Báo cáo nghiên cứu chi phí tối thiểu ngoài lương và việc sử dụng giáo viên, lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
CHI PHÍ TỐI THIỂU NGOÀI LƯƠNG VÀ VIỆC SỬ DỤNG
GIÁO VIÊN, LỚP HỌC KHI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
CHUYỂN SANG DẠY HỌC CẢ NGÀY
Chuyên gia tư vấn: PHẠM VĂN TẠI

HÀ NỘI, THÁNG 7/2012

1


MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
Phần mở đầu ………………………………………………..…………….. 2
Phần I. Chi phí tối thiểu ngoài lương khi các trường tiểu học
chuyển sang dạy học cả ngày ..……………………………………
1. Kết quả khảo sát
………………………………………………..
2. Tình hình thực hiện các chi phí thường xuyên ngoài lương
của các trường khi thực hiện dạy học 2 buổi/ngày …..…………. .
3. Một số đề xuất về các chi phí ngoài lương khi các trường
tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày ………..…………………..

3
4
9
12


Đặt vấn đề
Dạy học cả ngày là học sinh được học tập và hoạt động cả ngày ở trường từ đầu
buổi sáng đến cuối buổi chiều. Buổi trưa học sinh có thể ăn, ở lại trường hoặc về nhà. Ở
lứa tuổi tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em là chuyển từ hoạt động vui chơi (ở bậc
mầm non) sang hoạt động học tập và hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động
xã hội. Vì vậy, dạy học cả ngày giúp học sinh có nhiều thời gian học tập và tham gia các
hoạt động giáo dục ở trường nhiều hơn, các em có điều kiện được giao lưu, chia sẻ, góp
phát triển mối quan hệ xã hội, kĩ năng giao tiếp, tính độc lập, tự chủ, nâng cao chất lượng
giáo dục tiểu học.
Do đó, dạy học cả ngày là mô hình dạy học được nhiều nước trên thế giới quan tâm,
thực hiện. Ở Việt Nam, dạy học cả ngày (dạy học 2 buổi/ngày) đã được thực hiện từ
nhiều năm nay ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Dạy học cả ngày đầu tiên chỉ là dạy
thêm một số buổi chiều trong tuần của một số trường tiểu học ở những vùng có điều kiện
kinh tế, xã hội thận lợi. Mục đích chính là ôn luyện kiến thức cho một số học sinh và
quản lý học sinh giúp các gia đình cha mẹ bận đi làm không có ai trông con buổi không
đi học, nhất là đối với các em còn nhỏ tuổi ở lớp 1 và 2. Sau đó, dạy học cả ngày đã tăng
số buổi học trong tuần lên và nhiều học sinh ở tất cả các lớp đăng ký tham gia. Các buổi
học 2 trong ngày đã trở thành buổi học chính khóa. Nội dung, Chương trình dạy học có
sự chỉ đạo thống nhất của Bộ GD&ĐT. Tuy nhiên, đến nay việc dạy học cả ngày vẫn ở
mức độ khuyến khích đối với những trường có điều kiện về phòng học, giáo viên và phụ
huynh tự nguyện. Do vậy, mô hình dạy học cả ngày tuy đã được triển khai hiện ở cả các
địa phương trong cả nước nhưng chưa phải được thực hiện ở tất cả các trường hoặc ở tất
cả các lớp trong trường. Nhiều trường ở những vùng kinh tế, xã hội khó khăn vẫn học
nửa ngày. Từ năm 2010, để giúp đỡ cho các trường tiểu học thuộc vùng kinh tế, xã hội
khó khăn chuyển sang được dạy học cả ngày, Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục
trường học (SEQAP) đã hỗ trợ kinh phí để đầu tư thêm cơ sở vật chất, hỗ trợ giảng dạy
của giáo viên, học tập của học sinh… Đến nay đã có thêm gần 1.000 trường tiểu học
thuộc vùng khó khăn ở 36 tỉnh chuyển sang tổ chức dạy học cả ngày.
Việc chuyển từ dạy học một buổi sang dạy học cả ngày, đòi hỏi các trường phải có

