đánh giá mô hình đồng quản lý thủy sản đầm phá tại xã lộc bình và vinh hiền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Thừa Thiên Huế có bờ biển dài 126 km và đầm phá Tam Giang – Cầu
Hai,… rất thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Hệ
thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng trên 22.000 ha mặt nước, trải dài qua
5 huyện, tiếp xúc với 78 thôn, và được xem có ý nghĩa quan trọng đối với tỉnh
Thừa Thiên Huế [08]. Trong đó đầm Cầu Hai là đầm có diện tích lớn nhất
khoảng 10.000ha, đầm nằm về phía Nam của tỉnh, thuộc địa bàn huyện Phú Lộc
và thông với cửa biển Tư Hiền, có sự trao đổi giữa môi trường nước lợ và nước
mặn nên hệ động thực vật ở đây khá phong phú. Lộc Bình và Vinh Hiền là 2 xã
thuộc huyện Phú Lộc, chiều dài hai xã hợp với cửa biển Tư Hiền tạo thành một
vòng cung bao bọc lấy đầm Cầu Hai về phía Đông Bắc. Đây là nơi có nguồn tài
nguyên thủy sản dồi dào nhất vùng, sản lượng thủy sản đánh bắt mỗi năm của
người dân ở đây rất lớn, hàng năm đều có các luồng di cư của tôm cá từ biển vào
trong đầm.
Theo sự phát triển của xã hội, số lượng người sống mưu sinh dựa vào đầm
ngày càng tăng, không những thế mà cường độ đánh bắt ngày một lớn. Sự phát
tiển không kiểm soát của ngư cụ cố định mà chủ yếu là sáo đã gây cản trở giao
thông thủy, cản trở dòng chảy, sự di cư của các loài thủy sản, gây nên hiện tượng
bồi lắng, khiến môi trường nước trong đầm ngày càng ô nhiễm và làm cho ngư
trường khai thác tự nhiên giảm dần. Bên cạnh đó, một số loại ngư cụ đánh bắt
mang tính hủy diệt như rà điện, xiếc điện vẫn còn tồn tại, đặc biệt trong thời gian
gần đây xuất hiện một loại ngư cụ mới là Lừ. Với khả năng đánh bắt được nhiều
loại thủy sản nên trong thời gian ngắn lừ đã phát triển rất nhanh về số lượng
cũng như số hộ tham gia. Việc gia tăng nhanh chóng số lượng lừ làm gia tăng áp
lực khai thác lên tài nguyên vùng đầm. Những mâu thuẫn xung đột giữa các đối
tượng khai thác trên đầm cũng thường xuyên xảy ra hơn.
Trước tình hình đó, thì phương thức quản lý Nhà nước theo kiểu tập trung,
chủ yếu dựa vào các đơn vị hành chính cấp xã, huyện tỏ ra không hiệu quả.
Nhằm khắc phục vấn đề này, trong những năm qua UBND tỉnh đã có nhiều

- Tìm hiểu và đánh giá các hoạt động quản lý và hỗ trợ sản xuất thủy sản do
chi hội Nghề cá thực hiện tại xã.
- Đánh giá kết quả thực hiện Đồng quản lý đối với chất lượng tài nguyên môi
trường đầm phá và cải thiện sinh kế người dân.
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Đồng quản lý và các loại hình Đồng quản lý
2.1.1. Khái niệm
Theo Hà Xuân Thông (2001), Đồng quản lý được hiểu như là cách thức chia
sẻ hoặc phân định quyền lực và trách nhiệm giữa chính quyền và những người
sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý một đối tượng nguồn lợi nào đó như nguồn lợi
cá, vùng rạn san hô, vùng nuôi thủy sản hoặc hồ chứa, một cánh rừng… phạm vi
và cách thức chia sẻ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau ở các nước
khác nhau và các địa phương khác nhau, do những điều kiện và nền văn hóa
khác nhau [01].
Theo Sen và Nielsen (1996) định nghĩa Đồng quản lý là một sự sắp xếp có sự
chia sẻ về mặt sức mạnh cũng như quyền lực nhằm quản lý nguồn lợi thủy sản
giữa các nhóm người sử dụng nguồn lợi và chính quyền [09].
Theo Pomeroy và Viswanathan (2003) thì các bên liên quan trong Đồng quản
lý bao gồm các tổ chức phi Chính phủ, nhóm người sử dụng nguồn lợi và chính
quyền. Đồng quản lý bao gồm quyền tham gia trong việc đưa ra các quyết định
quan trọng quy định cách thức, khi nào, ở đâu, bao nhiêu, và đối tượng nào được
khai thác.
Theo Jentoft và cộng sự (1998) đã cụ thể hóa thêm khi giải thích: “Đồng
quản lý là quá trình phối hợp và hợp tác trong việc đưa ra các quyết định quản
lý giữa đại diện các nhóm sử dụng nguồn lợi, Chính phủ, tổ chức nghiên cứu.
Theo nghĩa ai là người ra quyết định có hai thái cực: quyền lực của nhà nước và
quyền lực của ngư dân. Hình thức quản lý trên xuống, nhà nước đưa ra các
quyết định đơn độc còn người dân thụ động thực hiện. Ngược lại ĐQL tạo cho
người sử dụng nguồn lợi có quyền hành, tổ chức và thực hiện hệ thống quản lý

