đánh giá mô hình nuôi thuỷ sản xen ghép tại xã quảng an, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghề nuôi trồng thủy sản ở đầm phá Thừa Thiên Huế bắt đầu phát triển
mạnh từ những năm 1990, đến nay đã trở thành thế mạnh và mũi nhọn trong
phát triển kinh tế của Tỉnh. Với diện tích hơn 22.000 ha mặt nước đầm phá,
Thừa Thiên Huế là tỉnh có tiềm năng lớn về phát triển nuôi trồng thủy sản.
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh các ngành khai thác tài
nguyên đầm phá mà chủ yếu là nghề nuôi tôm với nhiều hình thức, mức độ
thâm canh và trình độ khác nhau đã làm thay đổi diện mạo của toàn vùng đầm
phá ven biển. Một bộ phận dân cư trong vùng có đời sống tăng đáng kể, bên
cạnh đó một số vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái nảy sinh cần
được tiếp tục nghiên cứu. Sự bùng nổ nuôi tôm một cách ồ ạt và tự phát sau
năm 1999 đã làm cho không gian đầm phá bị chia cắt manh mún, môi trường
bị ô nhiễm nghiêm trọng, nguồn lợi thủy sản đang giảm sút. Những điều này
sẽ để lại hậu quả nặng nề cho vùng đầm phá hiện tại và trong tương lai.
Xã Quảng An, Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong 33 xã
thuộc khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích mặt nước đầm phá
là 400 ha. Đây là một trong những vùng đi đầu trong phong trào nuôi trồng
thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng ở huyện Quảng Điền. Trước đây
Quảng An là vùng phát triển mạnh việc nuôi tôm trên Đầm Phá, đặc biệt sau
trận lũ lịch sử năm 1999 tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển nuôi
trồng thủy sản. Vì vậy có rất nhiều hộ gia đình trở thành nhà tỷ phú nuôi tôm,
xong do lợi nhuận lớn, việc nuôi tôm diễn ra một cách ồ ạt, người nuôi chạy
theo lợi nhuận cá nhân, phát triển tự phát, kinh nghiệm sản xuất nuôi trồng
còn non trẻ, thiếu sự quy hoạch của chính quyền địa phương trong việc phát
triển nuôi trồng thủy sản và quản lý tài nguyên vùng đầm phá. Sau năm 2001
tình trạng môi trường tại các hồ nuôi bị ô nhiễm nặng, dịch bệnh có xu hướng
gia tăng, ảnh hưởng xấu đến năng suất và hiệu quả nuôi tôm, nhiều hộ gia
đình thất thu, thua lỗ, nợ nần chồng chất làm cho người dân nơi đây vốn đã
nghèo nay lại còn nghèo hơn.

2.1.1. Khái niệm về mô hình
Trong thực tế, để khái quát hoá các sự vật, hiện tượng, các quá trình,
các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng
mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau mỗi laọi mô hình chỉ dặc trưng
cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hinh
chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
Theo quan điểm của nhiều cơ quan chuyển giao, mô hình cần có các
đặc trưng sau:
-Là hình mẫu tối ưu cho một giả pháp sản xuất
-Phải có tính đại diện cho vùng có điều kiện tương tự
-Phải có tính hiệu quả: về kinh tế, xã hội, môi trường
2.1.2. Khái niệm về nuôi xen ghép
Nuôi xen ghép là hình thức nuôi một số đối tượng hỗn hợp trong cùng
một ao nuôi. Đây là một phương thức đầy hứa hẹn trong việc làm giảm sự lệ
thuộc của người nuôi vào nguồn thức ăn cá tạp. Phương pháp này là sự kết
hợp đơn giản giữa một loài làm thức ăn với loài nuôi chính trong ao.Việc lựa
chọn đối tượng nuôi phụ nên chọn những đối tượng không đối kháng với loài
nuôi chính về tính ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển tốt cho các đối
tượng trong ao.
