Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm xen ghép tại xã hương phong huyện hương trà tỉnh thừa thiên huế - Pdf 10

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, ngành NTTS đã có
những bước phát triển nhảy vọt, tạo ra giá trị kinh tế cao với kim ngạch xuất
khẩu hằng năm đạt hơn 1 tỷ USD, phát triển NTTS đã và đang được coi như
một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế,
góp phần giải quyết việc làm cho đại đa số người dân ven biển, tăng hiệu quả
thu nhập, đem lại một nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển thuộc miền Trung Việt Nam, có bờ
biển dài với diện tích hơn 22.000ha mặt nước (chiếm khoảng 20% tổng diện
tích mặt nước toàn quốc) và một hệ thống đầm phá rộng lớn, là một tiềm năng
to lớn để phát triển NTTS. Trong hệ thống này, đầm phá Tam Giang được
xem là đầm phá lớn nhất ở Châu Á về diện tích mặt nước và là nơi cư trú của
nhiều loài sinh vật thủy sinh, cung cấp thực phẩm, đóng một vai trò kinh tế,
sinh thái quan trọng trong sinh kế của người dân sống dọc treo vùng đầm phá.
Tuy nhiên, sức ép gia tăng dân số, bùng nổ dân số, sự khai thác quá mức và
sự phát triển không cân đối giữa các hoạt động kinh tế trong cùng một khu
vực dẫn đến sự suy giảm nguồn lợi ở hệ đầm phá Thừa Thiên Huế nói chung
và phá Tam Giang nói riêng.
Xã Hương Phong là một xã bãi ngang nằm phía Tây Bắc huyện Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, với tổng diện tích mặt nước là 532,08ha phục vụ
cho việc đánh bắt và NTTS. Đây được xem như là ngành kinh tế chính để cải
thiện sinh kế của xã trong những năm gần đây[8]. Trước năm 2007, hình thức
NTTS chủ yếu ở đây là nuôi tôm chuyên canh. Tuy nhiên, do các nguyên
nhân như: thời tiết không thuận lợi, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát
ngày càng nhiều, số lượng cũng như chất lượng thủy sản ở đây ngày càng suy
giảm…Từ thực trạng đó, một vấn đề đang đặt ra là làm thế nào vừa khai thác
hợp lý tiềm năng vùng đầm phá, vừa bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi sinh học, cảnh
quan môi trường và đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Một trong những
hướng giải quyết đặt ra cho vấn đề này và đã được sự nhất trí cao giữa các tổ
chức nghiên cứu quốc tế và trong nước là áp dụng hình thức nuôi xen ghép

nuôi trồng thủy sản nước mặn; căn cứ vào đối tượng nuôi trồng mà người ta
chia thành các ngành: Nuôi cá, nuôi giáp xác, nuôi nhuyễn thể và trồng các
loại rong biển. Ngành nuôi trồng thủy sản có khả năng sản xuất nhiều loại
thực phẩm giàu dinh dưỡng cho nhân loại, cung cấp nhiều loại nguyên liệu,
dược liệu cho các ngành công nghiệp, làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc.
Pillay, 1990, NTTS là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức
nuôi trồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường nước ngọt lợ, mặn.[1]
The FAO (2008) thì nuôi trồng thủy sản (tiếng anh: aquaculture) là nuôi
các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các
kỹ thuật vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân
hay tập thể.
Một số tác giả khái niệm nuôi thủy sản đơn giản hơn đó là nuôi hay canh
tác động và thực vật dưới nước do xuất xứ từ thật ngữ aqua (nước) + culture
(nuôi).
Như vậy, NTTS là ngành sản xuất vật chất sử dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên nhiên như đất đai, diện tích mặt nước, thời tiết khí hậu…để sản
xuất ra các loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người.[2]
1.1.2.2. Vai trò và đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản
1.1.2.2.1. Vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản
- Cung cấp thực phẩm.
Sản phẩm thủy sản là thực phẩm giàu dinh dưỡng rất được mọi người
yêu thích. Từ xưa tới nay, con người luôn coi sản phẩm thủy sản là thực phẩm
3
lý tưởng nhất. Trong đó, có các đặc điểm như hàm lượng protein cao, lượng
mỡ va cholesteron thấp, có nhiều loại vitamin, dễ tiêu hóa và hấp thụ đối với
con người, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất. Đây là đặc điểm khiến cho các
loại thịt không thể so sánh được với sản phẩm thủy sản.
Hơn nữa sản phẩm thủy sản còn là nguồn cung cấp protein thích hợp nhất
cho sức khỏe của con người. Rất nhiều nước trên thế giới luôn coi việc sử dụng
mặt nước biển là khởi nguồn quan trọng để cung cấp protein cho con người.

