so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

PHẠM THỊ CHÂM

SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI
TÔM RỪNG CÓ VÀ KHÔNG CÓ CHỨNG NHẬN
SINH THÁI TẠI CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2014


SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI
TÔM RỪNG CÓ VÀ KHÔNG CÓ CHỨNG NHẬN SINH THÁI
TẠI CÀ MAU
Phạm Thị Châm, Nguyễn Thanh Phương và Võ Nam Sơn
Khoa thủy sản-Trường Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014 tại 2 huyện Năm Căn và
Ngọc Hiển của tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu này tập trung đến các chỉ tiêu tài chính của
mô hình tôm rừng chứng nhận và không có chứng nhận tại Cà Mau. Thông tin số
liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn 60 hộ nuôi tôm. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, mực nước trung bình trong mương nuôi là 1,3 m và độ sâu trung bình của
trảng là 0,5 m (p


1 GIỚI THIỆU
Ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
Việt Nam, việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã góp phần tạo nên hình ảnh Việt
Nam với các nước trên thế giới. Sản lượng thủy sản ước đạt 5.918 triệu tấn, tăng
3,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu Thủy sản đạt 6,7 tỷ USD, tăng
10,6% so với năm 2012, giá trị xuất khẩu tôm đạt 2,5 tỷ USD, tăng gần 33,0% so với
cùng kỳ năm 2012 và chiếm 44,0% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản (Tổng cục Thống
kê, 2013). Tôm sú đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm
2013. Cà Mau là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi tôm sú lớn nhất cả nước (rất ít
nuôi thâm canh/bán thâm canh). Năm 2013 diện tích nuôi tôm sú của tỉnh là 266.228
ha (chiếm 90,0% diện tích nuôi trồng toàn tỉnh), giảm 0,2% so cùng kỳ, sản lượng
tôm 148.14 nghìn tấn, đạt 101,47% kế hoạch, tăng 5,6% so cùng kỳ (Cục Thống kê
Cà Mau, 2013). Trong những năm qua nghề nuôi tôm biển, đặc biệt là tôm sú
(Penaeus monodon) ở Cà Mau đã có những bước phát triển vượt bậc, nhiều mô hình
nuôi đạt được năng suất cao đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế
biến thủy sản trong và ngoài tỉnh. Tôm sú nguyên liệu của Cà Mau có chất lượng rất
cao, do được nuôi từ các mô hình nuôi quảng canh cải tiến trong đó có tôm rừng.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng hoạt động NTTS là sự suy
thoái ngày càng nhanh chóng môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, chất lượng con
giống không ổn định, môi trường ngày càng ô nhiễm, tác động của biến đổi khí hậu,
năng suất thấp và thị trường xuất khẩu còn hạn chế (Nguyễn Trung Chánh, 2008). Để
khắc phục những tác động trên và hướng đến sự phát triển bền vững, mô hình nuôi
tôm sú sinh thái ở Cà Mau ngày càng được quan tâm ứng dụng và phát triển, mục
đích là sản xuất ra sản phẩm thủy sản sạch đáp ứng nhu cầu thủy sản ngày càng cao
và đồng thời bảo vệ được môi trường. Do đó, nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và tài
chính của mô hình nuôi tôm sú-rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại Cà Mau
nhằm cung cấp thông tin góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất của nghề nuôi tôm súrừng là rất cần thiết.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Hiệu quả chi phí: TR/TC (lần/ha/năm)
- Tỷ suất lợi nhuận: PR/TC (lần/ha/năm)
2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu thu thập được phân tích
bằng thống kê mô tả qua việc tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất,
tỷ lệ phần trăm và các giá trị thống kê khác, nhằm mô tả đặc điểm nghiên cứu, các
thông tin về nông hộ, so sánh các chỉ tiêu tài chính và phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến lợi nhuận của hai mô hình. Mối tương quan giữa các biến định lượng được xác
định bằng phương pháp kiểm định Pearson (p
18,4±2,0
4,5±1,2