2.1.3. Phương pháp đánh giá mô hình.
Đánh giá mô hình là cuối cùng trong quá trình thực hiện mô hình, đánh
giá là xem xét một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành
công và những tác động về kinh tế, xã hội, môi trường… của mô hình so với
mục tiêu đã đề ra.
Trên thực tế có nhiều phương pháp đánh giá về mô hình:
- So sánh giữa thực tế đạt được với mục tiêu của mô hình đề ra.
3
Đây là phương pháp rất thông dụng trong việc đánh giá mô hình hay dự
án, khi só sánh cần xem xét trong bối cảnh cụ thể, chú ý đến mục tiêu chung,
mục tiêu cụ thể và các giả thiết quan trọng đã được xác định khi lập kế hoạch

không mâu thuẫn đối kháng về tập tính dinh dưỡng. Trên cơ sở đó họ đã họ
đã đưa từ 5 - 7 loài cá khác nhau như cá chép, cá rô phi, cá Wuchang, cá trắm,
cá mè trắng, và cá mè hoa,…vào nuôi trong cùng một ao (Zhong Lin, 1991).
Kết quả của mô hình nuôi này là đã tận dụng được các tầng nước khác nhau
làm tăng hiệu quả sử dụng khối nước. Quan trọng hơn là sự tương hỗ của các
đối tượng nuôi trong dinh dưỡng, tận dụng tối đa lượng thức ăn đưa vào. Cụ
thể, cá trắm cỏ ăn một lượng cỏ rất lớn nên nếu nuôi riêng đối tượng này sẽ
thải một lượng lớn phân vào ao gây ô nhiễm môi trường. Khi nuôi ghép phân
thải của cá trắm cỏ là thức ăn trực tiếp cho cá rô phi, cá trôi và cá mè. Bên
cạnh đó phân thải có tác dụng như việc bón phân chuồng khi phân giải thành
các muối dinh dưỡng sẽ kích thích cho thực vật phù du phát triển, là loại thức
ăn chính cho cá mè trắng. Cá chép có tập tính ăn đào bới nền đáy giúp cho
việc khoáng hóa các chất dinh dưỡng vào nước và đồng thời tạo điều kiện cho
các chất khí độc thoát ra ngoài dễ dàng (Zhong Lin, 1991). Ở nước ta hiện
nay các mô hình nuôi ghép này đã và đang được áp dụng ở hầu hết các tỉnh
thành trong toàn quốc và cho kết quả tốt.
Nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn có lịch sử phát triển muộn hơn
so với nghề nuôi cá nước ngọt. Tuy nhiên, do gíá trị kinh tế cao của các đối
tượng nuôi, người sản xuất đã tập trung phát triển quá mạnh theo hướng
chuyên canh nên đã làm cho chất lượng môi trường nước trong các ao nuôi bị
suy thoái nghiêm trọng và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh phát triển,
đặc biệt trong nuôi tôm. Trước tình hình như vậy nhiều nhà khoa học trên thế
giới đã đầu tư nghiên cứu theo một số hướng khác nhau. Một hướng nghiên
cứu nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước là nuôi kết hợp nhiều đối
tượng trong cùng một ao, làm tăng tính bền vững trong nghề nuôi trồng thủy
sản nước lợ - nước mặn. Như vậy mô hình nuôi xen ghép có ý nghĩa quan
trọng trong việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng bền vững. Nó
không chỉ làm tăng hệ số an toàn trong việc tham gia nuôi trồng thuỷ sản mà
còn có khả năng cải tạo môi trường đảm bảo và tốt hơn so với một số hình
thức nuôi khác như chuyên canh tôm.

