PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thừa Thiên Huế là một tỉnh miền trung với đặc trưng có hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai. Với diện tích 22.100 ha, kéo dài suốt 68km, vùng đầm
phá này trải dài trên 5 huyện ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế và được xem là hệ
đầm phá lớn nhất của khu vực Đông Nam Á, với đặc điểm đa dạng sinh học
phong phú và nhất là tính chất đặc biệt của một vùng nước lợ [1]. Nhờ lợi thế
về nguồn lợi thủy sản và tài nguyên đầm phá mà đây là nơi sinh sống của đại
bộ phận người dân các huyện ven biển như Phong Điền, Quảng Điền, Phú
Lộc Hệ động vật sống ở đây rất phong phú và độc đáo nhiều loài tôm cá
Tam Giang trở thành đặc sản ngon nổi tiếng. Hiện nay, dân số sống ở đầm
phá Tam Giang ngày càng tăng nhanh trong khi mặt phá đang có xu hướng
thu hẹp do bồi lắng và tình trạng ngăn vuông nuôi trồng thủy sản, nạn khai
thác tận thu và hủy diệt môi trường làm cho nguồn lợi thủy sản đầm phá
ngày càng cạn kiệt. Trong thời gian qua, mặc dù các hoạt động nuôi trồng và
khai thác thuỷ sản của ngư dân đã có chính quyền địa phương và chi cục bảo
vệ ngúồn lợi thủy sản quản lý, tuy nhiên sự quản lý này chưa được chặt chẽ,
việc quy hoạch vùng nuôi chưa hợp lý, chưa rõ ràng nên nhiều đặc sản nay
biệt tăm hoàn toàn. Công cuộc mưu sinh của ngư dân đầm phá theo đó cũng
đến giai đoạn không còn dễ dàng.Một bộ phận dân nghèo đang được cảnh báo
có xu hướng tăng nhanh ở vùng đầm phá ven biển của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Nghề cá quy mô nhỏ ở Thừa Thiên Huế, cả nghề cá đầm phá lẫn nghề cá
ven bờ cũng nằm trong tình trạng trì trệ chung như của cả nước. Trải qua nhiều
thế hệ, các loại nghề khai thác đã tăng gấp nhiều lần về số lượng, nhưng năng
suất khai thác ngày càng giảm khiến ngư dân đua nhau sử dụng nhiều nghề
khai thác mang tính hủy diệt như te quệu, giã, xung điện để mong đạt thu
nhập cao hơn, làm cho nguồn lợi thủy sản ở đây có nguy cơ bị cạn kiệt. Những
năm gần đây, vấn đề này được sự quan tâm chú ý của Nhà nước, của cộng
đồng quốc tế và các nhà nghiên cứu. Để hỗ trợ chính quyền địa phương trong
việc quản lý tài nguyên thiên nhiên được tốt thì mô hình đồng quản lý thủy sản
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Vấn đề quản lý tài nguyên đầm phá
Vấn đề quản lý vùng đầm phá đã được chuyển biến thông qua 4 giai đoạn
phân biệt: giai đoạn trước khi trở thành thuộc địa cho đến năm 1985 (được biết
đến như giai đoạn phong kiến), giai đoạn thuộc địa của Pháp từ 1858- 1954,
giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước từ 1954- 1975, và giai đoạn thống nhất
đất nước từ 1975 đến nay. Trong đó giai đoạn thứ 4 được chia thành 2 giai
đoạn nhỏ: giai đoạn bao cấp và giai đoạn sau chính sách đổi mới.
Trong suốt giai đoạn trước thuộc địa, vùng đất quanh khu vực phá Tam
Giang thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng xã quản lý các nguồn tài
nguyên: như việc đánh bắt của ngư dân thông qua việc xác định khối lượng
đánh bắt để đánh thuế đối với những cư dân muốn khai thác. Trong suốt giai
đoạn này, diện tích nuôi cá được xem như là tài sản cá nhân chính thức và được
sở hữu bởi những người mua thông qua bán đấu giá, còn những người ngư dân
khai thác di động chỉ được khai thác ở vùng “mở” theo quy định của xã.