1,9±0,9

1,6±0,5

1,7±0,7

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

Đa số hộ nuôi trên địa bàn tỉnh đều ở độ tuổi trung niên nên có nhiều kinh nghiệm
trong nuôi tôm với số năm kinh nghiệm ở mô hình TR-KCN trung bình 20,2 năm và
mô hình TR-CN là 16,2 năm. Kết quả khảo sát cho thấy, kinh nghiệm nuôi tôm của
nông hộ do tích lũy từ bản thân, học hỏi bạn bè, hàng xóm và tham gia tập huấn là
chủ yếu. Đối với mô hình nuôi TR-KCN: Tự rút kinh nghiệm là chủ yếu chiếm tỷ lệ
76,7%, một số ít tham gia tập huấn với 16,7% và học hỏi từ người thân, bạn bè, hàng
xóm chiếm tỷ lệ 6,7%. Đối với mô hình TR-CN: Hầu hết hộ nuôi đều tham gia tâp
huấn với tỷ lệ 93,3%. Tự rút kinh nghiệm và học hỏi là 3,3%.
Các hộ nuôi TR-KCN có hình thức sở hữu đất là sổ xanh (96,7%), còn lại 3,3% là sổ
đỏ. Ở mô hình nuôi TR-CN thì số hộ có hình thức sở hữu đất là sổ xanh và sổ đỏ đều
chiếm tỷ lệ là 50,0%, 100% đối tượng nuôi có thả giống ở cả hai mô hình là tôm sú
và cua biển.
3.2 Khía cạnh kỹ thuật của hai mô hình nuôi
Tổng diện tích trung bình của mỗi hộ nuôi TR-KCN khoảng 3,3 ha thấp hơn so với
mô hình TR-CN 5,1 ha (p
(n=30)
3,3±1,6a
1,9±0,4a
0,9±0,5a
1,0±0,5
50,9±6,5a
0,5±0,2
1,3±0,2a
44,5±13,0a

TR-CN
(n=30)
5,1±2,1b
2,7±1,2b
1,4±0,6b
1,2±0,6
46,2±6,2b
0,5±0,1
1,4±0,2b
56,5±7,6b

Chung
(n=60)
4,2±2,1
2,3±1,1
1,2±0,6
1,1±0,6
48,6±6,6
0,5±0,1
1,3±0,2

triều, các hộ dân lấy trực tiếp từ sông. Lượng nước thay trung bình ở mô hình TRKCN là 60,0±25,0 cm/lần dao động trong khoảng từ 35-130 cm cao hơn so với mô
hình TR-CN là 64,0±0,2 cm/lần (30-100 cm). Đa phần hộ nuôi chỉ sử dụng vôi, dây
thuốc cá để xử lý nước và diệt cá tạp trong quá trình cải tạo. Mô hình TR-KCN có
90% hộ sử dụng dây thuốc cá diệt cá tạp và 23,3% hộ sử dụng vôi để cải tạo ao. Mô
hình TR-CN có 83,3% hộ sử dụng dây thuốc cá và 26,7% hộ dùng lưới kéo để bắt cá
và diệt tạp trong ao nuôi tôm.

5


Bảng 3: Mật độ thả nuôi tôm sú và cua của hai mô hình nuôi
Diễn giải
Tôm sú
Số lần thả tôm (lần/năm)
Mật độ tôm thả/đợt (con/m2/đợt)
Mật độ chung (con/m2/năm)
Cua biển
Số lần thả (lần/năm)
Mật độ cua/đợt (con/m2/đợt)
Mật độ chung (con/m2/năm)

TR-KCN
(n=30)

TR-CN
(n=30)

Chung
(n=60)


