phép biện chứng duy vật được xác định trên cơ sở một hệ thống những nguyên lí, những phạm trù cơ
bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực. Trong hệ thống đó nguyên lí về mối quan hệ phổ
biến và nguyên lí về sự phát triển là hai nguyên lí khái quát nhất. Vì thế Pb.Anghen đã định nghĩa: “Phép biện
chứng chẳng qua là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của
xã hội loài người và của tư duy”.
1.1. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và các tính chất của mối liên
hệ
hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.
Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều kiện nhất định.
Song dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến, chung nhất. Những hình
thức liên hệ riêng rẽ, cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu. Phép biện chứng duy vật chỉ nghiên cứu
những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới. Bởi thế, Pb.Anghen viết: “Biện chứng là khoa học
về sự liên hệ phổ biến”. Cũng với những lí do đó triết học gọi mối liên hệ đó là mối liên hệ phổ biến.
1.2. Nguyên lí về sự phát triển và các tính chất của nó
1.2.1. Nguyên lí về sự phát triển
Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong một sự vật hay giữa các sự vật làm cho sự vận động và phát
triển. Sự tác động đó diễn ra trong hiện thực quyết định mối liên hệ hữu cơ giữa nguyên lí về mối liên hệ phổ
biến và nguyên lí về sự phát triển. Trên cơ sở khái quát về sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại
trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ
sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến kém hoàn thiện hơn của
sự vật.
1.2.2. Tính chất của sự phát triển
Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan bởi vì theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc
của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh
trong sự tồn tại và vận động của sự vật. Nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển. Vì thế sự phát triển là tiến trình
khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người. Dù con người có muốn
hay không muốn, sự vật vẫn luôn phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất.
Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh
vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan. Ngay cả các khái
niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong sự vận động và phát triển, hoặc đúng hơn mọi hình
thức của tư duy cũng luôn phát triển. Chỉ trên cơ sở của sự phát triển mọi hình thức tư duy, nhất là các khái
niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển.
Ngoài tính khách quan và tính phổ biến, sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú. Khuynh hướng
phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng. Song mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá
trình phát triển không giống nhau. Tồn tại ở không gian khác nhau, sự phát triển sẽ khác nhau. Đồng thời trong
quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác của rất nhiều yếu tố,
điều kiện. Sự tác động đó có thể thúc đẩy, kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều
ra các định hướng phát triển có tính chiến lược thì chúng ta cần phải điểm lại những thành tựu, hạn chế của
nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.
- Những thành tựu đáng kể đến sau 20 năm đổi mới của nền nông nghiệp Việt Nam
Cho đến nay đã có rất nhiều những tài liệu nghiên cứu đã đưa ra những thông tin xác đáng chứng minh
những thành tựu to lớn của nông nghiệp và nông thôn nước ta trong những năm đổi mới. Nhiều tổ chức quốc
tế, nhiều quốc gia và nhà kinh tế nước ngoài có uy tín khẳng định và ca ngợi thành tựu giải quyết vấn đề lương
thực, xóa đói giảm nghèo… của Việt Nam.
Có thể khái quát những thành tựu cơ bản của nông nghiệp, nông thôn trong những năm đổi mới như
sau:
-Tốc độ tăng trưởng nhanh giải quyết tương đối vấn đề lương thực
Lượng gạo xuất khẩu lớn và ổn định hơn một thập kỉ nay. Năm 1999 giá trị xuất khẩu gạo đạt trên 1 tỉ
USD, giá trị xuất khẩu nông sản đạt 3,25 tỉ USD. Năm 2000 xuất khẩu gạo đạt 4,5 triệu tấn, sản lượng
lương thực đạt 35,7 triệu tấn. Đến nay sau hơn 16 năm xuất khẩu gạo, nông nghiệp nước ta đã cung cấp cho
thị trường thế giới hàng chục triệu tấn gạo thu về cho đất nước khoảng 10 tỉ USD.
Trong quá trình đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có mức tăng trưởng khá, tương đối liên tục.
Với tốc độ gia tăng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng của nông nghiệp bao gồm nông lâm nghiệp và
thủy sản được thể hiện ở bảng.
Trong nông nghiệp trên cơ sở tăng trưởng sản lượng lương thực và tự do hóa lưu thông lương thực
nhiều sản phẩm nông nghiệp - nhất là sản phẩm cho xuất khẩu, đạt được tăng trưởng khá cao. Sau khi thực
hiện khoán theo chỉ thị 100 của ban bí thư TW Đảng ( ngày 13/1/1981), sản lượng lương thực đã đạt mức tăng
trưởng cao. Sau đó nhờ bước đổi mới toàn diện sản lượng lương thực tăng trưởng liên tục. Nhờ tốc độ tăng
sản lượng lương thực cao và tỉ suất tăng dân số được hạ thấp dần nên sản lượng lương thực ở nước ta theo đầu
người tăng lên liên tục. Nếu như năm 1980, bình quân lương thực ở mức 267kg/ người thì bình quân năm
1981-1985 đã đạt 295kg/người. Sản lượng lương thực tăng tạo ra lượng gạo lớn cho xuất khẩu, đồng thời có
cơ sở kinh tế quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng các sản phẩm khác trong nông nghiệp. Đến nay ngành xuất
khẩu gạo đạt khoảng 10 tỷ USD (tính từ 1989 đến nay), Việt Nam là một trong những quốc gia có sản lượng
xuất khẩu lớn hàng nông sản các sản phẩm như cà phê, hồ tiêu, hạt điều, thủy sản, chè…