Trong suốt thời gian Pháp chiếm đóng, vua của việt Nam bị mất các
vùng đất những nơi mà được tuyên bố là tài sản quốc gia và bị chiếm đóng
bởi chính quyền nước Pháp, tuy nhiên hoạt động đánh bắt của địa phương vẫn
phát triển so với giai đoạn phong kiến. Sau đó, vào đầu giai đoạn bị làm thuộc
địa, nền kinh tế sản xuất khác biệt giữa 2 vùng Bắc và Nam Việt Nam. Trong
khi việc quản lý biển theo hướng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bao gồm cả
phá Tam Giang cũng trong hoàn cảnh đó thì những vùng đất thuộc chủ nghĩa
cộng sản miền Nam lại bị tập thể hoá. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến
tranh vào năm 1975, nước CHXHCN Việt Nam được thống nhất đã khẳng
định quyền sở hữu của quốc gia về các loại tài nguyên thiên nhiên thực hiện
theo hệ thống đã được tiến hành trước đây ở miền Bắc. Trong suốt thời gian
này, các tổ chức của dân vạn chài vùng đầm phá được tập hợp trong phạm vi
các hợp tác xã nông nghiệp.
Ngày nay, cư dân vùng phá vẫn còn duy trì hoạt động sinh kế được tiến
hành bởi 2 hình thức đánh bắt cá tiến hành giữa nhiều thế hệ và hình thức
các đổi tượng đánh bắt di động. Tuy nhiên chiến lược này đã tạo ra các mâu
thuẩn giữa các nhóm sử dụng nguồn lợi khác nhau [11]. Thêm vào đó, chính
quyền tỉnh còn đề nghị mở rộng các hoạt động loại bỏ chướng ngại theo cách
bên trên cho tất cả các vùng để mở rộng đường thủy đạo (bất chấp hậu quả
4
sinh kế thay đổi đối với nhiều ngư dân) năm 2010. Chính quyền tỉnh thực
hiện công việc này mà ít có sự tham khảo ý kiến các bên liên quan và chuyên
gia về phương pháp thực hiện.
Theo hướng dẫn trực tiếp của chính quyền cấp tỉnh, chính quyền xã và
các lãnh đạo thôn đã tổ chức họp để thông báo cho người sử dụng tài nguyên
về những gì sẽ xảy ra và các hoạt động bắt buộc sẽ được thực hiện để đảm
bảo sinh kế khi hoạt động đánh bắt bị loại bỏ. Phần lớn các hộ dân đều không
tự nguyện làm theo những thay đổi này hoặc họ sẽ lập lại các hoạt động như
cũ mỗi khi các nhà chức trách không có mặt tại hiện trường. Kết quả của hoạt
động này có thể biết trước được: nếu không có sự hổ trợ và hợp tác của người
dân địa phương, phương pháp này sẽ không thực thi [10].
Tuy nhiên trong bối cảnh các đường hướng chính sách như hiện tại, cơ
hội về việc ra quyết định có nhiều sự tham gia hơn nữa và hợp tác giữa các
bên sẽ tạo ra [11]. Với nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu
hành động có sự tham gia và các dự án khác (ví dụ: IDRC, FAO, IMOLA),
những chiến lược đã được xây dựng để liên kết các ngư dân (những người
đánh bắt cố định lẫn lưu động) và các nhà chức trách trong việc tham gia vào
quá trình hợp tác để xác định vấn đề và đề xuất các thay đổi. Kết quả quan
trọng của quá trình này là xây dựng dần chiến lược kết nối các bên liên quan
đến sử dụng và khai thác quản lý đầm phá kể cả theo chiều dọc (làng, xã,
huyện, tỉnh) và chiều ngang (giữa các nhóm sử dụng tài nguyên ở đầm phá)
vào mạng lưới đồng quản lý.
Thành viên quan trọng nhất của mạng lưới thể chế này là chi hội nghề cá.
