Tính toán, thiết kế hệ thống xử lý khí thải, hơi axic, bụi gỗ cho dây chuyền công nghệ sản xuất - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN


ĐỒ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI
THIẾT KẾ HỆ THỐNG XỬ LÝ KHÍ THẢI, HƠI
AXIC,BỤI CHO PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT GỖ

GVHD: Ths.NGUYỄN VĂN HIỂN
NHÓM SV: Nhóm 7
LỚP:

DH11MT

TP.HCM
28/11/2014


MỞ ĐẦU
Đặt Vấn Đề

I.

Trong những năm gần đây, chúng ta không thể phủ nhận được sự phát triển vượt bậc
của nên kinh tế cũng như khoa học kĩ thuật trong tất cả các lĩnh vực của thế giới nói
chung và Viết Nam nói riêng. Nền CNH-HĐH của nước nhà đã và đang đạt được
những thành tựu đáng ghi nhận. Cùng với sự phát triển ấy, mức sống của con người
cũng được nâng cao và nhu cầu của con người cũng dần có nhưng thay đổi nhất định
hướng đến sự phát triển tiến bộ hơn.
Tuy nhiên, hệ quả của sự phát triển ấy cũng không hề nhỏ. Một loạt vấn đề về môi

• Bản vẽ sơ đồ không gian hệ thống xử lý khí thải. (A2)
• Bản vẽ các mặt bằng, mặt cắt cần thiết. (A2)
• Bản vẽ chi tiết thiết bị xử lý.

NỘI DUNG
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
I.
CƠ BẢN VỀ BỤI
1. Khái niệm bụi.

Bụi là tập hợp nhiều hạt, có khích thước nhỏ bé, tồn tại lâu trong không khí dưới dạng
bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù.


Bụi bay có kích thước từ (0.001 – 10)μm bao gồm tro, khói và những hạt rắn được
nghiền nhỏ, chuyển động theo kiểu Brao hoặc rơi xuống đất với vận tốc không đổi
theo quy luật stoke. Về mặt sinh học, bụi này thường gây tổn thương nặng cho cơ
quan hô hấp, nhất là khi phổi bị nhiễm bụi thạch anh (silicose) do hít phải không khí
có chứa bụi bioxit silic lâu ngày.
Bụi lắng có kích thước lớn hơn 10µm, thường rơi nhanh xuống đất theo định luật
Newton với tốc độ tăng dần. Về mặt sin học, bụi này thường gây tổn hại cho da, mắt,
gây nhiễm trùng, gây dị ứng…
2. Phân loại bụi.
2.1.
Theo nguồn gốc.
- Bụi hữu cơ như bụi tự nhiên. ( Bụi do động đất, núi lửa…)
- Bụi thực vật. ( Bụi gỗ, bông, phấn hoa..)
- Bụi động vật ( Lông, tóc..)
- Bụi nhân tạo. ( Nhựa, hóa học cao su…)
- Bụi kim loại.( Sắt, đồng, chì )

nhiều loại hóa chất, chất tạo bóng, chất xử lý bề mặt cũng nhiều vật dụng liên quan
được sử dụng trong quá trình làm thành sản phẩm. Do đó sự phát sinh các chất độc hại
kèm theo quá trình chế biến sản xuất gỗ là không tranh khỏi.
2. Bụi gỗ và tác hại của nó.
2.1.
Mô tả quy trình công nghệ chính.

Các công đoạn chính trong công nghệ chế biến gỗ có thể chia thành những phần chính
như sau :
Từ gỗ nguyên liệu:


-

Công đoạn cưa, tẩm, sấy.
Cưa định hình.
Bào, chà nhám, mộng, đánh bóng.
Sơn phủ bề mặt.
Phủ PU.
Sấy khô.
Thành phẩm.

Mô tả và phân tích công đoạn:
Cưa, tẩm, sấy : Từ gỗ nguyên liệu được cưa với kích thướng thích hợp sau đó
đem ngâm hay tẩm hóa chất. Để gỗ nguyên liệu có được những tính chất cần
thiết.
 Công đoạn này phát sinh bụi do các máy cưa.
- Định hình : Tùy loại chi tiết cần thực hiện mà ở giai đoạn này gỗ sẽ được cắt để
có kích thước thích hợp. Tuy theo sản phẩm thành phẩm mà có các loại máy
chuyên dụng để định hình từ chi tiết đơn giản đến phức tạp

Chà nhám, bào nhẵn bè mặt các chi tiết.

Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể về kích thước hạt bụi và tải lượng bụi sinh ra ở
những công đoạn khác nhau. Tại công đoạn gia công thô phần lớn bụi có kích thước
lớn:
STT

CÔNG ĐOẠN

HỆ SỐ Ô NHIỄM

1

Cắt và bốc xếp gỗ

0,187 ( Kg/ tấn gỗ)

2

Gia công chi tiết

0,5 (Kg/tấn gỗ)


0,05 (Kg/m2)

3
Chà nhám, đánh bóng
(Nguồn WHO, 1993.)


trong đó chủ yếu là bụi tro với hệ số ô nhiễm là 15g/1kg nhiên liệu và NO 2 với hệ số ô
nhiễm là 5g/1kg nhiên liệu sử dụng. Dựa vào lượng nhiên liệu tiêu thụ của xí nghiệp
có thể tính được tải lượng của các chất ô nhiễm :

II.3.3.

Chất ô nhiễm

Tải lượng (tấn/ năm)

Bụi

72,7

NO2

24,23

Nguồn gây ô nhiễm do tiếng ồn
Sau ô nhiễm không khí , ô nhiễm do tiếng ồn là loại ô nhiễm đáng chú ý ở những nhà
máy chế biến gỗ. Đặc điểm chung của hầu hết các máy móc công nghệ của ngành này
là có mức ồn cao , những máy móc gây ồn chính:
II.3.4.






II.3.5.

hưởng đến hệ sinh thái trong vùng. Tuy nhiên do tải lượng các chất ô nhiễm không
khí (CO,SO2,NO2 …)là không đáng kể nên ảnh hưởng rất nhỏ và chưa được đánh giá
cụ thể.
-

Tác động đến sức khoẻ cộng đồng

Các chất ô nhiễm phát sinh trong quá trình hoạt động của xí nghiệp đáng kể nhất là
bụigỗ ,nhiệt và tiếng ồn .Các tác nhân ôn nhiễm này có khả năng gây ra một số tác
động lên sức khoẻ cộng đồng trong vùng bị ảnh hưởng của nguồn thải từ xí nghiệp,
đặc biệt đối với những công nhân trực tiếp sản xuất tại những khu gây ô nhiễm .Tuỳ
thuộc vào nồnh độ ,mức độ độc hại của các chất gây ô nhiễm mà ảnh hưởng của nó
đến sức khoẻ cộng đồng khác nhau .
Ô nhiễm không khí nói chung sẽ tác động đến cơ thể con người và động vật trước
hết qua đường hô hấp ,tác động trực tiếp lên mặt ,da của cơ thể . Chúng thường gây
ra các bệnh như ngạt thở ,viêm phù phổi , một số chất khác sẽ gây kích thích một số
bệnh như ho, lao, xuyễn...
-

Tác hại đến sức khỏe

Bụi trong khí thải và từ các hoạt động khác của xí nghiệp có khả năng gây bệnh cho
người và động vật .Bụi có thể gây tổn thương tới mắt ,da , hệ tiêu hoá (một cách
ngẫu nhiên) ,nhưng chủ yếu là sự thâm nhập của bụi là do hít thở . Các hạt bụi có
kích thước
Tác hại của nhiệt thừa:

Nhiệt thừa gây nên nhiệt độ cao trong phân xưởng là nguyên nhân của một số bệnh
nghề nghiệp. Ô nhiễm nhiệt làm cho quá trình phản ứng các chất tăng cũng như mức
độ độc tố ảnh hưởng đến con người tăng theo. Ô nhiễm nhiệt còn ảnh hưởng đến quá
trình tiêu hoá, sinh lý … của ngườ và động ,thực vật .
Công nhân làm việc ở những nơi có nhiệt độ cao thường có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn
so với nhóm làm chung : bệnh tiêu hoá 15% so với 7,5%, bệnh ngoài ra 6,3% so với
1,6%,bệnh tim mạch 1% so với 0,6% … Rối loạn bệnh lý thường gặp là khi làm việc
ở nhiệt độ cao là chứng say nóng và chứng co giật. Chứng say nóng có triệu chứng
chóng mặt, đau đầu, đau thắt nhực, buồn nôn ,mạch nhanh, nhịp thở mạnh và suy
nhược cơ thể …Chứng co giật gây nên do sự mất nước của cơ thể ,thường bị giãn
mạch, đặc biệt có các cơn co giật rất lâu kéo dài từ 1-2 phút.
- Tác hại của tiếng ồn
Tác hại của tiếng ồn gây nên những tổn thương cơ quan thính giác ,tiếp xúc với tiếng
ồn lâu có thể sẽ làm độ nhạy của tai, thính lực giảm sút gây nên bệnh điếc nghề
nghiệp Tiếng ồn cũng gây nên các bệnh như rối loạn thần kinh, rối loạn tim mạch và
các bệnh về hệ thống tiêu hoá.
CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ BỤI.
I.
Xử lý bụi gỗ
1. Thiết bị thu hồi bụi.
a.
Thiết bị thu hồi bụi khô