Trước những thành công của phương thức ĐQL nguồn lợi ven biển nói
chung, quản lý nghề cá thế giới nói riêng, Bộ NN & PTNT (Bộ Thuỷ sản cũ) đã
rất quan tâm đến phương thức quản lý này và ngay từ những năm đầu của thập
kỷ 90 (1991), Bộ Thuỷ sản đã cho phép Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản
hợp tác với các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu vấn đề này. Từ đó đến nay,
đã có một số hợp tác nghiên cứu, hội thảo, tham quan nước ngoài nhằm phát
triển phương thức ĐQL trong quản lý nghề cá ở Việt Nam.
Bằng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và trong nước, của các địa
phương, đến nay đã có 34 mô hình ĐQL đã được triển khai và áp dụng tại Việt
Nam bao gồm cả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tại 18 tỉnh, thành phố ở 7
Vùng sinh thái [04].
Năm 2005, Bộ NN & PT đã chỉ đạo hình thành nhóm công tác nghiên cứu
áp dụng phương thức ĐQL trong quản lý nghề cá và giao cho Viện Kinh tế và
Quy hoạch thuỷ sản chịu trách nhiệm điều phối hoạt động của Nhóm. Từ năm
2007 đến nay, với sự hỗ trợ của Dự án SCAFI có rất nhiều hoạt động về đồng
quản lý đã và đang được triển khai ở Trung ương và tiến hành xây dựng 9 mô
hình ĐQL tại 9 tỉnh điểm gồm: Sơn La, Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên
Huế, Bình Định, Đắc Lắc, Bến Tre, An Giang và Cà Mau [04].
2.1.3. Các loại hình đồng quản lý
Theo Sen và Nielsen (1996), có các loại Đồng quản lý sau [09]:
- Truyền đạt kiến thức: Chỉ có sự trao đổi thông tin tối thiểu giữa chính
quyền và ngư dân. Chính quyền ủy nhiệm thẩm quyền cho các cộng đồng ngư
dân ra những quyết định, và cộng đồn ngư dân chịu trách nhiệm thông báo cho
chính quyền những quyết định này. Trên thực tế, nó có thể không phải là một sự
sắp xếp Đồng quản lý chính thức nhưng nó là hình thức truyền thống của Đồng
quản lý thủy sản được Nhà nước công nhận. Hình thức Đồng quản lý truyền đạt
kiến thức có thể là sự ủy nhiệm thẩm quyền chính thức hoặc là thừa nhận tập
quán truyền thống cũng như quyền lực truyền thống.
- Chỉ thị: hình thức Đồng quản lý này ít có sự chia sẻ thông tin giữa chính
quyền và người dân. Kiểu đồng quản lý theo chỉ thị khác với hình thức quản lý

