LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thảo
Sinh viên lớp K34 GDTC – GDQP, trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, chưa được bảo vệ trước
Hội đồng khoa học nào. Toàn bộ các vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu, đều
mang tính thời sự, cấp thiết đúng với thực tế khách quan ở trường THPT Kim
Anh – Sóc Sơn – Hà Nội.
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo
DANH MỤC VIẾT TẮT
GDTC
: Giáo dục thể chất
TDTT
: Thể dục thể thao
THPT
: Trung học phổ thông
XPC
: Xuất phát cao
: Giáo viên
STT
: Số thứ tự.
TN
: Thực nghiệm
ĐC
: Đối chứng
TTN
: Trước thực nghiệm
STN
: Sau thực nghiệm
TĐ
: Thời điểm
(s)
: Giây
Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT
Kim Anh
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và
học tập môn GDTC
Bài tập phát triển sức nhanh trong chạy 100m đang
được trường THPT Kim Anh áp dụng
Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nam đội tuyển
điền kinh trường THPT Kim Anh năm học 2008 2009
Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nam đội tuyển
điền kinh trường THPT Kim Anh năm học 2009 2010
Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển phát
triển sức nhanh (n=20)
Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức
nhanh (n=20)
Kết quả các test kiểm tra trước thực nghiệm của 2
nhóm (nA = nB =8)
Tiến trình thực nghiệm
Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm
(nA = nB = 8)
Biểu diễn kết quả chạy 30m TĐC trước và sau thực
nghiệm của 2 nhóm
Biểu diễn kết quả của chạy 60m XPT trước và sau
thực nghiệm 2 nhóm
Biểu diễn kết quả nâng cao đùi tại chỗ 15 giây trước
và sau thực nghiệm của 2 nhóm
Biểu diễn kết quả chạy 100m trước thực nghiệm và
sau thực nghiệm của 2 nhóm
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội ngày nay, khi chất lượng cuộc sống đã và đang từng bước
được nâng cao, thì nhu cầu về sức khỏe nói chung và tập luyện thể dục thể
thao (TDTT) nói riêng càng được quan tâm nhiều hơn. TDTT là một công cụ
để nâng cao sức khỏe, tạo điều kiện cho người lao động phát triển một cách
toàn diện. Bác Hồ cũng đã nói: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể
tráng kiện” [6], muốn phát triển trí óc thì trước hết con người phải khỏe
mạnh. Và cũng vì lí do: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống
mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân
yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước
mạnh khỏe. Vậy nên tập luyện thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của
mỗi người dân yêu nước” [6].
Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng khẳng định mục tiêu của
Giáo dục và Đào tạo là nhằm tạo ra một lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [7].
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sức khỏe và thể chất cho những người
lao động mới, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngoài ra, thể thao còn là phương tiện để giao lưu văn hóa, thắt chặt
thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới, củng cố và tăng cường sự
hợp tác, giao lưu văn hóa và phát triển của mỗi quốc gia. Trong mỗi thời kì
Đại hội TDTT của khu vực và quốc tế, tinh thần thể thao cũng góp phần đem
lại sự gắn kết giữa các dân tộc và hòa bình cho các quốc gia. Vị trí thứ 3 trong
khu vực với những tấm huy chương vàng của Vũ Thị Hương (100m, 200m tại
Seagame 2007) và gần đây nhất là tấm huy chương bạc của Hoàng Anh Tuấn
(môn cử tạ) tại Olympic Bắc Kinh 2008. Đó là những bằng chứng thuyết phục
2
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tác dụng của thể dục thể thao
Tác dụng nổi bật và chuyên biệt của TDTT thể hiện ở sự phát triển các
tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự mềm dẻo khéo léo) và bồi
dưỡng kĩ năng, kĩ xảo khác trong lao động, quân sự và sinh hoạt sau này.
Người tập TDTT thường có thân hình cân đối, nở nang, cơ bắp phát
triển khỏe mạnh. Tập luyện TDTT thường xuyên sẽ tránh được các bệnh về
tim mạch. Người tập thường xuyên thì tim sẽ khỏe hơn và to hơn bình
thường. Theo những tài liệu của tổ chức Y tế thế giới trong 65 năm trở lại đây
số người mắc bệnh tâm thần tăng 24 lần, nhồi máu cơ tim tăng 60 lần ở tuổi
35 - 44. Đó là 2 bệnh có liên quan nhiều với tình trạng thiếu vận động và ảnh
hưởng bởi mặt trái của nền văn minh hiện đại.
