HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
------- -------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TẠI LÀNG NGHỀ THÊU REN AN HÒA, XÃ THANH HÀ,
HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
Người thực hiện
: NGÔ DUY KHƯƠNG
Lớp
: MTA
Khóa
: 56
Chuyên ngành
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THANH LÂM
Địa điểm thực tập
Hà Nội - Năm 2015
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ và người dân làng nghề thêu ren An
Hòa, xã Thanh Hà đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thực tập, cung cấp thông
tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp MTA – K56, gia đình
và bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia sẻ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thời
gian học tập và rèn luyện tại trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, tài chính và
trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên khi thực hiện đề tài
khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để Khóa luận tốt nghiệp này
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Ngô Duy Khương
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
:
Bảo vệ môi trường
TNMT
:
Tài nguyên môi trường
TP
:
Thành phố
TTCN
:
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
:
Ủy ban nhân dân
VSMT
:
Vệ sinh môi trường
thôn có giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động tại địa phương.
Làng nghề thêu ren An Hòa với những sản phẩm tuyệt mỹ từ chính đôi
bàn tay của những con người địa phương tạo nên. Tuy nhiên do sự phát triển
thiếu bền vững, cùng công nghệ sản xuất lạc hậu đã làm suy giảm chất lượng
môi trường làng nghề và khu vực xung quanh từ đó ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe người dân. Chính vì thế, câu hỏi đặt ra hiện nay là làm thế nào để vừa
tăng cường hiệu quả cho công tác sản xuất đồng thời đảm bảo được chất
lượng môi trường tại địa phương, giúp tăng cường hiệu quả cho công tác quản
lý sản xuất cũng như quản lý môi trường tại địa phương là rất cần thiết.
8
Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá thực trạng quản lý môi trường tại làng nghề thêu ren An Hòa, xã
Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường làng
nghề thêu ren An Hòa nhằm đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường tại
địa phương.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu
- Các nội dung nghiên cứu phải đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của
đề tài đặt ra.
- Các số liệu, thông tin phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và khoa
học.
9
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ÐỀ NGHIÊN CỨU
Trên cả nước, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông
Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là ở Miền Trung (chiếm khoảng 30%) và
Miền Nam (khoảng 10%) (Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008).
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, dựa trên các tiêu chí
khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng như sau:
- Theo làng nghề truyền thống và theo làng nghề mới
- Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
- Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ
- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
- Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu
- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục
đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề
môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản
phẩm là phù hợp hơn cả, gồm 6 nhóm ngành nghề chính (Hình 2.1), mỗi
ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Mỗi nhóm ngành làng nghề có các đặc điểm
khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ gây ảnh hưởng khác nhau tới môi trường.
11
Hình 2.1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp,2008
2.1.3. Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam
Theo kết quả điều tra làng nghề nông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn năm 2014, hiện cả nước có 5.407 làng nghề đang hoạt động,
trong đó có 964 làng nghề truyền thống, chiếm xấp xỉ 18%. Số làng nghề
được công nhận là 1.513, chiếm khoảng 28%. Hoạt động sản xuất nghề nông
thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực
lượng lao động nông thôn; đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn
làm nơi sản xuất. Các bãi tập kết nguyên liệu, kể cả các bãi, kho chứa hàng gần
khu dân cư, tạm bợ, không đúng tiêu chuẩn môi trường (ví dụ như làng nghề tái
chế nhựa Minh Khai, Hưng Yên; làng nghề tái chế chì Chỉ Đạo, Hưng Yên…)
(Phạm Hồng Nhung, 2010).