Chi hội này là cơ chế chính cho thảo luận, tăng cường hiểu biết và thực hiện
các hoạt động với sự hổ trợ của các quan chức tỉnh và huyện đề gia tăng sử
Với sự hổ trợ của dự án, các nhà chức trách đã ý thức hơn vấn đề này và đang
điều chỉnh phương pháp tiếp cận của họ. Thông qua sự tương tác và các hội
thảo, các quan chức tỉnh và huyện đã ngày càng hỗ trợ chi hội nghề cá và quan
tâm hơn đến các hoạt động họ thực hiện. Các thành viên của chi hội nghề cá
tham gia vào cuộc thảo luận nhóm ở thôn Định Cư đã chỉ ra rằng chi hội nghề cá
có khả năng thu hút sự quan tâm của các nhà chức trách xã và tạo được một sự
kết nối giữa các cấp thấp và cấp cao về mặt chính quyền.
Trong một bối cảnh nơi mà sự kết nối giữa chính quyền cấp cao và cấp
thấp là những quy định truyền thống, đều này tạo ra sự khuyến khích cho việc
tiếp tục xây dựng mạng lưới bất chấp chi phí giao dịch và thời gian. Ví dụ,
6
chúng ta đi từ chi hội nghề cá đến tỉnh và sau đó quay lại, chúng ta đã đi một
chu trình đi tới và đi lui để ra quyết định. Điều này cũng tương tự sự mô tả
trong việc giải quyết các vần đề đầm phá: quản lý đầm phá đã có thay đổi
nhiều.
2.3. Đồng quản lý
ĐQL là một số hay toàn bộ trách nhiệm quản lý được chính thức chia sẻ
giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức sử dụng nguồn lợi cũng
như với những nhóm lợi ích liên đới [4].
Đồng quản lý được hiểu như là cách thức chia sẽ hoặc phân định quyền
lực và trách nhiệm giữa chính quyền và những người sử dụng nguồn lợi nhằm
quản lý một đối tượng ngồn lợi nào đó như nguồn lợi cá, vùng rạn san hô,
vùng nuôi thủy sản hoặc hồ chứa, một cánh rừng, …Phạm vi và cách thức
chia sẽ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau ở các nước khác nhau và
các địa phương khác nhau, do những điều kiện và nền văn hóa khác nhau. Khi
áp dụng cơ chế đồng quản lý, công tác quản lý nguồn lợi ven bờ phải gắn
được với những người có hoạt động sinh kế phụ thuộc vào nguồn lợi biển và
những người chịu tác động bởi công tác quản lý đó [6].
Đồng quản lý trong ngành thủy sản có thể được hiểu như là phương thức
quản lý, trong đó Chính phủ và sử dụng tiềm năng, nguồn lợi thủy sản chia sẽ
sản xuất trong cộng đồng.
+ Hướng dẫn những người tham gia sản xuất về bảo vệ và phát triển
nguồn lợi, môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.
+ Làm đầu mối liên hệ giữa cộng đồng với các cơ quan quản lý Nhà
nước, các cơ quan nghiên cứu…để có thể kịp thời cập nhật các chính sách
quản lý mới của Nhà nước và các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản
xuất cho cộng đồng.
+ Làm đầu mối giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn hoặc xung đột trong
cộng đồng. Đây là chức năng rất quan trọng đòi hỏi BQL cộng đồng phải
khách quan, công bằng và đặc biệt là có uy tín trong cộng đồng để có thể đảm
bảo duy trì được sự ổn định trong cộng đồng. Trong trường hợp vượt quá khả
năng và quyền hạn của mình, Ban quản lý cộng đồng phải có trách nhiệm
thông báo lên các cấp có thẩm quyền giải quyết một cách nhanh chóng nhất
tránh tình trạng mâu thuẫn, kiện tụng hay xung đột…kéo dài gây mất đoàn kết
trong cộng đồng địa phương.
8
+ BQL cộng đồng có trách nhiệm báo cáo định kỳ cho Ban quản lý cấp
trên hoặc cơ quan quản lý cấp huyện, xã về tình hình trong địa bàn được giao.
b. Đội tuần tra giám sát
Là đơn vị giám sát việc thi hành các quy định ở cấp cộng đồng do cộng
đồng đề cử hoặc do BQL cộng đồng đề cử và được cộng đồng tín nhiệm.