Thiết bị thu hồi bụi khô hoạt động dựa trên các cơ chế lắng khác nhau: trọng lực
(các buồng lắng bụi), quán tính (lắng bụi nhờ thay đổi hướng chuyển động của
dòng khí hoặc nhờ vào vách ngăn) và ly tâm (các xiclon đơn, nhóm và tổ hợp, các
thiết bị thu hồi bụi xoáy và động). Các thiết bị thu hồi bụi nêu trên chế tạo và vận
hành đơn giản, được áp dụng phổ biến trong công nghiệp.Tuy nhiên hiệu quả thu


a

a

c

c

a) Buồng đơn
tầng

b) Buồng có vách ngăn

c)

Buồng nhiều

Hình 1.2.Các dạng buồng lắng bụi
1. Dòng khí bẩn chứa bụi vào buồng lắng.
2.

Khí sạch ra khỏi buồng lắng

3.

Bụi thu hồi

a. Quỹ đạo chuyển động của bụi kích thước


Buïi

Khí saïch

Khí baån

Buïi

Có vách ngăn

Với chỗ quay khí nhẵn

Có chóp mở rộng

Nhập khí ngang hông

Hình 1.3: Thiết bị lắng bụi quán tính
 Thiết bị lá xách

Các thiết bị này có dãy lá chắn hoặc các vòng chắn. Khí đi qua mạng chắn, đổi
hướng đột ngột, các hạt bụi do quán tính chuyển động theo hướng cũ tách ra khỏi
khí hoặc va đập vào các tấm phẳng nghiêng, lắng trên đó rồi rơi xuống dòng khí
bụi. Kết quả khí được chia thành hai dòng: Dòng chứa bụi nồng độ cao (10% thể
tích) được hút qua xiclon để tiếp tục xử lý, rồi sau đó được trộn với dòng đi qua
các tấm chắn (chiếm 90% thể tích). Vận tốc khí trước mạng chóp phải đủ cao
(15m/s) để đạt hiệu quả tách bụi quán tính). Trở lực của lưới
khoảng(100÷500)N/m2. Thiết bị lá xách được sử dụng để thu hồi bụi có kích thước
trên 20µm.




cao. Đường kính xiclon trụ không lớn hơn 2000mm và xiclon chóp nhỏ hơn
3000mm.
Ưu điểm:
+ Không có phần chuyển động nên tăng độ bền của thiết bị
+ Có thể làm việc ở nhiệt độ cao (đến 5000C)
+ Thu hồi bụi ở dạng khô
+ Trở lực hầu như cố định và không lớn (250÷1500) N/m 2
+ Làm việc ở áp suất cao
+ Năng suất cao; Rẻ
+ Có khả năng thu hồi vật liệu mài mòn mà không cần bảo vệ bề mặt xiclon
+ Hiệu suất không phụ thuộc sự thay đổi nồng độ bụi
+ Chế tạo đơn giản.

Nhược điểm:
+ Hiệu quả vận hành kém khi bụi có kích thước nhỏ hơn 5 µm
+ Không thể thu hồi bụi kết dính.