* Đặc điểm về lao động và tổ chức sản xuất
Lao động làng nghề còn yếu và thiếu: Hiện nay số lượng lao động làm
nghề truyền thống ở các làng nghề đang thiếu nhiều, nhất là thợ giỏi. 90,4%
làng nghề thiếu lao động, chỉ có 9% làng nghề có đủ lao động và 0,6% làng
nghề thừa lao động. Nguyên nhân là do số con em lao động trong các làng
nghề học hết trung học phổ thông đều có xu hướng thi vào các trường đại học,
13
cao đẳng, chuyên nghiệp chứ không lựa chọn các trường dạy nghề, kể cả
trường cao đẳng nghề. Bên cạnh đó, quá trình truyền nghề cho lớp trẻ chưa
được coi trọng đúng mức, việc dạy nghề tại các làng nghề phần lớn theo lối
truyền nghề trong các gia đình, cầm việc chỉ tay hoặc tổ chức những lớp học
ngắn ngày cho con em trong địa phương, rất ít làng nghề tổ chức đào tạo bài
bản dẫn đến hiệu quả chưa cao; số lượng lao động trong các làng nghề học ở
trường dạy nghề rất thấp, cơ sở vật chất, phương tiện dạy nghề ở các gia đình
và các cơ sở nhỏ lẻ còn đơn sơ, thiếu thốn. Giáo viên truyền nghề cho học
viên bằng cách truyền nghề trực tiếp theo kinh nghiệm của từng người. Quy
mô dạy nghề truyền thống còn quá ít về số lượng, chất lượng cũng chưa cao,
chưa thu hút được đông đảo các nghệ nhân cao tuổi tham gia truyền nghề
truyền thống cho thanh niên. Mặt khác, mạng lưới dạy nghề đã phát triển rộng
rãi trong cả nước với hơn 100 trường cao đẳng nghề, hơn 300 trường trung
cấp nghề và trên 1.000 cơ sở khác có dạy nghề, hầu hết các huyện đều có
trung tâm dạy nghề, rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp
có hệ dạy nghề nhưng có rất ít trường và trung tâm đào tạo nghề truyền thống, quy
mô đào tạo cũng rất nhỏ và chất lượng chưa cao. Việc dạy nghề truyền thống ở
nhiễm môi trường làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi một khu
vực và mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại
hình sản phẩm. Cụ thể, tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, không
khí bị ô nhiễm do đốt nhiên liệu, do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ có
trong nước thải, chất thải rắn (CO2, NH3, CH4…). Tại các làng nghề mây tre
đan, làm nón, tăm hương… do khâu sấy chống mốc dùng diêm sinh đã gây
phát sinh một lượng lớn khí SO2 (Lan Phương, 2012).
Không khí tại các làng nghề sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ thường bị ô
nhiễm tiếng ồn do các máy khoan, máy cưa, đục, búa,…; bụi từ các khâu cưa
gỗ, trà, mài có kích thước nhỏ mịn có khả năng phân tán rộng, kết hợp mùi
với các loại dung môi độc hại từ các khâu hoàn thiện vecni, sơn gỗ,… (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2008).
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: chất lượng không
khí bị suy giảm chủ yếu do khí thải từ đốt nhiên liệu. Ở các làng nghề khai thác
15
đá, bụi phát sinh từ quá trình khai thác và chế tác đá là nguyên nhân chủ yếu
dẫn tới ô nhiễm không khí ở đây (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gây ô
nhiễm không khí không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các
chất hữu cơ trong nước thải, chất thải rắn. Ở làng nghề này, quá trình đốt than
đã tạo ra lượng lớn xỉ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Trong nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da, thì dệt nhuộm là
loại hình có nhu cầu hóa chất rất lớn gồm thuốc nhuộm các loại, xút, axit.
Nước thải bao gồm các hóa chất tẩy, thuốc nhuộm, xút, muối trung tính thải
ra từ quá trình tẩy trắng, nhuộm in vải. Cùng với đó là khí thải phát sinh từ
các cơ sở dệt nhuộm chủ yếu do đốt than của lò hơi và bụi bông, sợi vải từ
quá trình sản xuất gây ra,… (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Làng nghề tái chế gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đặc biệt
nghệ, chế tác đá
4. Tái chế
- Tái chế giấy
Các dạng chất thải
Khí thải
Bụi, CO, SO2, NOx. CH4
Nước thải
Chất thải rắn
BOD5, COD, SS, tổng N, Xỉ than, CTR từ nguyên liệu
tổng P, Coliform
Các dạng ô
nhiếm khác
Ô nhiễm nhiệt, độ
ẩm
Bụi, CO, SO2, NOx, hơi axit, hơi BOD5, COD, độ màu, tổng Xỉ than, tơ sợi, vải vụn, cặn Ô nhiễm nhiệt, độ
kiềm, dung môi
N, hóa chất, thuốc tẩy, Cr6+ và bao bì hóa chất
ẩm, tiếng ồn
- Bụi, SiO2, CO, SO, NOx, HF, BOD5, COD, SS, độ màu, Xỉ than (gốm sứ), phế phẩm, Ô nhiễm nhiệt
THC
dầu mỡ công nghiệp
cặn hóa chất
(gốm sứ)
- Bụi, hơi xăng, dung môi, oxit
* Ô nhiễm không khí – Vấn đề nhức nhối ở các làng nghề tái chế, sản
xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá, chế biến lương thực, thực phẩm, chăn
nuôi và giết mổ.
Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề là khác nhau tùy theo
tính chất của từng loại làng nghề bao gồm các dạng ô nhiễm do bụi, do khí
độc hại, ô nhiễm mùi và ô nhiễm tiếng ồn. Trong đó, làng nghề tái chế kim
loại có thải lượng ô nhiễm lớn nhất, quá trình tái chế và gia công gây phát
sinh khí độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại (PbO, ZnO, Al 2O3) (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2013).
Tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, hàm lượng chất ô nhiễm
thường tăng cao cục bộ xung quanh lò nung, có nơi hàm lượng bụi vượt tiêu
chuẩn cho phép từ 3 – 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt đến 6,5 lần (Lê
Hồng Anh, Nguyễn Hồng Hạnh, 2009).
Trong số các làng nghề thủ công mỹ nghệ, môi trường không khí xung
quanh khu vực sản xuất của làng nghề chế tác đá bị ô nhiễm nghiêm trọng do
bụi đá và tiếng ồn. Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ hoạt động chế tác đá còn
chứa một lượng không nhỏ SiO2 (0,56 – 1,91% tại làng nghề đá Non Nước –
Đà Nẵng) rất có hại cho sức khỏe. Trong khi đó, tại làng nghề sản xuất mây
tre đan, không khí thường bị ô nhiễm bởi SO 2 (phát sinh từ quá trình xử lý
chống mốc cho các sản phẩm mây tre đan). Ở tỉnh Thái Bình, nơi có 40/210
làng nghề làm mây tre đan, có tới 800 lò sấy lưu huỳnh thải ra lượng khổng lồ
khí SO2 từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm mây tre đan (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2008).
Khác với các nhóm làng nghề trên, sản xuất tại các làng nghề chế biến
lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ phát sinh ô nhiễm không khí
không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chất hữu cơ trong
nước thải, chất thải rắn tạo nên các khí như SO2, NO2, H2S, NH3, CH4 và các
18
sông, ngòi gây ô nhiễm nghiêm trọng tầng nước mặt, mạch nước ngầm. Hàm
lượng nhu cầu ô xy hóa học COD trong các công đoạn tẩy, nhuộm đo được tại
Vạn Phúc, Dương Nội dao động từ 380 – 890 mg/l, cao hơn tiêu chuẩn cho
phép từ 3 – 8 lần độ màu đo được là 750 Pt-Co, cao hơn tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần (Thảo Nguyên, 2014).
Ngược lại, một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng... có
nhu cầu nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại như
các hóa chất, axit, muối kim loại, xianua và các kim loại nặng (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2008).
* Chất thải rắn – Bài toán chưa có lời giải.
Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, phụ thuộc vào
nhiều nguồn phát sinh và mang đặc tính của loại hình sản xuất. Cùng với sự
gia tăng về số lượng, chất thải làng nghề ngày càng đa dạng và phức tạp về
thành phần, có thể thấy rằng chất thải làng nghề bao gồm những thành phần
chính như: phế phụ phẩm từ chế biến lương thực, thực phẩm, chai lọ thủy
tinh, nhựa, nilon, vỏ bao bì đựng nguyên vật liệu, gốm sứ, gỗ, kim loại (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2011).
- Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: Các loại chất thải rắn chủ
yếu của nông sản sau khi thu hoạch bị loại bỏ trong quá trình chế biến. Một số
loại như các loại đầu mẩu thừa, phế phụ phẩm ôi thiu, vỏ sắn, xơ sắn, bã
dong, đao, bã đậu. Ví dụ với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghề
Dương Liễu hàng năm phát sinh tới 105.768 tấn bã thải (Viện Khoa học và
Công nghệ môi trường, 2011).
- Nhóm làng nghề tái chế phế liệu: Chất thải rắn phát sinh từ các làng
nghề tái chế bao gồm 2 loại chính: các phế liệu không thể tái chế được lẫn
trong nguyên liệu được thu mua và các chất thải phát sinh trong quá trình tái
chế các vật liệu. Chất thải rắn phát sinh từ các làng nghề tái chế nhựa: nhựa phế
20
- Nhóm làng nghề khác: Các nhóm ngành khác như: thuộc da, sản xuất
chổi lông gà, sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ. Chất thải phát sinh từ các
ngành nghề này: da thừa, hồ keo, lông gà, lông vịt, các mảnh gốm sứ vỡ, chai
lọ đựng chất làm nền, hoa văn, chỉ xơ dừa, mụn xơ dừa (Bộ Tài nguyên và
Môi trường, 2011).