Thể chất tốt là một trong những điều kiện để học tập, lao động đạt hiệu
quả cao hơn. Có công trình nghiên cứu đã tính được rằng: Người khỏe thì học
kĩ năng lao động nhanh và dễ hơn người bình thường khoảng 2 - 5%, hồi phục
sau lao động cũng nhanh hơn.
Khoa học kĩ thuật càng hiện đại (cơ giới hóa, tự động hóa sản xuất…)
thì hiện tượng đói vận động ngày càng phát triển, TDTT giúp con người khắc
phục sự mất cân bằng đó làm cho tinh thần thêm tinh nhạy, chính xác trong
suy nghĩ và điều chỉnh máy móc.
Những ngày Hội thể thao hấp dẫn như Olympic được truyền thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng, tình
cảm của hàng tỷ người trên hành tinh. Qua đó, cũng giáo dục con người biết
thưởng thức cái đẹp của thể thao, không chỉ về hình thể, trang phục, phương
tiện mà còn cả sự hoàn thiện các tố chất thể lực. Những trận thi đấu ở trình độ
cao và sôi nổi càng dễ tạo ra những giá trị chân chính về cái đẹp của thể thao.
và tạo điều kiện cho học sinh được tập TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi
5
và điều kiện từng nơi. GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục
tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa”[4].
1.3. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THPT
1.3.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là người lớn, đòi hỏi sự tôn trọng từ
mọi người xung quanh. Các em có nhu cầu cao về hoạt động ngoại khoá, chủ
động tìm hiểu cuộc sống xung quanh, có nhiều hoài bão, ước mơ.
Ở lứa tuổi này do quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế nên
các em tiếp thu cái mới một cách nhanh chóng nhưng chóng chán, mau quên,
các em dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh.
Về hứng thú: các em đã có thái độ tự giác, tích cực trong học tập xuất
phát từ động cơ học tập đúng đắn và thái độ lựa chọn nghề nghiệp sau này.
Song hứng thú học tập do nhiều động cơ khác nhau, đua với bạn bè, tự ái,
hiếu danh… cho nên khi giảng dạy giáo viên cần giúp cho các em xây dựng
động cơ đúng đắn để các em có hứng thú học tập các môn học nói chung và
môn GDTC nói riêng.
Về tình cảm: các em đã bộc lộ rõ về tình cảm của bản thân với mái
trường mình gắn bó, với thầy cô giáo đã dạy các em. Vì vậy, việc giáo viên
gây được thiện cảm và sự tôn trọng của các em là một trong những thành
công giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong giảng dạy, thúc đẩy các em tự
giác, tích cực trong học tập.
Về trí nhớ: các em ở lứa tuổi này hầu như khômg tồn tại việc ghi nhớ
máy móc, do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic chặt
Hệ thần kinh: đến độ tuổi này sự phát triển về hình thể và khối lượng
đã phát triển xong. Kích thước não và hành tuỷ đạt tới mức của người trưởng
thành. Hoạt động phân tích, tổng hợp của võ não tăng lên, tư duy trừu tượng
đã hình thành, tạo điều kiện cho việc hình thành phản xạ có điều kiện, kĩ
năng, kĩ xảo vận động.
7
Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh mẽ của tuyến hoocmôn làm cho tính
hưng phấn mạnh hơn ức chế gây ảnh hưởng lớn tới hoạt động TDTT.
1.4. Nội dung và các giai đoạn huấn luyện điền kinh
1.4.1. Nội dung huấn luyện điền kinh
Nội dung huấn luyện thể thao nói chung hay Điền kinh nói riêng là quá
trình huấn luyện về các mặt: Thể lực, kĩ - chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lí và
lí luận. Tất cả các mặt này đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và tạo
thành một quá trình thống nhất của việc hoàn thiện thể thao cho VĐV điền
kinh. Qua trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương tiện,
phương pháp huấn luyện chung, huấn luyện chuyên môn và các hình thức
khác nhau của LVĐ trong tập luyện và thi đấu.
1.4.2. Các giai đoạn huấn luyện điền kinh
Trong quá trình huấn luyện điền kinh nói chung và huấn luyện chạy cự
ly ngắn nói riêng đều có 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn huấn luyện ban đầu.
+ Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
+ Giai đoạn chuyên môn hóa sâu.
+ Giai đoạn hoàn thiện thể thao.
Mỗi giai đoạn đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ riêng đáp ứng với
nhu cầu và mục đích huấn luyện VĐV.
* Giai đoạn huấn luyện ban đầu
giới hạn cường độ của LVĐ vì lúc này là lúc cơ thể các em đang phát triển.