Số lượng thành viên của Đội tuần tra giám sát (gọi tắt là Đội tuần tra)
được quyết định tùy theo địa bàn, phạm vi hoạt động.
Đội tuần tra có trách nhiệm tuần tra trong địa bàn vùng nước được giao,
phát hiện và xử lý các vi phạm trong phạm vi quyền hạn cho phép. Trong
trường hợp phát hiện các vi phạm vượt quá quyền hạn giải quyết đội tuần tra
phải có trách nhiệm báo cáo lên Ban quản lý cộng đồng để chuyển lên các cấp
có thẩm quyền giải quyết.
Đội tuần tra có trách nhiệm ghi chép nhật kí tuần tra làm căn cứ báo cáo
cho các cơ quan cấp trên của Ban quản lý cộng đồng. Đội tuần tra cũng có
địa phương khác để các thành viên trong đội có thể xem xét áp dụng trong sản
xuất tại địa phương mình.
+ Làm đầu mối xử lý, giải quyết các tranh chấp hoặc mâu thuẫn, xung
đột giữa các thành viên trong đội tự quản của mình và trong trường hợp
không giải quyết được phải báo lên Ban quản lý cộng đồng [8].
2.4.2. Cấp quản lý địa phương (tỉnh/huyện/xã)
Việc hình thành BCĐ cấp tỉnh/huyện/xã làm đại diện cho cơ quan quản
lý nhà nước trong việc tiếp xúc với cấp cộng đồng tùy thuộc vào điều kiện cụ
thể của địa phương. Với những khu vực có yếu tố liên tỉnh thì có thể việc hình
thành BCĐ liên tỉnh là cần thiết.
Số lượng thành viên của BCĐ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể, tuy nhiên
thành viên của BCĐ cấp tỉnh nên có 1 đại diện là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch
tỉnh, đại diện của Sở Nông nghiệp làm đầu mối (với vai trò là thường trực
BCĐ) và đại diện địa phương là người có hiểu biết sâu về các hoạt động sản
xuất cũng như các điều kiện kinh tế xã hội trong địa phương mình.
Ban chỉ đạo cấp tỉnh/huyện/xã này có trách nhiệm:
+ Làm cầu nối giữa cộng đồng và chính quyền địa phương thông qua
việc đại diện cho chính quyền tỉnh/huyện/xã tham gia các cuộc họp định kỳ
hoặc đột xuất với Ban quản lý cộng đồng hoặc với cả cộng đồng.
+ Đại diện cho chính quyền tỉnh/huyện/xã để tiếp nhận các thông tin từ
Ban quản lý cộng đồng và chuyển đến nơi có thẩm quyền giải quyết và trong
một số trường hợp.
10
+ Đại diện cho chính quyền trực tiếp giải quyết các tranh chấp, khiếu
kiện do Ban quản lý cộng đồng chuyển lên.
+ Nếu được ủy quyền sẽ có trách nhiệm truyền đạt các thông tin quản lý
từ cơ quan quản lý đến Ban quản lý cộng đồng để phổ biến cho người dân địa
phương thực hiện.
+ Hỗ trợ về pháp lý, kỹ thuật và nếu có thể là cả tài chính cho Ban quản
lý cộng đồng hoạt động đồng thời trong khả năng của mình tìm kiếm các hỗ
đang ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng bởi hoạt động của con người.
+ Đang có sự tồn tại của nhiều ngành nghề khác nhau nhưng có chung
nhu cầu sử dụng và khai thác vùng nước. Giữa các ngành nghề đang nảy sinh
mâu thuẫn, tranh chấp trong việc sử dụng và khai thác nguồn lợi chung [8].
2.6. Đánh giá về mô hình đồng quản lý nghề cá
Sơn La: Mô hình đồng quản lý hồ mở, xã Quí Hướng, huyện Mộc Châu.
Với diện tích 350 ha, dân số 3722 người, tỉ lệ hộ nghèo 70%, 100 hộ có hộ
liên quan đến khai thác thủy sản.