độ xuất hiện bệnh đốm trắng là cao nhất (86,7-93,0% số hộ), kế đến là bệnh đen
mang (50,0-53,3% số hộ). Đa số người nuôi sử dụng biện pháp thay nước để phòng
trị bệnh. Kết quả nghiên cứu của Lâm Thái Xuyên (2011) bệnh đốm trắng trong mô
hình nuôi tôm là (73-87% số hộ), bệnh đen mang (60-77%).
Cả hai mô hình đều nuôi theo phương pháp thu tỉa thả bù, số ngày nuôi và thu hoạch
lần đầu của mô hình TR-KCN là 131,0 ngày chênh lệch không nhiều so với mô hình
TR-CN (134,0 ngày). Sau đó định kỳ thu hoạch theo con nước cường (ngày 15 và 30
âl) hàng tháng. Số lần thu hoạch trên năm của hai nhóm khảo sát là tương đương
nhau 15,1-15,3 lần/năm lần lượt đối với mô hình TR-CN và mô hình TR-KCN. Số
ngày thu hoạch trung bình 3,7 ngày/lần ở mô hình TR-KCN và 4,4 ngày/lần ở mô
hình TR-CN. Kích cỡ tôm thu hoạch trung bình ở hộ nuôi TR-CCN là 19,3 con/kg
nhỏ hơn so với những hộ TR-CN là 17,5 con/kg (Bảng 4).
Sau khi thu hoạch, nông hộ bảo quản bằng cách ngâm hoặc ướp với nước đá. Trong
mô hình nuôi TR-CN theo yêu cầu của Naturland người nuôi tuyệt đối không được
sử dụng các chất kháng sinh, hóa chất trong bảo quản tôm. Phần lớn hộ khảo sát ở cả
hai mô hình thường bán cho thương lái thu gom vì sau khi thu hoạch tôm mỗi ngày
theo con nước thì sẽ có thương lái đến tận nhà để thu mua và trả bằng tiền mặt, số
còn lại bán tôm cho vựa. Theo khảo sát có 90% hộ nuôi TR-KCN bán tôm cho
thương lái, và 10% bán cho đai lý thu gom, vựa. Riêng những hộ TR-CN thì có
96,7% nông hộ bán cho tổ chức chứng nhận sinh thái thông qua những thương lái thu
gom riêng của tổ chức. Bên cạnh đó, khi tham gia vào mô hình sinh thái nông hộ sẽ
được hưởng chiết khấu sinh thái là 6% trên tổng sản lượng bán cho tổ chức. Người
nuôi nhận được khoản tiền này sau khi bán tôm từ 3-4 tháng.

6


Bảng 4: Thu hoạch tôm của hai mô hình
Diễn giải
Thời điểm thu hoạch lần đầu sau

15,2±1,2
18,4±1,9

Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn.

Kết quả khảo sát cho thấy năng suất thủy sản chung, năng suất tôm sú, năng suất cua
và thủy sản khác của mô hình TR-CN đều cao hơn so với mô hình TR-KCN và
không có sự khác biệt về thống kê. Năng suất tôm sú trung bình của mô hình TRKCN là 192,2 kg/ha/năm thấp hơn so với mô hình TR-CN là 218,0±113,7 kg/ha/năm
nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Như vậy, kết quả nghiên cứu này gần
giống với kết quả của Nguyễn Trung Chánh (2008) năng suất TR-CN là
218,1kg/ha/năm, TR-KCN là 179,8 kg/ha/năm nhưng thấp hơn kết quả nghiên cứu
của Lâm Thái Xuyên (2011) với năng suất trung bình TR-CN là 239,0 kg/ha/năm và
TR-KCN là 229,1 kg/ha/năm.
Bảng 5: Năng suất và tỷ lệ sống của hai mô hình
Diễn giải
Năng suất (kg/ha/năm)
Năng suất thủy sản chung
Năng suất tôm chung
Tôm sú
Tôm thẻ, bạc, đất
Cua

Tỷ lệ sống tôm (%)
Tỷ lệ sống cua (%)

TR-KCN
(n=30)

TR-CN
(n=30)