* Giai đoạn chuyên môn hóa sâu
Đặc điểm của giai đoạn này là tính chuyên môn hóa được thể hiện rõ
hơn. Tỉ trọng huấn luyện chuyên môn về thể lực, kĩ thuật, tâm lí được tăng lên
đáng kể. Khối lượng và cường độ của các phương tiện huấn luyện chủ yếu
tăng nhiều so với giai đoạn trước. Với mục đích hoàn thiện trình độ huấn
luyện về thể lực, kĩ thuật của VĐV chạy ngắn, vẫn nên đa dạng hóa các
9
phương tiện huấn luyện với tỉ trọng thích hợp, đa dạng hóa điều kiện thực
hiện chúng và vị trí tiến hành tập luyện. Đây là giai đoạn VĐV tập luyện thể
thao tích cực nhất đồng thời bộc lộ khả năng thể thao và đạt trình độ điêu
luyện về thể thao. Trong quá trình tập luyện thể hiện rõ đặc điểm của chuyên
môn hóa sâu như: thể lực, kĩ thuật, chiến thuật, tâm lí cũng như được nâng lên
đáng kể nhờ tăng khối lượng đào tạo chung và cả khối lượng các bài tập đào
tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu. Tổng khối lượng và cường độ
tăng nhiều hơn so với giai đoạn trước, khối lượng các cuộc kiểm tra thi đấu
cũng tăng lên rõ rệt và trở thành nội dung không thể thiếu được trong kế
hoạch huấn luyện. Hệ thống tập luyện và thi đấu ngày càng trở nên cá biệt
hóa, đào tạo thể thao phần lớn gắn liền với thành tích thể thao. Do đó, đòi hỏi
VĐV phải dành nhiều thời gian và công sức, dồn nhiều tâm trí để tập luyện và
thực hiện chế độ sinh họat phù hợp, có kế hoạch để đạt được thành tích cao
nhất.
* Giai đoạn hoàn thiện thể thao
Ở giai đoạn này LVĐ trong huấn luyện tương ứng với thi đấu càng lớn
và việc tuân thủ theo nguyên tắc thích hợp càng nghiêm ngặt thì thành tích
càng cao. Vì vậy, cần đặc biệt thận trọng đến mối quan hệ giữa khối lượng và
cường độ của LVĐ trong huấn luyện.
một điều kiện nhất định. Người ta phân biệt ba hình thức biểu hiện sức nhanh
như sau:
+ Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động.
+ Tốc độ động tác.
+ Tần số động tác.
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau. Đặc
biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan
với tốc độ động tác. Những hình thức kể trên là thể hiện các năng lực tốc độ
khác nhau. Thí dụ, thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng
11
vận động, tốc độ động tác đơn và tần số bước chạy. Trong động tác có sự phối
hợp phức tạp thì tốc độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc
vào nhiều nhân tố khác nhau. Vì vậy, tốc độ động tác hoàn chỉnh chỉ biểu hiện
gián tiếp sức nhanh của con người. Cho nên, trong khi phân tích đánh giá sức
nhanh của con người phải căn cứ vào mức độ phát triển của từng hình thức
đơn giản của nó.
1.5.1. Đặc điểm sức nhanh
Sức nhanh là một tố chất thể lực để tiến hành các hành vi vận động
trong thời gian ngắn nhất trong các điều kiện quy định.
Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quyết định thành tích
trong nhiều môn thể thao có chu kì.
Trong các môn thể thao có chu kì, sức nhanh động tác cũng đặc biệt
quan trọng đối với toàn bộ hoặc đối với các tình huống từng phần trong các
môn chạy cư ly ngắn, cũng như trong giai đoạn tăng tốc và xuất phát trong
đua thuyền, đua ca nô và bơi.
Các tiền đề quan trọng cho sức nhanh là tính linh hoạt của các quá trình
thần kinh, sức nhanh - nhanh, khả năng kéo căng kéo giãn, tính đàn hồi và
yêu cầu cao trong huấn luyện. Trong đó, một điều kiện không thể thiếu được
là thông báo tốc độ đạt được bằng sự đo chính xác về thời gian. Điều này
được tiến hành tốt nhất trong huấn luyện thi đấu với đối phương.
Như vậy, sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình
thần kinh cơ và tốc độ co cơ. Cả hai nhóm mặc dù biến đổi dưới tác dụng của
tập luyện nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc
điểm di truyền do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít
hơn sức mạnh và sức bền.
1.5.2. Cơ sở sinh lý, sinh hóa của sức nhanh
Thời gian của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:
1. Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ.