người trên thế giới theo ước tính của FAO là 19,1 kg/người vào năm 1994 và
so với mức 27 kg/người /năm của các nước đang phát triển hiện nay thì ở
nước ta chưa đáp ứng được.
- Cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, phân bón cho công nghiệp.
Sản phẩm phụ của nghành nuôi trồng thủy sản ( các loại tôm cá tạp ), các
phụ, phế phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản làm nguyên liệu cho các
nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và một số loại thức ăn cho tôm cá
và theo số liệu của FAO sản phẩm thủy sản dành cho chăn nuôi chiếm khoảng
30%. Hàng năm ở Việt Nam đã sản xuất ra khoảng 40000- 50000 tấn bột cá
làm cho nguyên liệu các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc cho các
ngành công nghiệp.
- Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.
Phát triển ngành nuôi trồng thủy sản có thể cung cấp nguyên vật liệu cho
các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, y dược và công nghiệp quốc
phòng, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan.
Các sản phẩm của ngành nuôi trồng thủy sản ngoài chức năng làm thực
phẩm cho con người còn được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực khác. Rất
nhiều mặt hàng thủy sản là nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đông lạnh
như: tôm, cá, nhuyễn thể, v.v…, nguyên liệu cho các xí nghiệp dược phẩm
như: rong mơ, rong câu, rong thuốc giun.v.v…sản xuất keo alginate, Aga aga,
Iod, cồn, thuốc tẩy giun sán. Hải mã, hải long, vỏ bào ngư là nguồn dược liệu
quý và nổi tiếng, rất nhiều loại sinh vật nhuyễn thể có thể làm nguyên liệu để
sản xuất đồ mỹ nghệ xuât khẩu như: sản phẩm khảm trai, ngọc trai, đồi mồi.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao thì các sản phẩm nuôi trồng thủy sản ngày càng có xu hướng
được sử dụng rộng rãi hơn. Đồng thời, sự phát triển của ngành NTTS cũng
kéo theo sự phát triển của các ngành liên quan. Phát triển nghề nuôi trồng
5
thủy sản không chỉ hoàn thiện được cơ cấu sản xuất nông nghiệp, duy trì cân
bằng hệ sinh thái mà còn hình thành lên chiến lược khai thác, sử dụng tổng

lượng và 53% về giá trị kim ngạch xuất khẩu.
6
Các đối tượng khác như: nhuyễn thể, cá song, cá hồng, cá ba sa, cá sặc
rằn, cá quả, lươn, ba ba, ếch. v. v… xuất sống, phi lê đông lạnh cũng được các
thị trường ưa chuộng.
Ở Nhật xu thế tiêu dùng hàng thủy sản thay cho thịt bình quân 71,5
kg/người và còn tiếp tục tăng. Thị trường Mỹ và EU cũng có xu thế như vậy:
Bảng 1: Sản lượng và giá trị sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính ngạch
từ năm 1997-2005.
Năm Sản lượng (tấn) Giá trị (USD)
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
206.397,7
200.555,9
229.963,6
291.922,7
375.490,7
458.657,9
482.066,8
531.325,8
761.457.413