Quảng Ninh: Mô hình đồng quản lý khai thác vùng triều xã Đại Bình,
huyện Đầm Hà. Với diện tích 6894 ha, nằm trong 6 xã, dân số 2165 người,
15,5% hộ nghèo.
Nghệ An: Mô hình đồng quản lý khai thác vùng biển ven bờ tại xã Quỳnh
Lập, huyện Quỳnh Lưu, diện tích 2080 ha. Hoạt động khai thác ven biển.
Thừa Thiên Huế: Mô hình đồng quản lý nghề cá hồ chứa xã Quảng Lợi,
huyện Quảng Điền, với diện tích 1200 ha mặt nước, dân số 7298 người, trong
đó 31,3% hộ nghèo. Hoạt động chính khai thác và nuôi trồng.
Bình Định: Mô hình đồng quản lý bảo tồn rạn san hô xã Nhơn Hải,
huyện thành phố Qui Nhơn, với diện tích 1200 ha, dân số 1221 người. Nuôi
trồng, khai thác kiêm nghề.
Đắc Lắc: Mô hình đồng quản lý nghề cá hồ Buôn Triết, huyện Lắc, diện
tích 150 ha, dân số 5.742 người, dân tộc Êđê, Tày. Hoạt động chính khai thác.
Bến Tre: Mô hình đồng quản lý nghề cá xã Thạnh Phong, huyện Thạnh
Phú, diện tích 5746 ha, dân số 9571 người, hoạt động chính: khai thác, nuôi
trồng.
An Giang: Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản khu vực Búng Bình
Thiên nằm trong 3 xã Quốc Thái, Nhơn Hội, Khánh Bình thuộc huyện An
Phú; diện tích 200 – 300 ha, dân số 6800 người. Hoạt động chính khai thác,
nuôi trồng.
12
Cà Mau: Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản Đầm Thị Trường
là chính quyền cơ sở.
13
- Những tồn tại
- Bên cạnh những thành quả đã đạt được, các mô hình nói trên cũng còn
bộc lộ rất nhiều tồn tại, đặc biệt ở những nơi mà thông tin chưa minh bạch
hoặc chưa tiếp cận đúng.
- Do chưa hiểu đúng về khái niệm ĐQL và cách tiếp cận, dẫn đến việc
thực hiện không bài bản, lẫn lỗn giữa mô hình kỹ thuật và mô hình ĐQL, vẫn
áp đặt cách quản lý từ trên xuống theo kiểu truyền thống trong khá nhiều dự
án cộng đồng.
- Hầu hết các mô hình đều chỉ có quyết định thành lập tổ, quy chế nội bộ,
hoạt động trong phạm vi nội bộ… nhưng chưa có cơ chế phối hợp thật sự chặt
chẽ giữa các bên liên quan (chỉ phối hợp theo các hệ thống văn bản hành
chính hiện có mà thôi) nên chưa tạo ra sự khác biệt lớn trong công tác quản
lý, so với quản lý theo kiểu hành chính hiện nay.
- Các mô hình đều thiếu cơ sở pháp lý đủ để giúp họ thực hiện tốt nhiệm
vụ quản lý.
- Hầu hết các mô hình được xây dựng và thực hiện như một hoạt động,
một bước đi hay một nhiệm vụ của một dự án nào đó. Chưa có một mô hình
nào do người dân hoặc chính quyền địa phương tự đề xuất và kêu gọi hỗ trợ.
Bên cạnh đó chưa thực hiện tốt công tác chuyển giao, chuẩn bị những hỗ trợ
tài chính cần thiết khi dự án kết thúc nên nhiều mô hình chấm dứt hoạt động
khi hết sự hỗ trợ của dự án.
- Tâm lý đi làm dự án, chứ không phải là công việc thường xuyên của công
chức, cũng đã xuất hiện trong một số bộ phận cán bộ của ngành thủy sản và cán
bộ các địa phương trong quá trình xây dựng và thực hiện các mô hình nói trên.