biệt là đối với những hộ hoạt động sinh kế chủ yếu từ NTTS. Ngành Thủy sản
cũng tăng cường sử dụng hợp lý, có hiệu quả các loại mặt nước, ưu tiên nuôi
trồng thuỷ sản biển, nuôi mặt nước lớn trên các hồ chứa và đầm phá. Khuyến
6
khích mọi thành phần kinh tế: kinh tế hợp tác, doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài, hộ gia đình đầu tư vào nuôi trồng thủy sản để nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm nuôi trồng, tạo ra nhiều nguồn cung cấp nguyên liệu lớn,
ổn định cho chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
2.2. Tình hình phát triển thủy sản ở Việt Nam
Nước ta có bờ biển dài 3.260 km và có vùng biển đặc quyền kinh tế
rộng gần một triệu kilômét vuông. Vùng biển nước ta được bao bọc bởi nhiều
hòn đảo lớn nhỏ tạo nên đới chuyên tiếp giữa đất liền với biển đặc biệt là ó
nhiều đầm phá vùng vịnh. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển khai
thác và nuôi trồng thủy hải sản. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu
với cơ sở hạ tầng thấp nước ta chưa phát huy được hết tiềm năng của mình.
Nếu như năm 1981, tổng sản lượng thuỷ sản chỉ đạt 596.356 tấn (trong đó
khai thác đạt 416.356 tấn, nuôi trồng đạt 180.000 tấn), giá trị kim ngạch xuất
khẩu đạt 11,2 triệu USD. Năm 1986 tổng sản lượng đạt 840.906 tấn (khai thác
đạt 598.040 tấn, nuôi trồng đạt 242.866 tấn), kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
100 triệu USD. Năm 2003 ngành thủy sản Việt Nam đã đạt tổng sản lượng
khoảng 2,53 triệu tấn trong đó nuôi trồng thủy sản là 1,11 triệu tấn góp phần
đưa kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt hơn 2,24 tỉ USD và tỉ trọng giá trị
thủy sản trong nông nghiệp chiếm 21,3% (tăng 4,80 % so với năm 2002) (Bộ
Thủy sản, 2004). Các số liệu này cho thấy ngành thủy sản ngày càng đóng vai
trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là một trong những lĩnh vực
đang được Chính phủ đầu tư phát triển. Tháng 12/1999, Chính phủ đã thông
qua chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản Việt Nam giai đoạn 2000-
2010, trong đó chỉ ra rằng, đến năm 2010 tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản
phải đạt 2 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 tỉ đô-la. Đồng Bằng Sông
Cửu Long được đánh giá là vùng trọng điểm về nuôi trồng thủy sản của Việt

2.3. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế một tỉnh duyên hải miền Trung, có hệ thống đầm phá
ven biển rộng lớn gần 22.000 ha được xếp vào loại lớn của thế giới. Hệ thồng
đầm phá Tam Giang Cầu Hai Lăng Cô chạy dọc suốt 5 huyện ven biển Thừa
Thiên Huế, từ Phong Điền đến Phú Lộc, là một vùng đầm phá nước lợ với hệ
sinh thái sông biển phong phú và đặc sắc là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi
cho nhiều loại thủy sinh phát triển, một lợi thế cho nhiều ngành nghề nông
lâm, ngư nghiệp, mà đặc biệt là nghề nuôi trồng thủy sản. Sự phát triển nhanh
8
của nghề NTTS được thể hiện qua sản lượng NTTS hàng năm của tỉnh đặc
biệt là sản lượng từ NTTS của tỉnh năm 2007.
Biểu đồ 1: Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của các huyện đầm phá năm 2007
Nguồn: Báo cáo tổng kết NTTS Tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2007
Năm 2007, tổng sản lượng nuôi trồng đạt 8179,58 tấn, trong đó sản
lượng thuỷ sản nước lợ là 4697,2 tấn bằng 57,43% tổng sản lượng NTTS. Sản
lượng tôm các loại đạt 3771,3 tấn chiếm 46,1% tổng sản lượng NTTS(Trong
đó tôm chân trắng: 800 tấn, Tôm rảo 20,8 tấn), sản lượng cá nước lợ đạt
582,7 tấn chiếm 7,12% tổng sản lượng nuôi trồng; sản lượng cua đạt 128,2
tấn chiếm 1,6% tổng sản lượng nuôi trồng. Có thể nói tổng sản lượng tôm
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng thu NTTS nói chung, điều này cho thấy
sự phát triển nhanh của nghề nuôi tôm của tỉnh trong những năm gần đây.