gặp năm thời tiết thuận lợi (mưa thuận, gió hòa) mới có thể đạt được năng
suất, sản lượng cao. Mặt khác bờ biển Việt Nam khá dài, điều kiện khí hậu
thời tiết của từng vùng có sự khác nhau do đó cùng một đối tượng nuôi nhưng
ở những địa phương khác nhau thì mùa vụ sản xuất khác nhau và hiệu quả
kinh tế của nó cũng không giống nhau, hơn nữa mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng
cũng quyết định khả năng sản xuất và trình độ thâm canh của nghề nuôi trồng
thủy sản. Vì vậy, trong quá trình sản xuất, ngành nuôi trồng thủy sản vừa chịu
sự chi phối của quy luật tự nhiên, vừa phải chịu sự chi phối của quy luật kinh
tế. Do đó nuôi trồng thủy sản là một hoạt động sản xuất rất phức tạp.
Tính chất rộng khắp của ngành nuôi trồng thủy sản thể hiện nghề nuôi
trồng thủy sản phát triển ở khắp các vùng trong nước từ đồng bằng, trung du,
miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có đất đai diện tích mặt nước là ở
đó có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản: từ hồ ao sông ngòi đến đầm phá
eo, vịnh … Mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau, do
đó dẫn tới sự khác nhau về đối tượng sản xuất, về quy trình kỹ thuật, về mùa
vụ sản xuất. Do đó trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của ngành cần
lưu ý đến các vấn đề như: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ
tiêu kế hoạch, chính sách giá cả, đầu tư cho phù hợp đối với từng khu vực,
từng vùng lãnh thổ.
- Trong NTTS đất đai, diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ
yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được.
Đất đai là tư liệu sản xuất, song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với
các tư liệu sản xuất khác là: Diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng
cố định, sức sản xuất của chúng thì không có giới hạn và nếu biết sử dụng hợp
lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn (tức là
8
độ phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước ngày một tăng) mặt
khác đất đai, diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất
lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai ,
diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác nhau. Chính vì vậy, khi sử

tức là thời gian mà sản phẩm đang trong lĩnh vực sản xuất, nó bao hàm cả
thời gian mà lao động không có tác dụng đối với sản phẩm ”.
Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát
triển của các đối tượng nuôi trồng, những biểu hiện chủ yếu của tính thời vụ
trong nuôi trồng thủy sản là:
- Đối với mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển
diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất đòi hỏi thời
gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới chúng khác
nhau. Có thời gian đòi hỏi lao động căng thẳng, có thời gian ít căng thẳng.
- Cùng một đối tượng nuôi trồng thủy sản nhưng ở những vùng có điều
kiện khí hậu thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau.
- Các đối tượng nuôi trồng thủy sản khác nhau có mùa vụ sản xuất
khác nhau.
Tính thời vụ của nuôi trồng thủy sản có su hướng dẫn tới tính thời vụ
trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động, công cụ lao động
và đất đai diện tích mặt nước.
Do điều kiện lao động thủ công, điều kiện tự nhiên, thời tiết diễn biến
bất thường, tính thời vụ trong nuôi trồng thủy sản càng gây lên nhiều vấn đề
phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh. Để giảm bớt tính chất
thời vụ trong nuôi trồng thủy sản chúng ta cần lưu ý các vấn đề sau:
- Nghiên cứu đặc điểm địa hình, khí hậu, thời tiết từng vùng để bố trí sắp
xếp các đối tương nuôi trồng cho phù hợp nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai
diện tích mặt nước, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật …
- Mở mang thêm ngành nghề, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao
động để thực hiện việc chuyên môn hóa sản xuất đi đôi với viêc phát triển
tổng hợp các ngành sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.
- Vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, đăc biệt các thành tựu trong
lĩnh vực sinh học như: Vận dụng quy luật tổng nhiệt cho cá đẻ tái phát dục, kỹ
thuật nuôi tôm cắt mắt, kỹ thuật cấy ghép tinh cho tôm mẹ… để tăng thời gian
sản xuất trong năm.

kiểm soát tốt các điều kiện nuôi; chi phí đầu tư ban đầu; kỹ thuật áp dụng và hiệu
quả sản xuất đều cao và có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất cả các điều
kiện nuôi (khí hậu và chất lượng nước); các hệ thống nuôi có tính nhân tạo.
11
- Nuôi thủy sản bán thâm canh.
Nuôi thủy sản bán thâm canh là hình thức nuôi có năng suất từ 2- 20
tấn/ha/năm; lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ vào bón phân hay
cho ăn bổ sung; giống được sản xuất từ trại (hay là giống nhân tạo); bón phân
định kỳ, trao đổi nước hay sục khí định kỳ; cấp nước bằng máy bơm hay tự
chảy. Nuôi trong ao, quầng hay bè đơn giản.
- Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến.
Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến là hình thưc nuôi có năng suất từ 0,5-
5 tấn/ha/năm; có thể cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp; giống được
sản xuất từ các trại (giống nhân tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên; bón phân vô
hay hữu cơ thường xuyên; quan sát một số yếu tố chất lượng nước đơn giản.
Nuôi ao, lồng đơn giản (ví dụ nuôi cá lồng dựa vào thức ăn tự nhiên và có bổ
sung thức ăn).
- Nuôi thủy sản quảng canh.
Nuôi thủy sản quảng canh là hình thức nuôi mà mức độ kiểm soát hệ
thống nuôi thấp (môi trường, thức ăn, dịch hại, bệnh, ); mức độ đầu tư ban
đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả sản xuất đều thấp (năng suất < 500
kg/ha/năm); phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng nước; nuôi tận dụng
mặt nước tự nhiên (ví dụ: đầm phá, vịnh, eo nghách) và không chủ động được
loại thức ăn tự nhiên cho cá.[5]
1.1.2.2. Nuôi thủy sản xen ghép
Nuôi thủy sản xen ghép là hình thức nuôi kết hợp nhiều loại nuôi trên
cùng một diện tích trong cùng một thời vụ nhằm tận dụng sự tương tác có lợi
của các loài nuôi giống nhau; giống được sản xuất tại các giống hoặc thu từ tự
nhiên; kết hợp thức ăn công nghiệp và thức ăn tự nhiên; ao nuôi đơn giản.
Các mô hình nuôi thủy sản xen ghép phổ biến ở các khu vực nước lợ là:

GM = GO – Chi phí trực tiếp – Chí phí tài chính – Thuế, lệ phí.
Trong đó chi phí trực tiếp trên một đơn vị diện tích bao gồm chi phí về nạo
vét, xử lý ao trước khi nuôi, chi phí về con giống, thức ăn cho tôm, chi phí phòng
trừ bệnh, nhiên liệu dầu mỡ, chi phí thuê lao động ngoài và chi phí khác.
Chi phí tài chính là chi phí trả tiền lãi vay từ các nguồn khác nhau phục
vụ cho nuôi tôm .
+ Lợi nhuận kinh tế (EP) trên một đơn vị diện tích.
EP = Thu nhập hỗn hợp - Chi phí lao động – Khấu hao TSCĐ – Chi phí
hiện vật của hộ.
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất:
+ GO/ Chi phí: thể hiện cứ một đồng chi phí bỏ vào sản xuất tao ra được
bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất này càng lớn phản ánh sản xuất càng có
hiệu quả.
+ EP/ Chi phí: thể hiện cứ một đồng chi phí được đầu tư tạo ra bao nhiêu
động lợi nhuận.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
1.2.1. Khái quát tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản trên thế giới và
ở Việt Nam
Trong hai thập niên qua, trong phạm vi toàn thế giới, NTTS có mức tăng
sản lượng cao nhất trong các lĩnh vực sản xuất lương thực thực phẩm. Kể từ
13
năm 1884 tới nay, tỷ lệ tăng trưởng của NTTS trung bình đạt trên 11%,3,1%
so với tăng trưởng của chăn nuôi gia súc và 0,8% so với tăng trưởng của khai
thác thủy sản (Albert G.J. Tacon, 2001). Trong thập niên 70, 80, tỷ lệ sản
lượng thủy sản nuôi trồng chiếm khoảng trên dưới 10% trong tổng sản lượng
thủy sản, nhưng vào những năm cuối của thập niên 90, tỷ lệ này đã nâng lên
trên 30%. Các thống kê của FAO trong các năm mốc 1970, 1980, 1990, 2000
cho thấy, xu thế tăng tỷ lệ của sản phẩm nuôi trồng thủy sản trong sản lượng
thủy sản của cả thế giới là rất đáng kể.
Bảng 2: Sản lượng và giá trị sản phẩm nuôi trổng thủy sản thế giới

106,3
105,6
105,4
52884357.65
54381376.45
56311981.91
60329844.14
66190154.09
72463540.73
81350475.30
97280022.82
105989649.90
-
102,8
103,6
107,1
109,7
109,5
112,3
119,6
109,0
(Nguồn: www.fao.org/figis).
Với 3260km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch
hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt
cùng với các hồ chứa nước thủy lợi, thủy điện, tạo cho nước ta có một tiềm
năng lớn về diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản- hàng triệu ha.
Từ một lĩnh vực sản xuất bé nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu, ngành thủy sản đã
trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ
tăng trưởng cao, có tỷ trọng GDP ngày càng lớn và chiếm một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng, bình

1052,6
-
117,1
105,6
108,8
106,1
103,5
102,5
104,3
103,3
589595
709891
844810
1003095
1202486
1477981
1693860
2123280
2465691
-
120,4
119,0
118,7
119,9
122,9
114,6
125,4
116,1
11761,2
16842,2