khác; những lao động tăng thêm; các khoản chi ngoài lương khi tổ chức dạy học cả ngày;
những chính sách, quy định hiện hành của nhà nước, của địa phương cho việc dạy học cả
ngày.
Bộ công cụ để khảo sát bao gồm Phiếu hỏi dành cho CBQL cấp sở và phòng
GD&ĐT; Phiếu hỏi dành cho CBQL cấp trường; Phiếu hỏi dành cho giáo viên; Biểu mẫu
để Sở và phòng GD&ĐT báo cáo (trong phần phụ lục).
Đồng thời với việc khảo sát, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu các văn bản pháp lí hiện
hành; tham khảo kết quả nghiên cứu của Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn (PEDC) và kết quả của các thành phần khác trong chương trình SEQAP
liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu.
Giai đoạn 2, khi có chuyên gia quốc tế tham gia nghiên cứu nội dung chi phí ngoài
lương khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày, nhóm chuyên gia tư vấn
trong nước đã phối hợp với chuyên gia quốc tế tiến hành khảo sát tại một số tỉnh: Đồng
Tháp, Long An, Thái Nguyên, Bắc Kạn. Mỗi tỉnh khảo sát 3 trường tiểu học đại diện cho
thành phố, huyện nông thôn, miền núi; cả trong SEQAP và ngoài SEQAP. Nội dung khảo
sát tập trung vào tình hình thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, cơ sở vật chất, các khoản thu
chi tài chính của các trường trong 3 năm học: 2007 - 2008, 2009 - 2010, 2011 - 2012.
Kết quả nghiên cứu toàn đợt về chi phí ngoài lương sẽ được trình bày trong báo cáo
tổng hợp của chuyên gia quốc tế Adam McCarty. Trong phần này tôi chỉ nêu kết quả
nghiên cứu của giai đọan đầu.

4


1. Kết quả khảo sát
a) Tình hình tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở các địa phương:
Số Địa
TT phương

Tổng


239

181

75%

Cả 3

0,90

1.40

1,50
lên

trở

2

Bắc
Giang

272

239

87%

Cả 3

trở

4

Hà Nội

687

653

95%

Cả 3

1,04

1,54

1,50
lên

trở

Qua biểu tổng hợp trên, chưa có địa phương nào tất cả các trường tiểu học chuyển
sang dạy học cả ngày. Dạy học cả ngày cần có các điều kiện cần thiết như phòng học, đội
ngũ giáo viên, các trang thiết bị phục vụ cho dạy học 2 buổi, cơ sở vật chất cho bán trú và
tổ chức các hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp. Do đó, những địa phương có điều kiện về
kinh tế, xã hội thuận lợi, phụ huynh có nhu cầu cho con đi học cả ngày nhiều hơn thì có
nhiều trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày. Thành phố Hà Nội là địa phương có
đủ các yếu tố về phòng học, các trang thiết bị, đội ngũ giáo viên nên hầu hết các trường


Địa phương

T.số
lớp
Tân Lạc, Hòa Bình 12
nt
18
Kim Bôi, H. Bình
18
nt
10
Lục Nam, B.Giang 18
nt
28
Hiệp Hòa, B.Giang 30
nt
17
Đà Lạt, Lâm Đồng 46
Lâm Hà, L.Đồng
13
nt
16
5

Lớp
T30
6
3
0

10
0
17
46
0
16

Nửa
ngày

Ghi
chú
Seqap

11
Seqap
14
18

Seqap
Seqap

Seqap


12

Ninh Loan

13

0
0
66
23%

0
0
0
44
15%

0
19
18
130
45%

6
Seqap

49
17%

100%
Thống kê 15 trường tiểu học trên có:
- 240/289 lớp học 2 buổi/ngày (đạt 83% )
- 10 trường tất cả các lớp học thống nhất theo T30, T33 hoặc T35
- 01 trường có một số lớp theo T30 và một số lớp theo T33
- 04 trường có 1 số lớp học 2 buổi, còn một số lớp vẫn học một buổi.
c) Tình hình tổ chức bán trú (học sinh nghỉ trưa tại trường):