13
2. Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương.
3. Truyền tín hiệu trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu ly tâm.
4. Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ.
5. Hưng phấn cơ và hoạt động đáp trả.
Trong đó, giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất. Những động tác
được thực hiện với tốc độ tối đa khác hẳn với động tác chậm về đặc điểm sinh
lý. Sự khác biệt cơ bản thể hiện rõ ở chỗ: Khi thự hiện với tốc độ tối đa thì
khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến hành thực hiện động tác sẽ gặp
khó khăn. Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác.
Trong các động tác rất nhanh và được thực hiện với tần số cao như
trong chạy cự li ngắn, cơ chỉ hoạt động tích cực ở những điểm cuối cùng của
biên độ động tác. Động năng được truyền cho một bộ phận nào đó của cơ thể,
sau đó bị triệt tiêu khi các cơ đối kháng tham gia hoạt động và truyền cho bộ
phận này một gia tốc theo hướng ngược lại. Trong động tác tốc độ lớn, hoạt
tính của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và
động đơn giản là tập lặp lại với các tín hiệu xuất hiện đột ngột như: tiếng còi,
tiếng súng, với những người mới tập phương pháp lặp lại nhanh chóng đem
lại kết quả tốt.
Trong trường hợp sức nhanh phản ứng giữ vai trò quan trọng người ta
phải sử dụng tới các phương pháp chuyên môn để hoàn thiện nó. Một trong số
phương pháp chuyên môn rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản
thường áp dụng trong thực tiễn là phương pháp phân tích. Bản chất của
phương pháp này là tách biệt việc hoàn thiện phản ứng với phần nâng cao tốc
độ của động tác tiếp theo.
Như vậy, bài tập sức nhanh phản ứng vận động đơn giản gồm 2 phần:
tập phản ứng trong điều kiện thuận lợi và tập tốc độ động tác theo phương
pháp cảm giác vận động do Gelerstein đề xuất năm 1958 để hoàn thiện phản
ứng vận động đơn giản. Phương pháp này dựa trên mối liên quan chặt chẽ
15
giữa sức nhanh phản ứng và năng lực phân biệt những khoảng thời gian ngắn.
Thông thường những người có khả năng cảm giác tốt với khoảng thời gian
ngắn thì sẽ có sức nhanh phản ứng cao.
1.6.2. Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp
Phản ứng vận động phức tạp thường gặp trong thể thao gồm có hai loại:
phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn. Phản ứng đối với vật
thể di động thường gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân,
phản ứng với các vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 - 1 giây. Bài tập phản
ứng đối với vật thể di động yêu cầu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ
vật thể tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự ly. Trò chơi vận động với bóng có tác
dụng rất tốt trong rèn luyện sức nhanh đối với vật thể di động. Trong khi tiến
hành giáo dục phản ứng vận động phức tạp cần phải đảm bảo nguyên tắc từ
đơn giản đến phức tạp và tiến hành theo cách tăng dần số lượng biến đổi tình
chạy 100m là tố chất sức mạnh.
Thông thường khi phát huy tốc độ cao nhất, con người phải khắc phục
lực cản bên ngoài khá lớn và tốc độ đạt được là nhờ vào sức mạnh cơ bắp.
Trong vùng trọng lượng vật thể lớn thì tốc độ sức mạnh của con người tăng
lên sẽ làm tốc độ động tác tăng lên và ngược lại. Nếu tập luyện làm tăng tốc
độ tối đa thì khả năng tốc độ tối đa và sức mạnh chỉ tăng trong vùng lực cản
bên ngoài nhỏ, còn nếu lực cản bên ngoài tương đối lớn thì thực tế sẽ không
ảnh hưởng nhiều đến tốc độ động tác. Chỉ có thể tăng đồng thời trị số tối đa
của lực và tốc độ mới làm cho tốc độ tăng lên trong toàn vùng lực cản bên
ngoài.
Như vậy, về nguyên tắc có thể tăng tốc độ trong một động tác nào đó
bằng một trong hai cách sau:
+ Tăng tốc độ tối đa.
+ Tăng sức mạnh tối đa.
Kinh nghiệm cho thấy, nâng cao tốc độ tối đa là việc làm khó khăn,
trong khi đó nâng cao sức mạnh đơn giản hơn nhiều. Vì vậy, trong thực tiễn
17
người ta sử dụng rộng rãi các bài tập sức mạnh để nâng cao tốc độ. Hiệu quả
của các bài tập sức mạnh càng cao khi lượng đối kháng tập luyện càng lớn.