Biểu đồ 2: Diện tích NTTS của các huyện ven phá năm 2007.
Nguồn: Báo cáo tổng kết về nuôi xen ghép của tỉnh Thừa Thiên Huế
năm 2007
(Ghi chú: S1 là diện tích NTTS, S2 là diện tích nuôi xen ghép)
9
Diện tích NTTS của tỉnh tiếp tục được mở rộng từ sau năm 1999, năm
2007 tổng diện tích NTTS của toàn tỉnh là 5.447,3 ha trong đó diện tích của 5
huyện ven phá là 3.712,1 ha chiếm 68,1% tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản
của toàn tỉnh, diện tích nuôi đơn canh tôm của 5 huyện là 3.712,1 ha chiếm

nước cần phải đựoc quản tâm nhiều nhất. Một khi mật độ nuôi trong ao tăng
lên, khuynh hướng vận động trong hệ thống ao nuôi này là làm sao phải đưa
về trạng thái cân bằng tự nhiên, nên tình trạng vật nuôi luôn nhạy cảm với
bệnh tật. Việc cung cấp quá nhiều thức ăn tự nhiên ( thức ăn nhân tạo ) cũng
như nhân tạo, mật độ nuôi dày sẽ khiến cho môi trường dễ bị nhiễm bẫn, làm
thay đổi thành phần laòi sinh vật, tạo điều kiện cho một số loài tảo phát triển
mạnh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của vật nuôi. Cho đến nay nhìn
chung chất lượng môi trường nước trong hệ thống đầm phá còn tương đối tốt.
Tuy nhiên hiện tại đã bắt đầu có một số vấn đề có thể gây nguy hại cho chất
lượng nước sông và đầm phá như các vết dầu loang từ các phương tiện giao
thông thủy. Ô nhiễm khuẩn chỉ mới ở mức cục bộ nhưng đã bắt đầu có triệu
chứng lan rộng ở các khu nước ven bờ đầm phá tập trung dân cư. Dư lượng
các chất hữu cơ, hóa chất bảo vệ thực vật và kim loại nặng cũng đã xuất hiện
ở mức cục bộ. Những biến động lớn về không gian và thời gian của các yếu tố
như độ mặn, pH và sự nghèo muối dinh dưỡng phốt pho, nitơ làm hạn chế
chất lượng nước đầm phá.
Môi trường nước đã có dấu hiệu ô nhiễm và nguy cơ dịch bệnh trong
nuôi trồng thuỷ sản ngày càng tăng. Một số vùng gặp nhiều khó khăn do dịch
bệnh liên tục nhưng chậm được khắc phục làm cho một bộ phận nhân dân
vùng nuôi trồng thuỷ sản còn gặp nhiều khó khăn. Nuôi trồng thuỷ sản phát
triển chưa bảo đảm bền vững. Đa số diện tích đều theo lối quảng canh cải
tiến, độc canh tôm sú, năng suất, chất lượng chưa cao, hiệu quả thấp và không
ổn định, nhất là 3 năm gần đây.
2.4.2. Dịch bệnh và sử dụng quá mức các chất kháng sinh trong NTTS
Dịch bệnh thuỷ sản đang là một thách thức lớn đối với những người đang
NTTS của tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và xã Quảng An nói riêng. Các loại
dịch bệnh thường xảy ra xuất phát từ nhiều nguyên nhân: nguồn gốc giống, thức
ăn, môi trường bên ngoài… với các loại bệnh thường gặp là vàng mang, đỏ thân,
đốm trắng, đóng rêu… những loại bệnh này rất khó xử lý và ảnh hưởng lớn đến
năng suất cũng như chất lượng sản phẩm.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nông hộ NTTS và tham gia làm mô hình nuôi xen ghép tại xã Quảng
An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Vùng nghiên cứu: là Xã Quảng An- Quảng Điền - Thừa Thiên Huế,
đây là vùng nằm trong khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích
mặt nước 400 ha tạo điều kiện thuận lợi cho vùng phát triển ngành nuôi trồng
thủy sản.