lợi về kinh tế, xã hội thì việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thuận lợi hơn. Số buổi học
trong tuần (mô hình T30, T33, T35), cách tổ chức bố trí thời khóa biểu, tổ chức cho học
sinh bán trú ở các trường khác nhau. Nguyên nhân của tình trạng trên là do điều kiện về
giáo viên, về phòng học và cơ sở vật chất, trang thiết bị; về nguồn thu để chi; về điều
kiện kinh tế và sự tự nguyện của gia đình học sinh ở từng nơi khác nhau. Ngoài ra còn do
cơ chế, chính sách của địa phương cũng ảnh hưởng đến việc tổ chức dạy học cả ngày cho
các trường. Ví dụ như dạy học 2 buổi/ngày nhu cầu về kinh phí tăng lên, để chi trả cho số
tiết vượt giờ của giáo viên, bồi dưỡng cho công tác quản lý, chi cho điện nước, văn
phòng phẩm, phí dịch vụ tăng lên do tăng số buổi học. Trong khi nhà nước chưa có chính
sách quy định cấp bổ sung nguồn kinh phí thì cần phải huy động đóng góp của cha mẹ
học sinh. Một số địa phương có quy định cho phép thu (như Hà Nội và một số địa
phương khác); một số địa phương lại không cho phép thu (như Hòa Bình, Bắc Giang,
Lâm Đồng).
d) Các nhu cầu phát sinh tăng lên khi tổ chức dạy học cả ngày:
+ Tăng thêm về cơ sở vật chất: phòng học và các trang thiết bị phục vụ cho dạy học.
Nếu các trường chỉ dạy học nửa ngày (5 buổi/tuần) thì số phòng học tối thiểu cần
cho các lớp đạt tỷ lệ 0,6 phòng/lớp là đã thực hiện được. Nay chuyển sang dạy học cả
ngày, số phòng học phải tăng lên. Cụ thể phải cần tỷ lệ 0,8 phòng/lớp cho T30 và 1,0
phòng/lớp cho T35 thì mới thực hiện được. Bên cạnh nhu cầu về phòng học, khi dạy học
cả ngày, cần thiết phải có phòng học đa năng để tăng cường các hoạt động tập thể, các
hoạt động văn hóa, thể dục thể thao; phòng học bộ môn cho một số môn chuyên biệt như
Âm nhạc, Tin học, Ngoại ngữ. Ngoài ra còn cần bếp, nhà ăn tập thể, phòng ngủ trưa hoặc
phòng nghe, nhìn để học sinh xem phim, đọc báo buổi trưa…Thời gian qua, các địa
phương đã chủ động, tích cực đầu tư xây dựng thêm phòng học, nhà đa năng, sân chơi,
nhà ăn để các trường tổ chức được dạy học cả ngày. Chương trình SEQAP cũng đã hỗ trợ
kinh phí cho các địa phương để xây dựng thêm phòng học, nhà đa năng cho một số
trường tham gia Chương trình.
+ Tăng thêm giáo viên.
Khi chuyển sang dạy học cả ngày (tức 2 buổi/ngày), số buổi học tăng lên, số tiết học
tăng lên. Mỗi lớp tăng từ 23 tiết/tuần lên 30 tiết/tuần (đối với T30), lên 33 tiết/tuần (đối

lớp cần một giáo viên hoặc người bảo mẫu trông trưa; cần cấp dưỡng nấu bữa trưa cho
học sinh. Ngoài ra, các lực lượng thanh tra nhân dân, tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên,
đại diện Hội cha mẹ học sinh được huy động để tham gia kiểm tra an toàn vệ sinh, hỗ trợ
quản lý học sinh ngoài giờ học; nhân viên kế toán, thủ quỹ của trường cũng phải làm
thêm giờ. Số lao động tăng thêm này cần được tính ra giờ để chi bồi dưỡng giờ làm thêm.
Có như thế mới động viên được người lao động.
Việc bồi dưỡng cho các đối tượng phải làm tăng giờ trong các trường tiểu học khi
chuyển sang dạy học cả ngày, hiện nay Nhà nước chưa có chế độ chính sách gì. Việc cấp
kinh phí cho các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày vẫn cấp như chế độ dạy
học nửa ngày trước đậy. Do vậy, chỉ những trường tiểu học có thu tiền của học sinh về tổ
chức học 2 buổi thì mới có chi bồi dưỡng cho các đối tượng làm thêm giờ (như các
trường ở Hà Nội), còn những trường khác (phần lớn ở những vùng khó khăn) không có
điều kiện thu của học sinh thì các giờ lao động tăng thêm không được chi bồi dưỡng (như
ở Hòa Bình, Bắc Giang, Lâm Đồng), điều này đã không khuyến khích được các trường ở
những vùng khó khăn trong việc tổ chức học cả ngày.
+ Tăng thêm về các chi khác.
Các chi phí thường xuyên khác cũng tăng thêm so với 1 buổi/ngày, như sử dụng
điện thắp sáng, điện làm mát, nước sinh hoạt, nước uống, thiết bị dạy học (TBDH bộ
8


môn, dành cho phần tự chọn…) văn phòng phẩm, phương tiện nghe nhìn, các thiết bị
khác phục vụ cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp vv… như Hà Nội quy định trích 17%
thu được từ cha mẹ học sinh (tiền học buổi 2) để chi phí cho các khoản tăng thêm này.
Những trường khác không thu được từ cha mẹ học sinh thì phải tiếp kiệm chi trong số
kinh phí nhà nước đã cấp.
2. Tình hình thực hiện các chi phí thường xuyên ngoài lương của các trường
khi tổ chức dạy học 2 buổi/ngày
a) Nguồn kinh phí cấp:
- Hằng năm, các trường tiểu học được nhà nước cấp kinh phí để hoạt động. Kinh phí