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

3.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình
Cả hai mô hình chỉ đầu tư chủ yếu về con giống, cải tạo ao nên chi phí đầu tư không
cao. Tổng chi phí của mô hình nuôi TR-KCN là 20,9 triệu đồng/ha/năm thấp hơn so
với mô hình TR-CN 23,1, kết quả kiểm định cho thấy sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05). Trong đó chi phí biến đổi ở mô hình TR-CN là 21,3 triệu
đồng/ha/năm chiếm 92,1% trong tổng chi phí và cao hơn mô hình TR-KCN 19,1
triệu đồng/ha/năm với 91,4% trong tổng chi phí, còn lại khoản chi phí cố định chỉ
chiếm một phần nhỏ trong cơ cấu chi phí của hai mô hình (Bảng 6).
Xét về cơ cấu chi phí của hai mô hình thì chi phí cải tạo ao chiếm cao nhất 48,0%
(TR-KCN) và 40,0% (TR-CN), kế đến là chi phí giống tôm sú, chi phí giống cua, chi
phí nhiên liệu và chi phí thuốc cá,vôi. So sánh chi phí con giống tôm sú giữa hai
nhóm khảo sát thì chi phí con giống ở mô hình TR-KCN là 5,5 triệu đồng/ha/năm

7


chiếm 29,0% trong tổng chi phí biến đổi và thấp hơn so với mô hình TR-CN là 7,3
triệu đồng/ha/năm chiếm 34,0% trong tổng chi phí biến đổi, nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Điều này có thể giải thích là nuôi tôm theo tiêu
chuẩn sinh thái đòi hỏi phải thả giống tốt và có nguồn gốc rõ ràng dẫn đến chi phí
giống tôm cao. Mặc dù chi phí giống tôm sú của mô hình TR-CN cao hơn mô hình
TR-KCN, nhưng giá thành sản xuất tính trên 1kg tôm của mô hình TR-CN là 62,9
nghìn đồng/kg thấp hơn mô hình TR-KCN là 71,6 nghìn đồng/kg. Trong khi giá tôm
trung bình là 282,6 nghìn đồng/kg ở mô hình TR-KCN thấp hơn so với mô hình TRCN 302,6 nghìn đồng/kg. Điều này cho thấy ưu điểm của nuôi tôm tiêu chuẩn sinh
thái.
Bảng 6: Các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình nuôi
Chỉ tiêu
Tổng chi phí (tr.đ/ha/nam)

3,0±1,4a
0,7±1,0
0,5±0,6
77,1±29,9
54,9±25,2
13,4±7,8
6,6±2,9
2,2±1,2
56,2±31,8
2,68
3,69
282,6±23,9
71,6±48,0
236,6±25,8
31,0±3,1
80,3±6,9
96,7
3,3

TR-CN
Chung
(n=30)
(n=30)
23,1±6,6
22,1±6,6
1,8±1,1
1,8±2,2
21,3±6,5
20,3±6,2
8,5±3,6

98,4
0
1,7

Ghi chú: Những ký tự khác nhau cùng một dòng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, kiểm định
được sử dụng là kiểm định” Independent T-Test” (p0,05). Trong đó, thu nhập mang lại từ tôm sú là cao nhất và giá trị
từ đối tượng này mang lại cho mô hình TR-CN cao hơn so với TR-KCN (65,3 triệu
đồng/ha/năm so với 54,8 triệu đồng/ha/năm). Bên cạnh đó thì thu nhập mang lại từ
cua biển là khá cao (13,4 triệu đồng/ha/năm đối với mô hình TR-KCN và 15,8 triệu
đồng/ha/năm ở mô hình TR-CN). Thu nhập từ cua chiếm 17,4% ở mô hình TR-KCN
và 17,1% ở mô hình TR-CN. Tôm tự nhiên và các loại cá khác chỉ chiểm tỷ trọng
nhỏ trong cơ cấu thu nhập (11,4% ở mô hình TR-KCN và 12,2% ở mô hình TR-CN).

8


Ngoài ra ở các mô hình còn thu hoạch được một số đối tượng không thả giống khác
như: Tôm tự nhiên (TR-KCN là 6,6 triệu đồng/ha/năm và TR-CN là 8,2 triệu
đồng/ha/năm), các sản phẩm khác như cá chẽm, cá phi và cá đối. Nhìn chung, các
khoản thu từ TR-CN đều cao hơn TR-KCN. Nhưng tỷ trọng thu nhập ở hai mô hình
có sự chênh lệch không đáng kể, thu nhập từ tôm sú chiếm phần lớn tổng thu nhập
của hai mô hình (71,2% ở mô hình TR-KCN và 70,7% đối với mô hình TR-CN)
trong tổng cơ cấu thu nhập (Bảng 6).
Đối với người nuôi trồng thủy sản lợi nhuận cao và ít rủi ro luôn là điều mong đợi
của người dân. Nhìn chung lợi nhuận của hai mô hình nuôi trên địa bàn nghiên cứu là