- Thời gian:Thực hiện từ 2/1/2008-5/5/2008.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với các nội dung cụ thể sau:
3.3.1. Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản của xã Quảng An trong giai
đoạn 2005- 2008
- Diện tích nuôi trồng, các loài nuôi qua các năm 2005- 2008
- Số hộ nuôi, hình thức nuôi. Nguồn giống
- Kết quả nuôi trồng thuỷ sản đạt được trong giai đoạn 2005-2008
+ Tỉ lệ phần trăm số hộ thành công / thất bại theo hình thức nuôi trong
giai đoạn 2005-2008
+ Mức độ thành công / thất bại của từng hình thức nuôi
- Sự thay đổi hình thức nuôi trong nuôi trồng thủy sản
- Mức độ quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản của chính quyền địa
phương trong việc tổ chức nuôi trồng thủy sản. Tác dụng của việc quy hoạch
trong nuôi trồng thủy sản
3.3.2. Đặc điểm nông hộ
- Số lao động/ khẩu
- Tỉ lệ nhân khẩu/ giới
- Trình độ của chủ hộ
13
- Thu nhập trung bình của mỗi hộ

3.4.2. Thu thập thông tin dữ liệu
- Thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thu được từ cấp cộng đồng, dựa
vào các tài liệu, niên giám thống kê của các cấp, báo cáo của các cơ quan
chuyên ngành và các cấp: UBND Tỉnh, phòng NN& PTNT, sở thủy sản,
UBND xã, Một số nghiên cứu liên quan đến mô hình thuỷ sản nuôi xen ghép
tại vùng nghiên cứu. Ngoài ra còn thu thập thông tin từ những người am hiểu
cộng đồng, cán bộ UBND xã Quảng An, Cán bộ phụ trách về kỹ thuật NTTS
tại địa phương thông qua việc phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn một nhóm
người am hiểu trong cộng đồng
- Thu thập thông tin sơ cấp:
+ Phỏng vấn nông hộ thông qua phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
bằng bảng câu hỏi
+ Phỏng vấn sâu: cán bộ địa phương, cán bộ thực hiên dự án NAV năm
2007 tại địa phương, người dân am hiểu về nuôi trồng thuỷ sản, cán bộ
chuyên viên về NTTS huyện Quảng Điền
+ Phỏng vấn nhóm sử dụng công cụ SWOT và động não
+ Thảo luận nhóm: 30 hộ được chọn
3.4.3. Phân tích dữ liệu
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel và phương pháp
thống kê mô tả.
15
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và sinh kế của xã Quảng An
4.1.1. Tình hình dân số và lao động
Vấn đề dân số và lao động ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh tế
của địa phương. Một mặt tạo ra tiềm lực để phát triển, một mặt lại cản trở sự
phát triển khi vấn đề công ăn việc làm, đời sống nhân dân không được đảm bảo.
Để thấy được tình hình dân số và lao động của xã năm 2007 xem bảng sau:
Bảng 1: Tình hình dân số và lao động của xã năm 2007

không thể thay thế. Với cây trồng, vật nuôi đất đai không chỉ là môi trường
sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưõng, năng suất của chúng phụ thuộc
rất nhiều vào kết cấu của đất. tình hình sử dụng đất đai của xã được thể hiện
ở bảng 2.