Các quyền đối với tài nguyên (Ostrom, 1994 and Pomeroy, 1994) và khung
phân tích do Barry và Meizen-Dick (2008) đề xuất bao gồm các quyền: quyền
tiếp cận, quyền khai thác/thu hoạch, quyền quản lý, quyền dành riêng hay loại
trừ, và quyền chuyển nhượng trao đổi. Việc thực hiện các quyền tài sản đối với
tài nguyên không tách rời nhau mà có liên hệ chặt chẽ, ví như thực hiện tiếp cận
gắn liền với thu hoạch theo các quy chế quản lý nhất định. Vì vậy, để phân tích,
xem xét việc thực hiện các quyền đối với tài nguyên, các quyền này được xem
xét trong tập hợp quyền.
- Quyền tiếp cận có thể coi là quyền tham gia vào các hoạt động quản lý, sử
dụng tài nguyên. Quyền tiếp cận xác định chủ thể tiếp cận, đối tượng tiếp cận,
mức độ tiếp cận theo các tiêu chí không gian, thời gian, phương thức tiếp
cận[12].
- Quyền thu hoạch xác định loại và lượng tài nguyên được chủ thể tiếp cận
lấy ra khỏi hệ tài nguyên theo các tiêu chí cụ thể về không gian và thời gian,
phương thức tiếp cận…
- Quyền quản lý là các quyết định về thể thức hoạt động, xây dựng các cơ
chế về quyền tài sản, phân vùng quy hoạch, xây dựng quy chế hoạt động quản lý
và sử dụng tài nguyên, tổ chức giám sát/kiểm soát thực hiện quy chế và giải
quyết xung đột.
- Quyền dành riêng hay quyền loại trừ là quyền ngăn cản tiếp cận tài nguyên
của người khác hoặc không cho phép ai đó tiếp tục tham gia vào hoạt động quản
lý và khai thác một loại tài nguyên nào đó.
- Quyền chuyển nhượng là quyền được trao đổi, mua bán, thay đổi chủ thể
quyền, hoặc sử dụng các quyền tài sản đối với tài nguyên cho các mục đích khác
nhau [12].
2.2.2 Cơ chế quyền đối với tài sản [12]
Cơ chế quyền tiếp cận mở: cơ chế quyền tiếp cận mở đối với tài nguyên đầm
phá là cơ chế tiếp cận rất phổ biến đã tồn tại từ lâu đời. Người xưa có câu “điền
tư, ngư chung”, nghĩa là đất nông nghiệp là tài sản riêng, còn tài nguyên thủy sản
là tài sản chung. Tất cả các hộ có quyền tiếp cận mặt nước cho mục đích khai

các hộ vi phạm đã củng cố quyền tập thể đối với lãnh thổ mặt nước đầm phá của
họ. Chủ thể quyền trong cơ chế này bao gồm các tổ chức cộng đồng như các
nhóm nghề nghiệp, thôn, HTX, các nhóm tự quản và các chi hội Nghề cá.
Cơ chế quyền tài sản cá nhân: là quyền dành riêng cho hộ hay cá nhân đối
với tài nguyên. Ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, một số quyền dành riêng cho
cá nhân trong khai thác thủy sản đã được hình thành trong quá khứ. Các quyền
này không được thừa nhận về pháp lý mà chỉ hình thành theo luật tục và được
cộng đồng thừa nhận. Cụ thể như: các khu vực gần trộ nò và trước miệng các trộ
đáy có thể coi là vùng dành riêng cho các chủ trộ nò hay trộ đáy vì các hộ khác
không thể hành nghề ở vị trí này.
2.3. Tổ chức cộng đồng trong xây dựng đồng quản lý
2.3.1. Vai trò tổ chức cộng đồng
Vai trò chính quyền cấp xã: Chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa
các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương trong việc quản lý tài nguyên
đầm phá. Chính quyền có vai trò hỗ trợ về mặt pháp lý và hỗ trợ xúc tiến các
hoạt động ĐQL. Truyền đạt, thực hiện các ý kiến chỉ đạo của cấp huyện, cấp
tỉnh, đồng thời đề đạt các ý kiến của cộng đồng người dân lên các cấp có thẩm
quyền. Xử lý các vụ việc xung đột mâu thuẫn liên quan đến đầm phá và lợi ích
của các hộ dân.
Vai trò của các tổ chức đoàn thể: Hiện nay, các tổ chức đoàn thể như Hội
Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, và một số tổ
chức hội khác đang dần phát huy hiệu quả trong công tác bảo vệ và phát triển tài
nguyên đầm phá ở Thừa Thiên Huế. Các đoàn thể thông qua sự tư vấn, hỗ trợ
của các cơ quan chức năng đã từng bước thể hiện mình như một tổ chức chuyên
sâu trong lĩnh vực bảo tồn tài nguyên thủy sản đầm phá. Đoàn Thanh niên đã
lồng ghép các hoạt động bảo tồn thiên nhiên vào chương trình hoạt động chính
như phát động phong trào vệ sinh môi trường đầm phá, tuyên truyền nâng cao ý
thức giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân.
Vai trò của cộng đồng dân cư địa phương: Cộng đồng người dân địa phương
tham gia nhiều lĩnh vực trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên thủy