2.2.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường làng nghề tới
sức khỏe người dân
Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề,
tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có
xu hướng gia tăng. Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày
càng giảm, thấp hơn 10 năm so với làng không làm nghề.
- Ảnh hưởng của làng nghề tái chế: đây là nhóm làng nghề có tác hại
nhiều nhất đến sức khỏe con người, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư, thần kinh rất
phổ biến, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do sự phát thải khí độc, nhiệt cao
và bụi kim loại từ các cơ sở sản xuất. Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai
(Hưng Yên), hơn 50% số người dân bị đường ruột, tá tràng, đau dạ dày; 30%
mắc bệnh đường hô hấp, đau mắt; 100% số người trực tiếp nấu chì đều bị
nhiễm độc chì trong máu. Đáng buồn là đã có hơn 40 người bị tàn tật nặng do
ảnh hưởng của bụi và khói chì; trong đó có hơn 20 trẻ em bị viêm não, với các
di chứng ngớ ngẩn, thọt chân, mù mắt, bại liệt,… (Báo An ninh thế giới, 2014).
- Ảnh hưởng của làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi,
giết mổ: các bệnh phổ biến ở nhóm làng nghề này là bệnh ngoài da và viêm
niêm mạc, do ảnh hưởng của bức xạ nhiệt, vi sinh vật gây bệnh, hóa chất từ
lượng nước thải và chất thải rắn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
- Ảnh hưởng của làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da:
Tại các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, tiếng ồn, bụi, bụi bông, hóa chất,
hơi khí độc, nước thải chứa Javen là các yếu tố gây ô nhiễm môi trường và
22
2.3. Tổng quan làng nghề thêu ren
2.3.1. Giới thiệu chung
Thêu ren là nghề có từ lâu đời cách đây trên 700 năm. Nghề thêu là một
nghề thủ công mang tính chất nghệ thuật trang trí tạo hình truyền thống của
nước ta. Nguyên liệu chính của nghề thêu ren là vải, chỉ thêu màu các loại và
khung thêu với bàn tay khéo léo, đôi mắt tinh tường và sự cần cù của người
lao động đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật như những bức tranh thêu,
đăng ten, rèm the, chăn, gối, khăn trải bàn, tranh ảnh, đồ dùng sinh hoạt hàng
ngày. Đường nét thêu ren rất tinh sảo, uyển chuyển lại mịn màng như những
nét vẽ. Sản phẩm thêu ren phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang
các nước Ý, Thụy Sỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Hiện nay chưa có số liệu thống kê nào về số lượng làng nghề thêu ren ở
nước ta, nhưng có thể thấy một số làng nghề thêu ren nổi tiếng thường tập
trung ở các tỉnh phía Bắc như làng nghề thêu ren Quất Động (Thường Tín –
Hà Nội), làng nghề thêu ren Văn Lâm (Hoa Lư – Ninh Bình), làng nghề thêu
Xuân Nẻo (Tứ Kỳ – Hải Dương),…
Nghề thêu ren không quá phức tạp, đòi hỏi lớn nhất với những người
làm nghề là sự kiên trì, cẩn thận và ý thức làm việc tập thể do đó thu hút khá
nhiều lao động. Chỉ cần vận dụng kỹ thuật thêu một cách hiệu quả vào việc
tạo nên những mẫu thêu đạt trình độ nghệ thuật cao, cung ứng cho nhu cầu
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần tăng thu nhập trong từng hộ gia
đình, chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất và đời sống. Các sản phẩm thêu
ren là những sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, gần gũi với cuộc sống con
người và tô điểm cho cuộc sống của con người từ những tấm khăn tay đến các
loại khăn trải bàn, ga gối, rèm cửa, quần áo,... đến tranh thêu.
Ngoài giá trị sử dụng phục vụ nhu cầu của con người, hàng thêu ren
còn có giá trị văn hoá lịch sử thể hiện nét văn hoá dân tộc độc đáo. Trước đây
24
(hộ)
Số lao Giá trị
động
(Tỷ
(người) đồng)
Thu
nhập
BQ
nghề
(Tr. đ)
nghề
H. Hoa Lư
1
1
380
596
32,9 23,47
H. Gia Viễn
6
2
485
1.121
33,4 19,22
H. Nho Quan
1