Bảng 2: Quy mô, cơ cấu đất đai của xã năm 2007
Chỉ tiêu ĐVT Diện tích Tỷ lệ %
Tổng diện tích đất tự nhiên Ha 1.421 100
Đất nông nghiệp Ha 650,28 45,76
Đất sản xuất nông nghiệp Ha 481,87 74,10
Đất NTTS Ha 162,31 24,96
Đất nông nghiệp/hộ Ha 0,3 0,046
Nguồn: Báo cáo tình hình đất đai của xã Quảng An năm 2007
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.421 ha trong đó đất nông nghiệp
là 650,28 ha chiếm 45,76 % tổng diện tích đất tự nhiên. Tổng diên tích đất
nông nghiệp gần bằng một nửa tổng diện tích đất tự nhiên trên toàn xã, cộng
với bình quân diện tích đất nông nghiệp/hộ là 0,3 ha cho thấy nền kinh tế ở
địa phương chủ yếu dựa vào nông nghiêp với hai ngành chính là trồng lúa và
NTTS. Điều này thể hiện rõ qua diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm
74,10% và diện tích đất NTTS là 24,96% chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích
đất nông nghiệp của xã. Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp và NTTS
17
chiểm tỷ lệ cao trong tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn xã cho thấy các
hoạt động sinh kế của người dân trong vùng chủ yếu là từ nông nghiêp, trong
đó một số hoạt động chính từ nông nghiệp đem lại thu nhập cho nông hộ là
trồng lúa, đánh bắt và NTTS.
Như vậy việc sử dụng cơ cấu đất đại trên địa bàn của xã sẽ phản ánh rõ
các hoạt động tạo sinh kế của địa phương, việc sử dụng diện tích đất có hợp lý
hay không là nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ và sự phát triển
của xã.
4.1.3. Tình hình kinh tế, văn hoá và giáo dục

và chất lượng thức ăn không đảm bảo. Tất cả những vấn đề trên cần phải
được quan tâm phát triển để nâng cao năng suất và hiệu quả NTTS.
Về công tác thuỷ lợi, tưới tiêu của xã có nhiều chuyển biến tích cực trong
việc thực hiện kiên cố kênh mương, xây dựng trạm tưới tiêu. Tỷ lệ kênh mương
được bê tông hoá chiếm 35% đảm bảo tưới tiêu thường xuyên cho 398 ha.
Bên cạnh hệ thống giao thông thuỷ lợi, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ
sản xuất và đời sống ngày một đầy đủ. Tỷ lệ hộ dùng điện của xã hiện nay là
100% và tỷ lệ dùng nước sạch là 100%.
Ngành giáo dục, y tế của xã cũng phát triển mạnh trong những năm gần
đây, hiện xã có hai trường tiểu học và một trường trung học cơ sở, không có
trẻ em bỏ học, tỷ lệ học sinh theo học các trường trung học phổ thông, trung
học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học của xã ngày một gia tăng. Số học sinh
tốt nghiệp trung học cơ sở năm 2007 là 91%, tốt nghiệp trung học phổ thông
là 65%. Số học sinh đậu đại học là 19 người và đậu cao đẳng là 3 người. Sự
phát triển của ngành giáo dục phản ánh một phần nền kinh tế của địa phương,
những gia đình có con em được đi học trước hết họ phải có đủ điều kiện về
kinh tế mới đảm bảo việc học hành cho con em của mình, còn những hộ gia
đình nghèo và khó khăn thì việc học của con em họ thường chỉ dừng lại ở
trung học cở sở hoặc là xoá nạn mù chữ.
Hiện xã đã xây dựng được một trạm y tế khang trang với 6 cán bộ nhân
viên, hàng năm khám và chữa cho hơn 1000 lượt người dân trong xã. Việc
xây dựng trạm y tế xã giảm bớt một phần chi phí cho người dân phải lên tỉnh
hoặc huyện khám chữa bênh khi ốm đau.
Có thể nói tình hình kinh tế văn hoá xã hội của xã trong những năm gần
đây có sự tăng trưởng nhanh, sự tăng trưởng này phản ánh nhu cầu sống của
của người dân trong vùng và cũng là điều kiện để phát triển nông nghiệp theo
19
chiều sâu đặc biệt là ngành nuôi trồng thuỷ sản một ngành kinh tế trọng điểm
của xã.