Năm Diện tích
(nghìn ha)
% Sản lượng
(tấn)
% Giá trị
(tỷ đồng)
%
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2,7
3,6
3,9
4,6
5,1
5,2
5,3
5,4
5,5
117,3
133,3
108,3
117,9
110,9

395,6
119,5
131,9
127,0
109,8
106,3
104,2
116,0
96,2
110,0
(Nguồn: Niên giám thống kê).
Nằm trong vùng đầm phá Tam Giang, huyện Hương Trà có những thuận
lợi nhất định trong việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Nhờ đó ngành
NTTS đang đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển KT-XH của huyện.
Theo báo cáo tổng kết tình hình KT-XH của huyện, năm 2010 tổng sản lượng
thủy sản khai thác khoảng 1,456 tấn trong đó khai thác biển đạt 720 tấn, khai
thác sông đầm 736 tấn. Tổng diện tích NTTS 401,6 ha, trong đó diện tích
nuôi ao hồ nước lợ 261,9 ha, nuôi nước ngọt 139,7 ha và nuôi lồng. Ước tính
sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 642 tấn.
Trong các loài NTTS hiện nay ở trên địa bàn huyện Hương Trà thì tôm
sú là loài chiếm ưu thế trong tổng số diện tích nuôi trồng. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây do việc nuôi tồm thua lỗ, gây ô nhiễm môi trường và
được sự hỗ trợ của dự án NAV, đa số hộ nuôi đã chuyển từ hình thức nuôi
chuyên tôm sang hình thức nuôi xen ghép ở tất cả các xã.[11]
16
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ ngư dân nuôi trồng thủy sản xen ghép ở xã Hương Phong.

3.3.1. Phương pháp chọn mẫu
- Chọn điểm nghiên cứu.
Điểm nghiên cứu được chọn là xã Hương Phong thuộc vùng ven phá
Tam Giang. Đảm bảo các tiêu chí:
+ Mang tính đại diện cho hoạt động nuôi tôm xen ghép tại vùng phá Tam
Giang.
+ Là xã có hoạt động nuôi trồng thủy sản khá phát triển, có tiến hành
triển khai và áp dụng hình thức nuôi tôm xen ghép trong những năm gần đây.
+ Thuận lợi cho việc điều tra thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu
đề tài.
- Chọn mẫu nghiên cứu.
Mẫu được chọn bao gồm 40 hộ, gồm những hộ hiện đang NTTS theo
hình thức xen ghép và trước đây nuôi theo hình thức chuyên canh. Hộ chuyên
canh ở tại điểm nghiên cứu được chọn là những hộ nuôi chuyên tôm, vì tại
đây còn có thêm các hình thức nuôi chuyên khác như: nuôi cá nước ngọt, nuôi
Cua… tuy nhiên con số này rất ít. Vì vậy để tiện cho việc nghiên cứu, tôi đã
dùng phương pháp so sánh NTTS trước đây và hiện tại trên cùng một loại hộ.
Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên không lặp lại theo danh sách đã
được xác định trước trong danh sách thôn của xã.
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin cấp cộng đồng.
+ Loại thông tin thu thập.
Thu thập các số liệu về ĐKTN: Đất đai, thời tiết, khí hậu, tài nguyên
thiên nhiên
Thu thập các số liệu về KT-XH của xã, một số thông tin về các ngư dân
sinh sống dựa vào NTTS.
+ Phương pháp thu thập thông tin.
Nguồn số liệu được thu thập thông qua các tài liệu đã được công bố:
Niên giám thống kê của các cấp, các tài liệu, báo cáo của các cơ quan chuyên
18

thuỷ hải sản.
Khí hậu ở đây có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.
Mùa khô: từ tháng 3-8 do chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng,
nhiệt độ cao, trung bình lớn hơn 23
0
C, tháng nóng nhất thường là tháng 6 hoặc
tháng 7, nhiệt độ trung bình 29
0
C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 39
0
C- 40
0
C.
Mùa mưa: Từ tháng 9- 2 năm sau, chịu ảnh hưỏng của gió mùa Đông
Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh từ 17
0
C- 22
0
C,
tháng có nhiệt độ thấp nhất (tháng 1) xuống 15
0
C.
Do mùa mưa trùng với mùa có bão nên hay gây ra lũ lụt, ngập úng ở
nhiều vùng trong xã. Mùa mưa kéo dài, lại chịu ảnh hưởng của gió Tây khô
nóng nên mực nước các con sông xuống thấp làm khô cạn nguồn nước ảnh
hưởng đến sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân.
4.1.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
- Tình hình sử dụng đất đai.
Toàn xã có 6 thôn (Thanh Phước, Thuận Hòa, Vân Quật Đông, Vân Quật
Thượng, An Lai, Tiến Thành), phân bố thành 9 cụm dân cư với 2328 hộ,