Đầu tư.
- Luật Thủy sản ngày 26/11/2003. Khoản 1 điều 5: “Nhà nước có chính
sách bảo đảm phát triển thủy sản bền vững; khuyến khích, tạo điều kiện thuận
lợi cho tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản; bảo
đảm tái tạo nguồn lợi thủy sản và phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, sông,
hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác ”.
- Quyết định số 131/2004/QĐ-TTg ngày 16/7/2004 về phê duyệt Chương
trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010. Nội dung chương
trình: “Xây dựng các mô hình tổ chức quản lý vùng biển ven bờ phù hợp với tập
quán, truyền thống của ngư dân địa phương. Đồng thời phát huy và nâng cao
vai trò của cộng đồng ngư dân trong hoạt động quản lý, bảo vệ nguồn lợi và
môi trường sống của các loài thủy sản…”
- Nghị định số123/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 Về quản lý hoạt động khai
thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển. Khoản 6 Điều
10: “Trách nhiệm của Bộ Thuỷ sản là hướng dẫn UBND cấp tỉnh xây dựng cơ
chế, chính sách hỗ trợ cho ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp khai thác ven bờ
sang các nghề khác; quản lý dựa vào cộng đồng đối với vùng biển ven bờ; nội
dung pháp luật liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản phục vụ công tác
tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương". Khoản 4 điều 12: Trách nhiệm
của UBND các tỉnh: “…Phân cấp quản lý tuyến bờ cho UBND cấp huyện, cấp
xã; phát triển các mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng đối với việc
quản lý nguồn lợi thuỷ sản ở tuyến bờ”.
- Chỉ thị số 03/2006/CT-BTS ngày 27.03.2006. Tăng cường quản lý khai
thác các họat động thủy sản trên các vùng biển Việt Nam. “….tổ chức lại quản
lý vùng biển ven bờ theo hình thức dựa vào cộng đồng, nghiên cứu xây dựng các
mô hình tổ chức phù hợp với từng vùng biển; đề xuất chính sách giao quyền cho
cộng đồng quản lý vùng biển ven bờ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét,
phê duyệt”.
- Chỉ thị số 02/2007/CT-BTS ngày 15.06.2007. Tăng cường quản lý nghề cá
nội địa: “….Quản lý nghề cá nội địa với sự tham gia của cộng đồng; phải gắn

các huyện có vùng đầm phá được cấp quyền khai thác thủy sản cho các tổ chức
ngư dân cấp thôn, xã trong vùng mặt nước cụ thể thuộc địa bàn quản lý trên cơ
sở số lượng ngư cụ mùa vụ và đối tượng đánh bắt. Quyền khai thác thủy sản trên
vùng đầm phá điều 14 quy định: “các quyền hạn và trách nhiệm ngăn chặn kịp
thời hành vi vi phạm pháp luật thủy sản, trách nhiệm bảo vệ ngư trường, phát
triển nguồn lợi thủy sản, trách nhiệm bảo đảm luồng tuyến giao thông, trách
nhiệm phòng chống suy thoái môi trường vùng nước và nghĩa vụ thuế cho nhà
nước”.
Như vậy, chi hội Nghề cá cấp cơ sở đã được giao đầy đủ quyền hạn, cũng như
trách nhiệm trong việc khai thác, quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản đầm phá.
Quản lý khai thác thủy sản đầm phá là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan
quản lý nhà nước về thủy sản, của UBND các cấp và các cộng đồng sử dụng
nguồn lợi thủy sản đầm phá. Tổ chức ngư dân được giao quyền sử dụng vùng
mặt nước để khai thác thủy sản có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, thực hiện các
biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, chủ động sản xuất tái tạo
nguồn lợi thủy sản. Do vậy, các cộng đồng sử dụng nguồn lợi thủy sản mà đại
diện là các tổ chức ngư dân được xem như là đối tác của nhà nước trong quản lý
Nghề cá đầm phá Thừa Thiên Huế.
2.3.3. Phát triển hệ thống hội Nghề cá Thừa Thiên Huế [13]
Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế (HUEFIS) được thành lập năm 2003 là tổ chức
xã hội - nghề nghiệp tự nguyện của những cá nhân, tổ chức hoạt động trong các
lĩnh vực nghề cá. HUEFIS là thành viên của Hội Nghề cá Việt Nam (VINAFIS)
có phạm vi hoạt động trên toàn quốc.
Mục đích của Hội là tập hợp những cá nhân và tổ chức hoạt động trong các
lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ và hậu cần dịch vụ nghề cá
nhằm hợp tác, hỗ trợ nhau về kinh tế - kỹ thuật sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; để
nâng cao giá trị sản phẩm hàng hoá; phòng tránh thiên tai, ngăn ngừa dịch bệnh;
bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ môi trường; đại diện và bảo vệ
lợi ích hợp pháp của hội viên; góp phần phát triển nghề cá bền vững, từng bước
hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người làm