 Xiclon đơn

Xiclon đơn là thiết bị hoàn chỉnh hoạt động độc lập và có nhiều dạng khác nhau
như dạng hình trụ, dạng hình côn. Việc sử dụng loại nào là tùy thuộc vào đặc tính
của bụi và yêu cầu xử lý. Dạng hình trụ có năng suất lớn, còn loại hình côn có hiệu
suất lớn.
 Xiclon tổ hợp

Xiclon tổ hợp là một thiết bị lọc bụi gồm một số lượng lớn các đơn nguyên xiclon
mắc song song trong một vỏ có chung đường dẫn khí vào, khí ra, thùng chứa bụi.
Trong xiclon tổ hợp, việc tạo nên chuyển động quay của dòng khí trong thiết bị
không phải do dòng khí được đưa vào theo phương tiếp tuyến mà do các dụng cụ

lực ly tâm bụi văng ra phía ngoài, gặp dòng khí xoáy thứ cấp hướng xuống dưới,
đẩy chúng vào khoảng không gian vành khăn giữa các ống. Không gian vành khắn
chung quanh ống vào được trang bị vòng đệm chắn để bụi không quay trở lại thiết
bị.
Ưu điểm của thiết bị thu hồi bụi xoáy so với xiclon là:
+

Hiệu quả thu hồi bụi phân tán cao hơn

+

Bề mặt trong của thiết bị không bị mài mòn


+

Có thể xử lý khí có nhiệt độ cao hơn do ứng dụng dòng khí thứ cấp lạnh
Có thể điều chỉnh quá trình phân riêng bụi bằng cách thay đổi lượng khí
thứ cấp.

+

Nhược điểm:
+

Cần có cơ cấu thổi khí phụ trợ

+

Vận hành phức tạp

hút tĩnh điện.
Thiết bị lọc được chia làm 3 loại, phụ thuộc vào chức năng và nồng độ bụi vào, ra:
Thiết bị tinh lọc (Hiệu quả cao): dùng để thu hồi bụi cực nhỏ với hiệu
quả rất cao (>99%) với nồng độ đầu vào thấp (


− Vải tổng hợp bền nhiệt và hóa, giá rẻ hơn vải bông và vải len. Trong môi

trường axit độ bền của chúng cao, còn trong môi trường kiềm độ bền
giảm;
− Vải thủy tinh bền ở (150÷350)0C. Chúng được chế tạo từ thủy tinh nhôm
silicat không kiềm hoặc thủy tinh magezit.
− Vải có thể phục hồi bằng hai phương pháp cơ bản:
− Rung vật liệu lọc (cơ học, khí động học);
Thổi ngược vật liệu lọc bằng khí sạch hoặc không khí.
Ưu điểm: hiệu suất lọc bụi cao (98÷99)%, phù hợp với các loại bụi có đường
kính nhỏ.
Nhược điểm:
d. Giá thành và chi phí quản lý cao vì đòi hỏi những thiết bị tái sinh vải lọc, thiết bị

rũ bụi;
e. Độ bền nhiệt của thiết bị lọc thấp và thường dao động theo độ ẩm.
f.

Thiết bị lọc sợi

Thành phần lọc của thiết bị lọc dạng này gồm một hoặc nhiều lớp, trong đó có
các sợi vải được phân bố đồng nhất. Trong thiết bị lọc sợi, bụi được thu hồi và
tích tụ theo chiều dày của lớp lọc. vật liệu lọc là các sợi tự nhiên hoặc nhân tạo
có chiều dày từ (0,01 ÷100) µm. Chiều dày của lớp lọc có thể từ vài phần ngàn
mét đến 2m (lọc đệm nhiều lớp để sử dụng lâu dài). Các thiết bị lọc này được
ứng dụng khi nồng độ pha phân tán (0,5÷5)mg/m 3 và được phân thành các loại
sau:


tính ăn mòn của khí.
Thiết bị lọc hạt cứng: Trong thiết bị lọc dạng này cac hạt liên kết với nhau nhờ
thiêu kết, dập hoặc dán và tạo thành hệ thống xúng không chuyển động. Đó là sứ
xốp, kim loại xốp, nhựa xốp. Lớp lọc loại này bền chặt, chống ăn mòn và chịu
tải lớn. Chúng được ứng dụng để lọc khí nén. Nhược điểm của thiết bị này là: giá
cao, trở lực lớn, khó hồi phục. Có thể phục hồi theo phương pháp sau:
a. Thổi khí theo chiều ngược lại;
b. Cho dung dịch lỏng qua theo hướng ngược lại;
c. Cho hơi nóng qua;
d. Gõ hoặc nung lưới với thành phần lọc.
h. Thiết bị lọc bụi theo phương pháp ướt