4.1.4. Đặc điểm các hộ khảo sát

20
gia đình. Vì vậy nó ảnh hưởng nhiều đến kết quả và khả năng nuôi trồng thuỷ
sản của nông hộ.
Xét về độ tuổi của chủ hộ, độ tuổi bình quân là 45,6 tuổi. Đây là độ tuổi
có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, với những kiến thức thực tế đã tích luỹ
được qua nhiều năm các chủ hộ có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản nói riêng. Tuy nhiên có sự khác biệt về độ tuổi
giữa người tham gia nuôi xen ghép với nuôi đơn. Những hộ nuôi đơn trung
bình là 48,9 tuổi còn những hộ nuôi xen ghép trẻ hơn và chủ yếu là những
người dưới 45 tuổi. Những người ở độ tuổi cao đều là những người tham gia
nuôi trồng sớm nên họ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản
hơn với những hộ trẻ tuổi. Tuy nhiên những người cao tuổi thường bảo thủ hơn
so với những người trẻ, họ khó chấp nhận cái mới vì vậy để họ làm theo những
cái mới cần phải có mô hình trình diễn và những kết quả cụ thể đã đạt được.
Trình độ văn hoá ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và áp dụng các biện
pháp kỹ thuật vào trong sản xuất của các nông hộ. Kết quả điều tra cho thấy
số năm đến trường bình quân của các hộ điều tra là 6,4 năm là đa số chủ hộ ở
đây chưa học qua hết cấp hai so với nhiều vùng nông thôn khác thì đây là điều
kiện thuận lợi cho việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ, trao đổi kinh nghiệm
sản xuất cho các hộ gia đình. Số chủ hộ nghỉ ở cấp hai chiếm 50%, số hộ học
cấp ba chiếm 10% còn lại là đang học dở cấp một thì bỏ. Qua đó cho thấy
trình độ của chủ hộ còn thấp và hạn chế sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu
tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào trong sản xuất.
Đặc biệt là trong nuôi trồng thuỷ sản không chỉ đòi hỏi những ngưòi có kinh
nghiệm sản xuất mà cần phải có những nguời hiểu và nắm rõ kỹ thuật thì mới
đảm bảo trong quá trình sản xuất. Trong thời gian vừa qua do còn thiếu kinh
nghiệm, sản xuất tự phát nên nghề NTTS trong khu vực thiếu bền vững. Điều
này được thể hiện ở mức độ đầu tư kỹ thuật và nhận thức của người dân đối
với hoạt động này.
Nuôi trồng thuỷ sản thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng rủi ro cao

đầu tư vào nuôi trồng của người dân về qui mô sản xuất còn mang tính tự
phát, thiếu qui hoạch. Với sự biến động về diện tích lớn như vậy thì chắc chắn
khả năng ứng dụng kỹ thuật vào nuôi trồng của mỗi hộ cũng có nhiều sai khác
và tạo lên sự chênh lệch về thu nhập và sinh kế của nông hộ.
Tổng thu nhập của nhóm nuôi xen ghép và nuôi độc canh ở đây vẫn
còn thấp và không đảm bảo vì thu nhập của họ phụ thuộc nhiều vào điều kiện
ngoại cảnh. Thu nhập trung bình của nông hộ là 32 triệu đồng/ hộ/năm, bình
quân hộ thu nhập trên năm biến động từ 17,5 triệu đồng( hộ thu nhập thấp
nhất) đến 72,8 triệu đồng (hộ thu nhập cao nhất). Phần thu nhập này được tính
toán vào tất cả các sản phẩm của nông hộ sản xuất ra bao gốm cả phần được
22
sử dụng trong gia đình và phần nông hộ đi làm thêm bên ngoài.