Trong quá trình rèn luyện sức mạnh để nâng cao tốc độ cần giải quyết
hai nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Nâng cao sức mạnh tốc độ.
+ Rèn luyện khả năng phát huy sức mạnh lớn trong điều kiện vận động
nhanh.
Để rèn luyện khả năng nhanh chóng phát huy sức mạnh, trong trường
hợp này càng căng cơ tối đa được tạo lên bằng lượng đối kháng dưới mức
giới hạn và tốc độ lớn nhất. Trong rèn luyện sức mạnh tốc độ cần lưu ý rằng
+ Tiếp thu kĩ thuật ngay với tốc độ cực đại.
Mỗi cách đều có lợi thế và nhược điểm riêng của nó. Trong trường hợp
đầu, động tác thực hiện với tốc độ chậm và tốc độ cao tuy giống nhau về đặc
tính không gian, nhưng khác nhau về thông số sức mạnh tốc độ. Trong trường
hợp thứ 2, người tập không thể cùng một lúc thực hiện 2 ý muốn: đúng và
nhanh. Hơn nama, mức độ kĩ thuật của bài tập vượt quá sức tiếp thu với người
tập. Nhưng cuối cùng họ không tiếp thu kĩ thuật một cách chính xác.
Để khắc phục những nhược điểm nêu trên, trong huấn luyện kĩ thuật
bài tập tốc độ cần tuân thủ 2 nhiệm vụ sau:
+ Cần tiến hành dạy học động tác ở tốc độ xấp xỉ tối đa (9/10 sức). Để
cấu trúc sức mạnh tốc độ không khác biệt so với khi thực hiện với tốc độ tối
đa, đồng thời có thể kiểm tra kĩ thuật.
+ Cần biến đổi tốc độ thực hiện động tác từ thấp đến cực đại.
Bên cạnh tố chất sức mạnh tốc độ thì tố chất sức bền, khả năng phối
hợp vận động và khả năng khéo léo cũng ảnh hưởng rất lớn tới thành tích
chạy 100m.
Tố chất sức bền đảm bảo sự duy trì khả năng vận động trong thời gian
dài của người tập, tập luyện sức bền nhằm nâng cao các cấu trúc chức năng,
19
chức phận, nâng cao khả năng hấp thụ ôxi nên cơ thể sẽ duy trì được khả năng
hoạt động thể lực lâu dài với cường độ và công suất lớn trong quá trình nâng
cao thành tích chạy 100m.
Khả năng phối hợp vận động và khéo léo đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện. Khả năng phối hợp vận
động đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng của cơ thể tránh được các động tác
thừa, sự tiêu hao năng lượng không cần thiết. Mềm dẻo làm tăng biên độ tác
động, tăng khả năng thả lỏng tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi từ động
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Sử dụng phiếu điều tra nhằm tổng hợp các ý kiến và kinh nghiệm từ
thực tiễn giảng dạy và huấn luyện của giáo viên bằng phiếu hỏi, các câu hỏi ở
mức độ quan trọng của từng bài tập nhằm tìm ra các bài tập hợp lí để nâng
cao hiệu quả huấn luyện.
21
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận được khách thể, đối tượng
nghiên cứu, mục đích bao quát toàn diện những ưu nhược điểm của đối tượng
nghiên cứu. Đánh giá được sự tiếp thu LVĐ, kinh nghiệm phối hợp vận động.
Qua đó xây dựng được sự phù hợp của các bài tập và nâng cao được độ tin
cậy của đề tài.
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Đề tài sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm cả hai giai đoạn TTN và
STN dưới dạng các test nhằm đánh giá sự phát triển sức nhanh trong chạy
100m cho đối tượng nghiên cứu và mức độ hiệu quả bài tập.
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Là phương pháp nghiên cứu mà người ta đưa nhân tố mới vào, xác định
hiệu quả của chúng trước những nhân tố khác.
Bằng phương pháp này chúng tôi có cơ sở để đánh giá hiệu quả bài tập
đã lựa chọn, chúng tôi tiến hành thực nghiệm với nam VĐV chạy 100m
trường THPT Kim Anh.
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để kiểm tra đánh giá và tìm hiểu
tính hiệu quả trong quá trình thực nghiệm bài tập vào thực tế, sau khi đã lựa
chọn và xác định được các bài tập, chúng tôi đã tiến hành phân nhóm thực
nghiệm, tổng số là 16 em chia làm 2 nhóm mỗi nhóm 8 em.
- Nhóm thực nghiệm 8 em: Theo bài tập và phương pháp chúng tôi lựa