Quá trình thu hồi bụi theo phương pháp ướt dựa trên sự tiếp xúc của dòng khí
bụi với chất lỏng, được thực hiện bằng các biện pháp cơ bản sau:
a. Dòng khí bụi đi vào thiết bị và được rửa bằng chất lỏng. Các hạt bụi được tách ra

khỏi khí nhờ va chạm với các giọt nước


b. Chất lỏng tưới ướt bề mặt làm việc của thiết bị, còn dòng khí tiếp xúc với bề mặt

này. Các hạt bụi bị hút bởi màng nước và tách ra khỏi dòng khí
c. Dòng khí bụi được sục vào nước và bị chia ra thành các bọt khí. Các hạt bụi bị

dính ướt và loại ra khỏi khí.
Do tiếp xúc với dòng khí nhiễm bụi với chất lỏng hình thành bề mặt tiếp xúc
pha. Bề mặt này bao gồm các bọt khí, tia khí, tia lỏng, giọt lỏng và màng lỏng.
Trong đa số thiết bị thu hồi bụi ướt tồn tại các dạng bề mặt khác nhau, do đó bụi
được thu hồi theo nhiều cơ chế khác nhau. Thiết bị lọc bụi ướt có các ưu điểm và
nhược điểm so với các thiết bị dạng khác như sau:

chuyển động qua buồng. Để tăng hiệu suất lọc bụi, trong buồng có thể bố trí các
tấm chắn, các tấm đục lỗ hoặc tưới. Cuối buồng rửa có bộ phận tách nước. Vận
tốc chuyển động của khí trong buồng khoảng 1,5-2,5 m/s. Thời gian lưu khí
j. Không cho phép nồng độ bụi trong khí dao động lớn vì có thể làm bẩn đĩa.
 Thiết bị rửa khí va đập quán tính.

Trong các thiết bị này, sự tiếp xúc của khí với nước được thực hiện do sự va đập
của dòng khí lên bề mặt chất lỏng và do sự thay đổi hướng đột ngột của dòng
khí. Kết quả của sự va đập là các giọt lỏng đường kính (300÷400)µm được tạo
thành, làm gia tăng quá trình lắng bụi.
Đối với thiết bị dạng này, mực nước cố định đóng vai trò quan trọng. Sự thay đổi
nhỏ của mực nước cũng cơ thể làm giảm hiệu quả thu hồi bụi hoặc làm tăng trở
lực của thiết bị. Hiệu quả của thiết bị thu hồi va đập quán tính đến 99,5% đối với
các hạt bụi có kích thước lớn hơn 3µm.
 Thiết bị rửa khí ly tâm

Thu hồi bụi trong thiết bị rửa khí ly tâm diễn ra dưới tác dụng của hai lực: lực ly
tâm và lực quán tính. Hiệu quả thu hồi bụi có kích thước (2÷5)µm đạt 90%.
Các thiết bị rửa khí ly tâm được ứng dụng trong thực tế, theo kết cấu có thể chia
làm hai dạng:
k. Thiết bị, trong đó dòng xoáy được thực hiện nhờ cánh quạt quay đặt ở trung tâm
l.

Thiết bị với ống khí vào theo phương tiếp tuyến. Nước rửa khí chảy qua vòi
phun ở trung tâm và chảy thành màng trên thành thiết bị.
Đặc điểm của thiết bị này là chất lỏng ít bị cuốn theo khí vì lực ly
tâm làm lắng các giọt lỏng trên thành thiết bị.
 Thiết bị rửa khí vận tốc cao (thiết bị rửa khí Venturi)

Để làm sạch khí khỏi bụi có kích thước (1÷2) µm và nhỏ hơn, người ta ứng dụng
chủ yếu các thiết bị rửa khí có vận tốc lớn.