ven hồ và gần đây cấp cho các tổ chức cộng đồng ngư dân đánh cá quản lý.
Chính quyền cấp Tỉnh sẽ quản lý phần còn lại trong tỉnh bằng hệ thống giấy
phép.
Ở Campuchia, các bên liên quan cấp huyện, tỉnh, xã và thôn tham gia vào
quản lý nguồn lợi thuỷ sản ít khi làm việc với nhau. Người dân thì quen nhận
văn bản thông tin vào phút cuối còn các cơ quan chức năng thì tự ý thiết kế các
chương trình. Khi Nghị định về Thuỷ sản Cộng đồng được thực thi, tất cả các
bên liên quan phải làm việc cùng nhau nhưng hình như không ai biết bắt đầu từ
đâu. Cũng có một số xung đột tiềm ẩn trong cộng đồng thuỷ sản và các bên liên
quan khác nhau thường không tin tưởng nhau.
Một tổ chức phi chính phủ trong nước ở tỉnh Stung Treng ở Campuchia đã
nghĩ về việc hỗ trợ một cơ chế đơn giản - họ hỗ trợ một cuộc họp liên kết hàng
tháng về thuỷ sản giữa tỉnh và xã. Cuộc họp liên kết có 4 hạng mục định kỳ
trong chương trình nghị sự đó là: (1) giải thích luật cho người dân, (2) báo cáo
các trường hợp đánh bắt sai quy định, (3) thống nhất các giải pháp đối với các
vấn đề chính, và (4) kết nối thôn với các cơ quan nhà nước. Hiện nay, đã có
415.200 hecta vùng mặt nước nội địa của Campuchia đã cấp quyền đánh cá theo
lãnh thổ dưới hệ thống lô đánh cá (fishing lots).
Quản lý nghề cá ven bờ của Nhật Bản: Ở Nhật Bản, giấy phép đánh cá và
quyền đánh cá là những biện pháp quản lý hợp pháp. Hệ thống quản lý nghề cá
Nhật Bản được hình thành và phát triển cũng dựa trên nền tảng này.
Ngư dân Nhật Bản được tổ chức đến các Hiệp hội nghề cá theo luật hợp tác
nghề cá Nhật Bản. Điều này làm tăng cơ hội cho ngư dân trao đổi với nhau về
việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Ban đầu chính phủ Nhật Bản không khuyến
khích ngư dân tạo ra hệ thống quản lý Nghề cá dựa vào cộng đồng, nhưng nhờ
việc trao quyền khai thác cho một nhóm ngư dân nhất định mà đại diện là Hiệp
hội nghề cá đã làm cho họ bắt đầu nhận thấy nguồn lợi thủy sản trong vùng là sở
hữu của chính họ, đó chính là động lực cho ngư dân sáng tạo ra hệ thống quản lý
nghề cá dựa vào cộng đồng.
Hiện nay, số hộ ngư dân Nhật Bản vùng ven bờ tham gia vào các Hiệp hội