- Các mô hình đều thử nghiệm trên quy mô nhỏ (thôn, xã, vùng nào đó),
lẻ tẻ, chưa phát triển thành hệ thống mang tính pháp lý cao. Do đó gặp rất
nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện và mức độ thành công [5].
14
Thay đổi về cơ chế tổ chức quản lý: Thay đổi về tổ chức chi
hội(BCH, phân hội và phân công). Hoàn thiện các điều lệ hội (hoàn thiện các
15
quy định về đăng ký và nộp lệ phí bảo vệ tài nguyên, quy định về tuần tra bảo
vệ TN và xử lý).
Thay đổi về quy hoạch (thay đổi về quy hoạch các tiểu vùng quản lý
khai thác thủy sản).
Thay đổi về quy chế (Thay đổi về số lượng hộ khai thác, số ngư cụ
trên các tiểu vùng KT. Thay đổi về về quy mô khai thác của các hộ, quy cách
ngư cụ, quy định mắt lưới cho các loại ngư cụ, quy định về loại hình khai thác
trên các tiểu vùng, quy định về thời gian khai thác).
Thay đổi về nhân thức người dân, cán bộ:
+ Số hộ tham gia thêm vào chi hội, sự chấp hành nội quy của các
hộ khai thác tự do.
+ Sự phối hợp hoạt động của (chi hội, tỉnh hội, chính quyền địa
phưong ,).
+ Đánh giá của hộ về cải tiến quản lý đầm phá 2008-2010.
Thay đổi về tài nguyên
+ Thay đổi tích cực về Chất lượng tài nguyên giai đoạn 2008-
2010 (Loài mới, con giống, sản lượng, kích thước: cá-tôm-cua; Rong, cỏ, sinh
thái; và Môi trường nước).
+ Tài nguyên suy giảm giai đoạn 2008-2010 (Loài bị mất, con
giống, sản lượng, kích thước: cá-tôm-cua; Rong, cỏ, sinh thái; và Môi trường
nước: Tình trạng ô nhiễm ).
Thay đổi về sinh kế
+ Mức độ cải thiện sinh kế.
+ Hướng phát triển sinh kế thay thế.
Tác động của các thay đổi
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
- Thảo luận nhóm người dân (2 buổi). Mục đích:
+ Buổi 1: thu thập thông tin thay đổi các loài thủy sản (8 hộ tham
gia).
+ Buổi 2: đánh giá của hộ về mô hình ĐQL (7 hộ tham gia)
Phân tích xử lý số liệu
- Tất cả các số liệu điều tra được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng
các phép tính trên phần mềm Excel.
17
- Ở đề tài này sử dụng hai phương pháp là: Phân tích định tính và phân
tích định lượng nhằm phân tích thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố lên mô
hình đồng quản lý
- Tiến hành phân tích, so sánh giữa các ngư hộ trước khi tham gia vào chi
hội NTTS Giang Xuân và sau khi tham gia vào chi hội để thấy được sự khác
nhau về sinh kế giữa những hộ ngư dân, từ đó thấy dược vai trò của chi hội
nghề cá đối với sinh kế ngư hộ.
18
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm cộng đồng TS vùng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vinh Giang, là 1 xã ngư nghiệp nằm trên
ven hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai. Xã bao gồm 4 thôn là Nghi Xuân, Nghi
Giang, Nam Trường và Đơn Chế, trong đó Nghi Xuân là thôn có số hộ tham
gia hoạt động sản xuất thủy sản nhiều nhất trên địa bàn và được sự hỗ trợ của
Tỉnh hội nghề cá, dự án bảo vệ tài nguyên ven biển, trung tâm quản lý cộng
đồng, UBND huyện Phú Lộc đã xây dựng thành công mô hình ĐQL tài
nguyên thủy sản là Chi hội nghề cá Giang Xuân.
Chi hội nghề cá Giang Xuân trực thuộc UBND xã Vinh Giang quản lý, phía
Nam tiếp giáp Đầm Cầu Hai có diện tích mặt nước là 1112 ha, trong đó: nuôi lấn
phá là 80 ha số diện tích còn lại 1032 ha khai thác và đánh bắt thủy sản đã được
UBND huyện Phú Lộc trao quyền cho chi hội nghề cá Giang Xuân quản lý [1].