Trong đó thu nhập của những hộ nuôi xen ghép và nuôi đơn có sự khác
biệt, thu nhập trung bình của các hộ nuôi đơn là 26,06 triệu đồng/ hộ/ năm,
trong khi đó thu nhập trung bình của hộ nuôi xen ghép là 34,1 triệu đồng/ hộ/
năm. Phần thu nhập của nông hộ chính là những hoạt động sinh kế của nông
hộ, sự khác biệt về độ tuổi, trình độ văn hoá và khả năng nắm bắt được kỹ
thuật nuôi trồng thuỷ sản sẽ là nhân tố ảnh hưởng đến một phần thu nhập và
sinh kế của nông hộ.
Như vậy với đặc điểm về nhân khẩu, lao động chính của nông hộ, trình
độ học vấn của chủ hộ, phương tiện NTTS… ảnh hưởng nhiều đến kết quả
nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có phần thu nhập của nông hộ vì những hộ khảo
sát chủ yếu có nguồn thu nhập từ NTTS. Những yếu tố này sẽ hạn chế hoặc
phát triển các hoạt động tạo sinh kế của nông hộ.
4.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở xã Quảng An
4.2.1. Quá trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản của xã Quảng An
Nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, chủ lực và lâu dài của
xã Quảng An. Toàn xã có đến hơn 245 hộ tham gia nuôi trồng thủy sản sống
chủ yếu dựa vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản chiếm gần nửa số hộ dân
trên toàn xã. Có thể nói nghề nuôi trồng thủy sản bắt đấu phát triển mạnh từ

Nuôi trồng thuỷ sản của xã được coi là ngành kinh tế trọng điểm, nó
không chỉ tạo việc làm cho một số lưọng lao động đang thất nghiệp trên địa
bàn xã mà còn đem lại một khoản thu nhập quan trọng đối với những hộ sống
chủ yếu dựa vào nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên tốc độ phát triển không ổn
định qua các năm, đặc biệt là từ năm 2003 trở lại đây tình hình nuôi trồng
thuỷ sản của xã gặp nhiều khó khăn về dịch bệnh, hạn hán và lũ lụt. Vấn đề
dịch bệnh được người dân quan tâm nhiều vì nó ảnh hưỏng và quyết định đến
năng suất, chất lượng và hiệu quả của việc nuôi trồng. Như đã nói ở trên dịch
bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản đang là vấn đề nan giải làm cho cho người
nuôi trồng gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn chưa tìm được biện pháp để phòng
và trừ. Có thể nói, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nuôi trồng thuỷ sản như
hiên nay là do người nuôi không có khả năng để xử lý tốt các khâu nuôi trồng
theo đúng quy trình kỹ thuật. Và một nguyên nhân hết sức quan trọng dẫn đến
tình trạng bùng phát nuôi trồng thuỷ sản không được kiểm soát như hiện nay
là do chính quyền địa phương và cơ quan ban ngành có liên quan đã không có
những quy hoạch vùng nuôi trồng thuỷ sản một cách cụ thể và chi tiết ngay từ
24
thời gian đầu. Việc cấp đất, diện tích mặt nước nuôi trồng diễn ra không theo
phân vùng, bất kì ai cũng có thể ra chiếm chỗ nuôi trồng thuỷ sản. Đã có
nhiều hộ dân trong vùng mặc dù chính quyền chưa kịp cấp đất nhưng đã tự ý
đào đắp phát ao hồ để nuôi trồng gây phương hại nghiêm trọng đến việc quản
lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản cũng như việc quản lý những nơi cư trú, bãi
giống, bãi đẻ, rong biển…Phát triển thuỷ sản một cách tuỳ tiện như vậy là
nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường khiến cho dịch bệnh phát triển mạnh,
gây nên việc thất thu từ nuôi tôm, và nảy sinh các mâu thuẫn xã hội. Bên cạnh
đó nó đã gây ảnh hưởng đến tương lai lâu dài của nguồn lợi thuỷ sản của
vùng, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và môi trường vùng đầm phá. Đây là
những vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu chứng minh.
Không chỉ riêng vấn đề quy hoạch vùng nuôi trồng để cho việc phát
triển nuôi trồng thuỷ sản một cách ồ ạt mà việc quản lý của chính quyền địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status