quản lý thuế khai thác thủy sản đã được ủy quyền cho Hội nghề cá hồ Lak thu và
chỉ nộp 25% số thuế thu được, phần kinh phí còn lại để lại cho ban chấp hành
chi hội chi phí tổ chức bộ máy, những hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
2.4. Chuyển biến quản lý tài nguyên ở Phá Tam Giang
Những thách thức trong quản lý hệ sinh thái ven biển đặc biệt phức tạp vì
những vấn đề liên quan đến lợi ích mà đầm phá mang lại trong phát triển NTTS,
những thách thức về kiểm soát dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng, và sự phức tạp
về các quy chế quản lý của Nhà nước trong NTTS, sự phát triển không kiểm soát
của các loại ngư cụ đặc biệt là sự tăng nhanh chóng của sáo và lừ khiến nảy sinh
nhiều mâu thuẫn giữa các đối tượng khai thác. Việc thiếu năng lực và sử dụng
phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống đã góp phần đưa lại sự không
hiệu quả trong công tác quản lý và thực hiện các quy định của chính quyền nhà
nước.
Theo đó, các công cụ đánh bắt và vùng nuôi trồng không hợp lý đã được loại
bỏ để mở rộng đường thủy đạo và cải thiện chất lượng nước, và để gia tăng cơ
hội tiếp cận sử dụng tài nguyên của các đối tượng KTDĐ. Chiến lược này đã tạo
ra các mâu thuẫn giữa các nhóm sử dụng nguồn lợi khác nhau. Thêm vào đó,
chính quyền tỉnh còn đề nghị mở rộng các hoạt động loại bỏ chướng ngại theo
cách trên cho tất cả các vùng để mở rộng đường thủy đạo (bất chấp hậu quả sinh
kế thay đổi đối với nhiều ngư dân) năm 2010. Chính quyền tỉnh thực hiện công
việc này mà ít có sự tham khảo ý kiến các bên liên quan và chuyên gia về
phương pháp thực hiện [02].
Theo hướng dẫn trực tiếp của chính quyền cấp tỉnh, chính quyền xã và các
lãnh đạo thôn đã tổ chức họp để thông báo cho người sử dụng tài nguyên về
những gì sẽ xảy ra và các hoạt động bắt buộc sẽ được thực hiện để đảm bảo sinh
kế khi hoạt động đánh bắt bị loại bỏ. Phần lớn các hộ dân đều không tự nguyện
làm theo những thay đổi này hoặc họ sẽ lập lại các hoạt động như củ mỗi khi các
nhà chức trách không có mặt tại hiện trường. Kết quả của hoạt động này có thể
biết trước được: nếu không có sự hổ trợ và hợp tác của người dân địa phương,
phương pháp này sẽ không thực thi.

3.1. Nội dung nghiên cứu

Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu:
- Đặc điểm nhân khẩu và phân loại hộ của cộng đồng thủy sản.
- Đặc điểm hộ khảo sát

Thực trạng quản lý và khai thác thủy sản tại các vùng đầm phá nghiên cứu:
- Thực trạng quản lý trước khi có chi hội Nghề cá
- Thực trạng khai thác thủy sản tại vùng nghiên cứu:

Tiến trình thành lập cơ chế đồng quản lý ở CHNC Lộc Bình I và CHNC
đầm phá Vinh Hiền .
Tiến trình gồm có các bước:
Nghiên cứu thực trạng khai thác và quản lý tại
cộng đồng, xác định các vấn đề tồn tại cần giải quyết; Hội thảo ở cấp xã và
cấp cộng đồng, thành lập chi hội nghề cá; Các hoạt động kiện toàn cơ cấu tổ
chức và xây dựng năng lực chi hội; Quy hoạch chi tiết quản lý tài nguyên
trong vùng quản lý của chi hội; Xây dựng quy chế quản lý của chi hội; Xây
dựng kế hoạch quản lý phát triển sinh kế, hoạt động hội; Thành lập Ban ĐQL
cấp xã và xây dựng cơ chế phối hợp quản lý giữa Ban ĐQL với chi hội; Trao
quyền khai thác và chức năng quản lý cho chi hội; Thực hiện ĐQL, giám sát,
đánh giá.