(Nguồn: Báo cáo KTXH xã Vinh Giang 2010 và phỏng vấn người am hiểu)
(*) Một hộ có thể tham gia nhiều hoạt động
19
Nghi Xuân là một cộng đồng ngư nghiệp mà sinh kế của người dân gắn
chặt với tài nguyên đầm phá. Cộng đồng này mang những nét đặc trưng của
các thôn làng ven phá Tam Giang như là có số hộ ngư nghiệp lớn, tỷ lệ gia
tăng dân số nhanh, cấu trúc dân số trẻ, có nguồn lao động dồi dào Về dân số
và lao động ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh tế của địa phương, một
mặt tạo tiềm lực phát triển, một mặt lại cản trở sự phát triển khi vấn đề việc
làm và đời sống người dân không được đảm bảo.
Nhờ có chủ trương giải quyết công ăn việc làm cho người lao động như
phát triển nghành nghề phi nông nghiệp để giải quyết vấn đề lao động nên
mặc dầu quy mô dân số và lao động của Vinh Giang là tương đối cao 1173
hộ với 4877 khẩu nhưng được đánh giá là xã có điều kiện phát triển kinh tế
xã hội cao, đời sống của người dân ổn định. Là một thôn nông – ngư, với
đặc điểm vừa có mặt nước đầm phá vừa có ruộng nên bên cạnh những hộ
ngư nghiệp sống chủ yếu dựa vào mặt nước thì các hộ sản xuất nông
nghiệp ở Nghi Xuân cũng tham gia nuôi trồng và khai thác thủy sản tự
nhiên trên đầm phá. Theo phân loại của thôn theo ngành nghề thì có tổng
cộng 193 hộ trong đó số hộ nông nghiệp là 10 hộ, hộ ngư nghiệp là 244 hộ
gồm 156 hộ khai thác và 88 hộ nuôi trồng (một hộ có thể tham gia nhiều
hoạt động), ngành nghề dịch vụ là 10 hộ và nhóm hộ khác (mộc nề,già cả
neo đơn ) là 20 hộ.Qua số liệu điều tra ta thấy ở đây số hộ ngư nghiệp vẫn
chiếm ưu thế đời sống của người dân phụ thuộc vào đầm phá là chủ yếu.
Tổng số khẩu của thôn là 895 khẩu trong đó có tới 486 lao động trung bình
2,52 lao động/hộ điều này sẽ đáp ứng được yêu cầu đặc thù nghề nghiệp
trên đầm phá. Theo tiêu chí phân loại hộ của Bộ thương binh và xã hội thì
tỉ lệ hộ nghèo của toàn thôn là 14% cao hơn so với mặt bằng chung của xã
là 11,8%, qua phỏng vấn cán bộ thôn cho biết thì số hộ nghèo hiện tại của
thôn chủ yếu là các hộ già cả neo đơn không có khả năng lao động.
(Nguồn: Phỏng vấn hộ thôn Nghi Xuân, 2011)
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tôi đã tiến hành khảo sát 60 mẫu gồm 30 hộ
có NTTS và KT và 30 hộ chuyên khai thác là thành viên của chi hội nghề cá
Giang Xuân. Kết quả khảo sát đặc điểm của hộ thể hiện qua bảng 2:
Cũng như các cộng đồng dọc ven phá Tam Giang khác thì bình quân
nhân khẩu/hộ ở đây tương đối lớn 5,55 khẩu và bình quân 3,08 lao động/
hộ và tuổi trung bình của chủ hộ là 45,7 chứng tỏ cộng đồng ở đây dân số
trẻ và lực lượng lao động dồi dào phù hợp với tính chất của nghề nghiệp
vùng đầm phá. Cơ cấu lao động ở đây hơi khác so với các địa phương khác
là lực lượng lao động ở đây hầu hết là lao động ngư nghiệp, số hộ lao động
nông nghiệp chỉ có 1 hộ và số lao động tham gia ngành nghề rất ít chủ yếu
là các nghề phụ và tham gia tại địa phương. Lực lượng lao động ở Nghi
Xuân rất dồi dào nhưng trình độ còn thấp do đặc trưng lao động ở đây chủ
yếu hoạt động và sinh sống trên đầm phá nên thời gian đầu tư cho việc học
rất hạn chế, có một số hộ mù chữ đây cũng là nguyên nhân chính hạn chế
khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật và cải tiến quản lý đầm phá. Về lâu dài
còn ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái, thực hiện các công tác xã hội và
vận động sử dụng tài nguyên bền vững.