Tỷ suất lợi nhuận (lần)
% Hộ lỗ

Nhóm hộ
Có sử dụng dây Không sử dụng dây
thuốc cá (n=52)
thuốc cá (n=8)
203,1±97,8
218,2±107,7
18,5±1,7
17,9±2,8
62,1±37,3
66,8±44,5
2,84
2,89
3,33
0

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

3.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận tôm nuôi
Diện tích mặt nước: Diện tích mặt nước có tương quan thuận với mật độ thả
tôm/đợt, mật độ thả cua đợt (p
Giá thành tôm (1.000 đ/kg): Giá thành tôm có tương quan nghịch với lợi nhuận tôm
(p

-0,42**

0,15

-0,21

-0,28*

-0,59**

-0,08

1

0,10

-0,05

0,04

0,12

0,77**

0,29*

-0,55**

1


-0,62**

0,97**

0,44**

1

-0,42**

0,05

-0,43**

-0,38**

0,12

0,44**

0,04

0,17

0,55**

0,19

Diện tích

Ghi chú : ** Tương quan (Pearson) có ý nghĩa thống kê (p
Chất lượng giống tốt
Dễ tiêu thụ
Vốn tự có
Lao động có sẵn
Có kỹ thuật
Chất lượng nước tốt
Ít dịch bệnh
Tổng

TR-KCN (n=30)
%
Xếp hạng
25.6
1
22.2
2
18.9
3
10.0
4
8.9
5
7.8
6
6.7
7
100

TR-CN (n=30)
%

lượng nước hơn mô hình TR-KCN do họ được tập huấn về kỹ thuật nuôi. Tuy nhiên,
việc xác định chất lượng con giống thì những hộ nuôi TR-CN gặp khó khăn nhiều
hơn mô hình TR-KCN với tỷ lệ lần lượt là 21,1 và 14,4%. Tuy nhận định nguồn gốc
tôm giống có chất lượng nhưng phần lớn người dân thiếu điều kiện cũng như không
biết cách xác định chất lượng con giống đặt biệt là ở mô hình TR-CN.

11


Bảng 10: Khó khăn của hai mô hình nuôi
STT

Khó khăn

TR-KCN (n=30)

TR-CN (n=30)

%
26,7

Xếp hạng
1

%
27,7

Xếp hạng
1


Kỹ thuật nuôi còn hạn chế

8,9

4

15,6

4

5

Thiếu lao động

8,9

4

6,7

5

6

Thiếu vốn

7,8

6


thụ và giá bán cao hơn. Mô hình TR-CN còn mang lại lợi ích là mật độ rừng bao phủ
môi trường sinh thái và tạo được sản phẩm sinh thái an toàn thực phẩm nâng cao chất
lượng tôm nuôi.
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
Năng suất thủy sản chung trung bình ở mô hình TR-KCN là 406,9 kg/ha/năm thấp
hơn so với mô hình TR-CN 463,5 kg/ha/năm (p>0,05). Năng suất tôm sú bình quân ở
mô hình TR-KCN là 192,2 kg/ha/năm thấp hơn so với mô hình TR-CN là 218,0
kg/ha/năm (p>0,05).
Lợi nhuận trung bình của mô hình TR-CN là 69,1 triệu đồng/ha/năm cao hơn so với
mô hình TR-KCN là 56,2 triệu đồng/ha/năm (p>0,05). Tỷ suất lợi nhuận trung bình
của mô hình TR-KCN là 2,68 lần và mô hình TR-CN là 2,90 lần. Dựa trên năng suất
và lợi nhuận thì mô hình TR-CN được xem là mô hình có hiệu quả, tiềm năng phát
triển ổn định và thân thiện với môi trường.
Tỷ lệ rừng có tương quan nghịch với tỷ lệ sống tôm (p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status