Các hoạt động đồng quản lý do chi hội tiến hành
- Hoạt động đồng quản lý trước khi được cấp quyền bao gồm các hoạt động
như: quy hoạch chi tiết các tiểu vùng; xây dựng quy chế quản lý; tuần tra bảo vệ
sản xuất và kiểm soát khai thác hủy diệt; tổ chức các hoạt động quản lý nâng cao
năng lực cho BCH và hội viên; giải quyết các xung đột tranh chấp về tài nguyên;
tuyên truyền vận động người dân tham gia vào chi hội.
- Hoạt động đồng quản lý sau khi được cấp quyền KTTS. Sau khi được trao

xã; báo cáo hoạt động của chi hội qua các năm; số liệu thống kê của chi hội về
khai thác và nuôi trồng; phương án cấp quyền khai thác mặt nước chi hội; kế
hoạch sắp xếp và chuyển đổi nò sáo trên đầm Cầu Hai.
- Phỏng vấn người am hiểu:
Đề tài cũng đã tiến hành phỏng vấn một số cán bộ địa phương và cán bộ của
CHNC: chủ tịch và phó chủ tịch CHNC, phó chủ tịch xã, cán bộ địa chính và
công an xã, trưởng thôn, cán bộ phụ trách thủy sản Phòng nông nghiệp huyện.
Các thông tin phỏng vấn: thực trạng quản lý và khai thác thủy sản trước và sau
khi CHNC thành lập, các hoạt động quản lý của chi hội, công tác phối hợp trong
ĐQL, kế hoạch và kết quả của hoạt động sắp xếp nò sáo, trao quyền,…
- Phỏng vấn nhóm hỗn hợp: bao gồm BCH chi hội và một số hộ ngư dân
trong vùng. Đặc điểm của nhóm là những người có am hiểu về các hoạt động
quản lý của chi hội, am hiểu về các loài thủy sản trong vùng mặt nước của chi
hội. Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu thực trạng các hoạt động ĐQL mà chi hội
đang tiến hành và so sánh giữa thực trạng với mong muốn nhằm đánh giá các
hoạt động quản lý; thống kê các loài thủy sản mà người dân biết đến và có khai
thác, thảo luận các vấn đề liên quan đến sự tăng giảm của các loài thủy sản đó.
- Phỏng vấn hộ: sử dụng Bảng hỏi bán cấu trúc đã chuẩn bị sẵn kết hợp với
phương pháp quan sát. Các thông tin thu thập: thông tin chung về hộ; các hoạt
động tạo thu nhập và chi tiêu của hộ; sự thay đổi trong hoạt động tạo thu nhập
của hộ; đánh giá của hộ về hoạt động quản lý khai thác của CHNC; đánh giá của
hộ về kết quả thực hiện ĐQL đối với nguồn tài nguyên và thu nhập của hộ.
3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý, phân tích bằng phương pháp thống kê thông
thường qua phần mềm Excel.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm nhân khẩu và phân loại hộ của cộng đồng thủy sản
Lộc Bình là xã nằm dọc theo chân núi Bạch Mã đâm ra biển, 6 thôn trong xã