21
Bảng 3: Phương tiện sản xuất của các hộ khảo sát
Phương tiện sản xuất ĐVT 2008 2011
Số trộ sáo Trộ/hộ 0,77 0,73
Số lưới Tay lưới/hộ 1,6 1,5
Số lừ Cheo/hộ 55,9 56,5
Số trộ chuôm Trộ/hộ 0 0
Diện tích NTTS bình quân/hộ Ha 6328,3 6328,3
(Nguồn: Phỏng vấn hộ thôn Nghi Xuân, 2011)
Do hầu hết các hộ ở đây đều sống chủ yếu dựa vào nghề ngư nên phương
tiện sản xuất chủ yếu là các ngư cụ như nò sáo, lưới, lừ, chuôm nhưng quy mô
ngư cụ của hộ là khác nhau trung bình mỗi hộ có 0,73 trộ sáo, 1,5 tay lưới và
Hộ 121
Hộ tham gia KTTS bằng
lưới
Hộ 69
Hộ tham gia KTTS bằng
chuôm
Hộ 45
Tổng diện tích NTTS Ha 88
Vùng nuôi TS xen ghép Ha 58
Vùng nuôi chuyên tôm Ha 30
Số hộ NTTS Hộ 74
(Nguồn: Báo cáo chi hội nghề cá Giang Xuân, 2010)
Qua kết quả báo cáo của chi hội năm 2011 cho thấy vùng quản lý và bảo
vệ tài nguyên của xã được chia làm 15 tiểu vùng trong đó 9 tiểu vùng dùng
cho nghề khai thác cố định có 300 ha; 3 vùng khai thác di động 647 ha; 1 tiểu
vùng khai thác mở 40 ha và 1 tiểu vùng 10 ha dành cho nuôi trồng rau câu.
Hoạt động đánh bắt khai thác ở đây rất phong phú dựa trên điều kiện thuận lợi
là diện tích mặt nước khai thác tương đối lớn và hình thức khai thác đa dạng
sáo, lừ, lưới, chuôm với 157 hộ tham gia.
23
Trước năm 2006 khi nghề lừ chưa phổ biến thì lưới là nghề thu hút số
lượng tham gia khai thác nhiều nhất nhưng hiện nay ở Vinh Giang chỉ còn
khoảng 50 hộ tham gia khai thác bằng lưới với bình quân khoảng 40 tay
lưới/hộ, chủ yếu các hộ này là người trong chi hội và trong xã.Hoạt động
khai thác bằng lưới diễn ra quanh năm, đối tượng khai thác chủ yếu là tôm
đất, cua, ghẹ, cá đối, cá móm, cá bống, cá sơn đem lại thu nhập bình quân
từ 50.000đ-80.000đ/hộ/ngày.
Hình 1: Khai thác thủy sản bằng lừ (Nguồn: ngoisao.net)
Theo số liệu báo cáo của chi hội cho thấy số hộ tham gia vào nghề lừ cao
toàn bằng tre. Cơn bão số 8 năm 1985 đã cuốn trôi hầu hết các nò sáo trên
đầm phá và kể từ đó ngư dân đã sử dụng vật liệu nylon thay cho tre để làm nò
sáo. Số lượng nò sáo kể từ đó cũng tăng dần cùng với sự gia tăng dân số và sự
suy giảm sản lượng khai thác trên một đơn vị nò sáo. Đặc biệt sau năm 1985
khi mà nò sáo được làm bằng nylon đã làm giảm chi phí và tăng hiệu quả khai
25