độ dẫn điện càng cao thì hiệu quả thu hồi chúng trong thiết bị lọc điện càng
lớn.Thành phần khí và bụi ảnh hưởng đến độ dẫn của nó. Khi độ ẩm của khí
tăng, điện trở riêng phần của bụi giảm. Nếu vận tốc khí trong thiết bị lọc điện
tăng thì hiệu quả xử lý giảm và ngoài ra còn tăng khả năng lôi cuốn bụi theo
dòng khí.
Hiệu quả của thiết bị lọc điện khi thu hồi hạt có kích thước 0,5µm đạt 99% và
giảm khi vận tốc dòng khí tăng.Hiệu quả của thiết bị lọc điện phụ thuộc tính chất


của bụi và khí, vận tốc và tính đồng đều phân phối dòng bụi trong tiết diện thiết
bị . Hiệu thế càng cao và vận tốc khí càng thấp hiệu quả thu hồi bụi càng cao.
Thiết bị lọc điện có ưu điểm:
− Hiệu suất thu hồi bụi cao, đạt tới 99%;
− Chi phí năng lượng thấp;
− Có thể thu được các hạt bụi có kích thước nhỏ tới 0,1 µm và nồng độ

bụi từ vài gam đến 50g/m3;
− Chịu được nhiệt độ cao (nhiệt độ khí thải có thể tới 5000C);
− Làm việc được ở áp suất cao hoặc ở áp suất chân không;
− Có thể tự động hóa điều khiển hoàn toàn.
Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm như sau:
− Do độ nhạy cao nên khi có sự thay đổi dù nhỏ giữa giá trị thực và giá

trị khi tính toán của các thông số thì hiệu quả thu hồi bụi cũng bị giảm
sút nhiều;
− Khi có sự cố cơ học dù nhỏ cũng làm ảnh hưởng tới hiệu quả thu bụi;
− Không sử dụng được với khí thải có chứa chất dễ nỗ vì thường xuất
hiện các tia lửa điện.



chuyển động xoáy. Lực ly tâm gây tác động làm hạt bụi sẽ rời xa tâm quay và
tiến về vỏ ngoài Xiclon. Đồng thời, hạt bụi sẽ chịu tác động của sức cản không
khí theo chiều ngược với hướng chuyển động, kết quả là hạt bụi dịch chuyển
dần về vỏ ngoài của Xiclon, va chạm với nó, sẽ mất năng và rơi xuống phễu,
lượng bụi tinh còn lại sẽ theo dòng khí qua thiết bị lọc túi vải. Không khí lẫn
bụi đi qua tấm vải lọc, ban đầu các hạt bụi lớn hơn khe giữa các sợi vải sẽ giữ
lại trên bề mặt vải theo nguyên lý rây, các hạt nhỏ hơn bám dính trên bề mặt
sợi vải lọc do va chạm, lực hấp dẫn và lực hút tĩnh điện, dần dần lớp bụi thu
được dày lên tạo thành lớp màng trợ lọc, lớp màng này giữ được tất cả các hạt
bụi có kích thước rất nhỏ. Hiệu quả lọc đạt tới 99,8% và lọc được tất cả các hạt
rất nhỏ nhờ có lớp trợ lọc. Sau một khoảng thời gian lớp bụi sẽ rất dày làm sức
cản của màng quá lớn, ta phải ngưng cho khí thải đi qua và tiến hành loại bỏ
lớp bụi bám trên mặt vải.Thao tác này được gọi là hoàn nguyên khả năng
lọc.Khí sau khi qua thiết bị lọc túi vải được dẫn ra ống thải và thoát ra ngoài
không khí.
3.2. Vạch tuyến hệ thống hút và sơ đồ không gian hệ thống hút
Dựa vào mặt bằng của nhà xưởng đã có sẵn, vị trí các máy móc thiết bị cần thu gom
bụi và hệ qui chiếu, ta vạch sơ đồ trên mặt bằng rồi dựng sơ đồ không gian sao cho
đường ống hút bụi là ngắn nhất, thuận tiện cho thi công, sữa chữa và không cản trở tới
quá trình làm việc của công nhân.
Hệ thống ống dẫn bụi được vận chuyển bằng khí ép và được bố trí ống dẫn trên các
máy móc thiết bị như mặt bằng, sau đó đánh số thứ tự trên các tuyến ống để tính toán áp
lực của hệ thống.


3.3. Khảo sát tính lưu lượng chụp hút
Tại các vị trí phát sinh bụi ta bố trí hệ thống hút ngay vị trí thiết bị máy móc. Trên
mỗi thiết bị máy móc có sẵn các dạng miệng hút bụi tương ứng, có đường kính và số
lượng tuỳ thuộc vào từng thiết bị máy móc khác nhau.
Lưu lượng hút được xác định dựa vào đường kính ống hút và vận tốc hút theo công thức:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status