Dân số luôn là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa
phương, đó có thể là nguồn lao động dồi dào để phát triển sản xuất, nâng cao thu
nhập cho hộ. Nhưng dân số phát triển quá nhanh thì những vấn đề như: dư thừa
lao động, vấn đề giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nghề là gánh nặng của
người dân và xã hội.
Quy mô dân số và lao động của cộng đồng ngư dân Hiền Vần I – Hiền Hòa II
là 545 hộ với 2779 nhân khẩu, cao hơn nhiều so với cộng đồng ngư dân thôn
Mai Gia Phường là 107 hộ với 622 khẩu. Tuy nhiên, quy mô khẩu/hộ và lao
động/hộ ở Mai Gia Phường lại cao hơn so với cộng đồng ngư dân Hiền Vân I và
Hiền Hòa II.
Phân loại hộ theo ngành nghề giữa hai địa phương cũng có sự khác nhau.
Cộng đồng các hộ dân ở Hiền Vân I – Hiền Hòa II chủ yếu tham gia khai thác và
NTTS, không có hộ nào làm nông nghiệp. Ngược lại, cộng đồng người dân ở
Mai Gia Phường hầu hết đều tham gia hoạt động trồng lúa và chăn nuôi. Trồng
lúa để cung cấp lương thực cho hộ và chăn nuôi là nhằm tận dụng những phụ
phế phẩm từ trồng lúa và lượng cá dư thừa từ KTTS. Bên cạnh đó, hoạt động
KTTS cũng thu hút rất nhiều hộ tham gia.
Tỷ lệ hộ nghèo ở Hiền Vân I - Hiền Hòa II là 16,68% thấp hơn so với Mai
Gia Phường 21,34%. Qua đó chứng tỏ điều kiện kinh tế và đời sống người dân ở
Hiền Vân I, Hiền Hòa II cao hơn, ổn định hơn. Hộ nghèo chủ yếu là những hộ
già, những hộ thuần nông nghiệp, có ít lao động trong gia đình.
4.1.2. Đặc điểm hộ khảo sát
Để phục vụ mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã tiến hành khảo sát 60 mẫu. Trong
đó 30 mẫu khảo sát tại Lộc Bình I tập trung chủ yếu và các hộ ở thôn Mai Gia
Phường và một số hộ ở thôn Hòa An, đây là những thành viên của Chi hội Nghề
cá Lộc Bình I. 30 mẫu ở Vinh Hiền tập trung chủ yếu vào 2 thôn: thôn Hiền Vân
I - nơi tập trung phần lớn các hộ làm nghề sáo và thôn Hiền Hòa II - thôn có
phần lớn số hộ dân làm lưới và lừ. Đặc điểm của các hộ được khảo sát được thể
hiện qua Bảng 2.
Qua bảng 2 có thể thấy cộng đồng ở hai điểm nghiên cứu có đặc điểm: có số

làm dịch vụ ở cả hai địa điểm nghiên cứu là rất ít.
Tuổi bình quân của chủ hộ ở Lộc Bình I là 44, và ở Vinh Hiền là 46. Điều
này cho thấy hầu hết chủ hộ đều ở tuổi trung niên, có thời gian tham gia khai
thác thủy sản lâu đời. Nó cũng cho thấy một xu hướng đó là những người trẻ
không muốn sống dựa vào đầm phá ngày càng lớn, họ muốn đi nơi khác để làm
ăn sinh sống hoặc làm nghề khác không phụ thuộc vào sông đầm. Mặc dù độ
tuổi trung bình cao nhưng trình độ văn hóa của người dân rất thấp, rất nhiều
người cho biết họ không được đi học, nên hiện tượng mù chữ khá phổ biến. Đây
là nguyên nhân hạn chế khả năng nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và
phát triển tài nguyên đầm phá. Mặc khác, nó còn ảnh hưởng đến khả năng áp
dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, khả năng nuôi dạy và giáo dục con cái.
Là những cộng đồng có sinh kế dựa vào KTTS, nên việc đầu tư để mua sắm
mới hay sửa chữa thay thế ngư lưới cụ và phương tiện đánh bắt là điều tất nhiên.
Các hộ làm nghề sáo đều sở hữu một chiếc nooc máy có thể làm bằng gỗ hoặc
nhôm trị giá trung bình mỗi chiếc nooc là 20 triệu đồng, và thêm một chiếc
xuồng có thể là xuồng nan hoặc xuồng nhôm tùy vào từng hộ. Các hộ KTDĐ thì
có thể dùng nooc (hộ làm hai nghề sáo và lừ) hoặc có thể dùng xuồng. Xuồng là
phương tiện chính của các hộ làm nghề lưới. Đối với nghề lừ, ngư cụ chủ yếu là
mua với giá vào khoảng 150.000 – 200.000 đ/cheo lừ. Trung bình một hộ có làm
lừ đều sở hữu từ 80-100 cheo. Như vậy, số tiền đầu tư ban đầu để mua sắm ngư
lưới cụ là khá lớn.
4.2. Thực trạng quản lý và khai thác thủy sản tại các vùng đầm phá
nghiên cứu
4.2.1. Thực trạng quản lý trước khi có chi hội Nghề cá

Xã Vinh Hiền
Trước 1975: khi diện tích mặt nước đầm phá thuộc quyền quản lý của chế độ
miền Nam, các hộ làm sáo phải đấu thầu và bốc xăm vị trí đặt trộ nò. Diện tích
mặt nước được chia làm các dãy, dãy nào thuận lợi, khai thác được nhiều tôm cá
sẽ phải nộp thuế cao hơn. Diện tích mặt nước được chia làm các dãy sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status