- Đất chưa sử dụng
61,06
3,89
(Nguồn: Thống kê xã Hương Phong, 2011)
Căn cứ vào bảng hiện trạng sử dụng đất và mặt nước cho thấy có diện
tích đất tự nhiên tương đối lớn (1569 ha), trong đó, diện tích đất dành cho sản
xuất nông nghiệp là 32,25% với tỷ lệ đất bình quân 0,67 ha. Đây là một xã có
nền nông nghiệp lúa nước phát triẻn mạnh, có hệ thống kênh mương, thuỷ lợi
hoạt động tốt, đất đai màu mỡ nên năng suất, hiệu quả mang lại trong sản xuất
nông nghiệp là tương đối cao và ổn định. Diện tích mặt nước KTTS là lớn
nhất với tỷ lệ tương ứng 33,92%, diện tích này tuy không lớn lắm so với các
xã khác ở ven phá Tam Giang nhưng được xác định là ngành kinh tế mũi
nhọn của xã, nguồn lợi và là nguồn sinh kế quan trọng của ngư dân.
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất trong cơ cấu các loại đất
nông nghiệp của xã, chỉ là 0,2%, nhưng lại có giá trị kinh tế và giá trị sinh học
rất cao. Đặc biệt, có rừng ngập mặn Rú Chá, một nguồn lợi quí giá cho việc
phát triển KT-XH và chuyển đổi sinh kế cho người dân, một tiềm năng để
phát triển du lịch sinh thái trong tương lai.
21
- Tình hình dân số và lao động.
Vấn đề dân số và lao động ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh tế
của địa phương, một mặt tạo ra tiềm lực để phát triển, một mặt lại cản trở sự
phát triển khi vấn đề công ăn việc làm, đời sống nhân dân không được đảm
bảo, để thấy được tình hình dân số và lao động của xã ta xem xét bảng sau:
Bảng 6: Đặc điểm về nhân khẩu và lao động của xã Hương Phong
Chỉ Tiêu ĐVT Qui mô
Tổng số hộ Hộ 2328
- Tổng số nhân khẩu Khẩu 11371
- Tổng số lao động Lao động 4901
+ Lao động ngư nghiệp Lao động 610

nhầp cho mỗi hộ sản xuất cả trong và ngoài nông nghiệp.
4.1.2. Hoạt động NTTS tại vùng đầm phá nghiên cứu
4.1.2.1. Sự suy giảm diện tích và hiệu quả nuôi tôm chuyên canh
NTTS ở xã Hương Phong được xem là hoạt động sản xuất chính và đóng
góp lớn vào tổng thu ngân sách của địa phưong. Ở đây, hoạt động NTTS mà
cụ thể là nuôi chuyên canh tôm có lịch sử phát triển từ rất lâu. Theo các tài
liệu thống kê thì hình thức nuôi này xuất hiện trên địa bàn từ những năm
1986, thế kỷ XX và không ngừng phát triển, nhất là giai đoạn từ 1999-2006.
Trong số các loài thủy sản, tôm Sú được chọn làm loài nuôi chính vì phù hợp
với điều kiện nước lợ vùng đầm phá và mang lại giá trị kinh tế cao.
Những năm đầu thí điểm với sự tăng trưởng chậm trong diện tích nuôi
tôm. Ngành nuôi tôm đã nở rộ tại địa phương này vào những năm 1998, 1999
với hơn 90% số hộ trong xã tham gia NTTS và thực sự đã làm thay đổi bộ
mặt của vùng nông thôn nơi đây. Sau trận lũ lịch sử 1999, môi trường đầm
phá được trong sạch hơn, độ mặn thích hợp hơn, thuận lợi cho việc NTTS mà
đặc biệt là nuôi chuyên tôm. Kết quả là 3 năm 1999, 2000, 2001, hơn 90% số
hộ nuôi trồng có lãi (trung bình từ 40-50 triệu đồng/hộ/năm).
Chính vì thế mà trong những năm tiếp theo, diện tích nuôi tôm không
ngừng tăng lên. Tuy nhiên diện tích nuôi trồng đó lại tăng lên một cách ồ ạt,
không chú ý đến quy hoạch dẫn đến tình trạng xây dựng ao hồ với mật độ cao
trong khi điều kiện hạ tầng phục vụ nghề nuôi tôm (đê, hồ xử lý, hệ thống dẫn
nước…) chưa đáp ứng đầy đủ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự ô nhiễm môi trường nuôi và môi trường đầm phá. Mặc khác, với tâm lý
nóng vội, cách làm mang tính tự phát theo phong trào và thiếu quản lý, kiểm
23
soát. Các hộ nuôi không tuân thủ theo yêu cầu kỷ thuật, theo quy hoạch làm
cho tình hình dịch bệnh ngày càng lan rộng, vùng đầm phá lâm vào tình trạng
ô nhiễm nghiêm trọng. Đặc biệt là giai đoạn từ năm 2003-2006.
Trong những năm này, tình hình dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều.
Cụ thể, các bệnh như: đốm trắng, đầu vàng, đóng rêu, vân mang…phát triển

cùng với tôm là cá Dìa. Tuy nhiên, đây là loài cá khó nuôi, lại có giá bán cao
nên gặp khó khăn trong việc tiềm kiếm thị trường đầu ra. Trong những năm
sau đó thì cá Kình, một loài cá dễ sống và giá cả thấp hơn đã được đưa vào
nuôi thay thế cho cá Dìa. Đến nay, mô hình nuôi xen ghép phổ biến nhất ở
đây là tôm Sú- Cua- cá Kình.
Theo kết quả điều tra cho thấy, dịch vụ con giống trên địa bàn hầu như
không có, nguồn giống được lấy từ Thuận An với số lượng ít (20%) còn đa số
phải lấy giống tôm Pots ở tận Đà Nẵng, do phải vận chuyển xa, chất lượng
con giống giảm sút lại chưa qua ươm thả nên một số hồ nuôi sau khi mới thả
mấy ngày thì bị dịch bệnh, để giải quyết vấn đề này thì chính quyền địa
phương đã đưa ra khuyến cáo là nên thả tôm thịt, nghĩa là tôm đã qua ươm
nuôi, không nên thả thẳng giống tôm Post xuống hồ khi mới lấy về.
Giống cá Kình thì được xem là chủ động nhất (90%), được khai thác từ
tự nhiên, chi phí thấp và có ngay trong xã, còn giống Cua thì không được chủ
động và phải mua ở các địa phương khác. Một khó khăn nữa trong nguồn
giống nuôi xen ghép tại địa phương đó là giống rong câu, nguồn giống này
chủ yếu lại phải đi mua hoặc lấy nơi khác về vì đa số các hồ nuôi ở đây là hồ
cạn nên rong câu không phát triển. Do đó, khi tiến hành nuôi xen ghép thì
phải cấy thêm một lượng rong câu nhất định để làm thức ăn cho cá đồng thời
giúp làm sạch môi trường.
Thời vụ nuôi thủy sản xen ghép tại xã Hương Phong thường được bắt
đầu vào tháng 2 Dương lịch, cuối tháng 2 thì bắt đầu thả giống, nếu thả muộn
hơn thì đi kèm với kích cỡ giống lớn. Tháng 8 là thời điểm thu hoạch, vào
thời điểm độ mặn phù hợp và thu hoạch trước mùa lũ (9-11). Số vụ nuôi có
thể giao động từ một đến 2 vụ. Qua quá trình điều tra và thảo luận cho thấy,
nếu vụ đầu thu hoạch thành công, người dân có thể không làm thêm vụ thứ 2
vì đây là thời điểm dễ chịu rủi ro do mưa lũ. Ngược lại, nếu vụ đầu thua lỗ thì
một tháng sau khi thu hoạch vụ thứ nhất thì người nuôi sẽ đầu tư cho vụ thứ 2
mà thực tế thì đây là vụ thứ 1. Người dân thu hoạch theo hình thức “ đánh tỉa
thả bù” tức là chỉ đánh bắt những con to, đủ trọng lượng để bán, sau đó mua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status