cho việc tổ chức học 2 buổi/ngày từ năm 2000 (tỉnh Hà Tây cũ có quy định khác, hiện
nay Hà Nội chưa có quy định mới để thống nhất chung). Hướng dẫn chi: 60% cho giáo
viên trực tiếp giảng dạy, 20% cho CBQL, nhân viên phục vụ và phúc lợi tập thể, 17% cho
mua văn phòng phẩm, tăng cường CSVC, vệ sinh…, 3% nộp cấp trên.
- Tỉnh Đồng Tháp: UBND tỉnh có Quyết định số 12/2008/QĐ-UB ngày 17/4/2008,
quy định: trường tiểu học học 2 buổi được phép thu theo thỏa thuận với Ban Đại diện
CMHS, phòng GD&ĐT phê duyệt mức thu. Hướng dẫn chi: 80% chi cho giáo viên trực
tiếp giảng dạy, 10% tăng cường CSVC, điện, nước, văn phòng phẩm; 10% chi cho quản
lý, điều hành, kế toán, phục vụ.
Thực tế như huyện Tháp Mười, thuộc vùng sâu, khó khăn, học sinh ít (bình quân
khoảng 20hs/lớp), chỉ thu được khoảng 60 - 70% số học sinh.
- Tỉnh Long An: UBND tỉnh có Quyết định số 25/2011/QĐ-UB ngày 28/7/2011 quy
định mức thu tiền học 2 buổi theo 3 mức như sau: Học Bán trú: 80.000đ - 50.000đ 30.000đ. Học 6-7 buổi: 40.000đ - 30.000đ - 20.000đ. Học 8-10 buổi: 50.000đ - 40.000đ
– 30.000đ. Hướng dẫn chi: cho giảng dạy, trông trưa, cấp dưỡng, quản lý, nhân viên phục
vụ, hỗ trợ hoạt động thường xuyên, mua vật dụng cho bán trú (các trường tự xây dựng
quy chế chi tiêu nội bộ).
- Tỉnh Thái Nguyên: Tỉnh có văn bản hướng dẫn Liên sở số 1625/LS/GD-TC ngày
22/10/2008 quy định: Chỉ những trường không đủ biên chế giáo viên theo Thông tư số
35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV thì được thu để chi trả tiền dạy thừa giờ của giáo viên.
Mức thu trường thỏa thuận với CMHS; Học sinh bán trú, phụ huynh phải đóng góp tiền
ăn, tiền trông trưa, mua sắn dụng cụ sinh hoạt. Các khoản chi phí thường xuyên như điện,
nước, vệ sinh, bảo vệ chi từ ngân sách và chi theo chế độ.
- Một số địa phương như Hòa Bình, Bắc Giang, Bắc Kạn quy định không cho thu
của học sinh tiền học 2 buổi khi đã đủ 1,5GV/lớp.
Tuy nhiên, việc thu thêm từ gia đình học sinh để hỗ trợ cho các khoản chi khác
ngoài lương ở các trường còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận với cha mẹ học sinh theo chủ
trương của từng địa phương. Khoản thu này có nơi gọi là thu tiền học buổi 2 hay tiền chi
phí quản lý học 2 buổi/ngày và chi phí cho bán trú.

Tiền của
CMHS đóng

Tiền được
hỗ trợ

1. Trang bị cho nhà ăn

80.000đ

0

Thu 1 lần vào lớp
1

2. Mua chăn gối..

40.000đ

0

Thu 1 lần vào lớp
1

3. Dụng cụ ăn trưa cho học sinh

30.000đ

0




- Tiền học: 50.000đ/HS/tháng (thu theo quyết định của UBND tỉnh);
- Tiền ăn: 200.000đ/HS/tháng (theo thỏa thuận với CMHS);
- Tiền trông trưa: 40.000đ/HS/tháng (theo thỏa thuận với CMHS);
- Tiền điện, nước, vật dụng, vệ sinh…:40.000đ/HS/tháng (theo thỏa thuận).
+ Trường Lê Quý Đôn (Tp. Đà Lạt) thu các khoản: 4.500đ/hs/ngày để bồi dưỡng
cho cô bảo mẫu trông trưa; 100.000đ/hs/tháng chi bồi dưỡng cho Ban quản lý (gồm Hiệu
trưởng, các Phó HT, Chủ tịch Công đoàn, nhân viên Y tế, Kế toán, Thủ quỹ, Thanh tra);
tiền ăn theo thỏa thuận với CMHS từng thời điểm.
Do việc thu ở các trường khác nhau nên việc chi bồi dưỡng cho các lao động trong
trường cũng khác nhau. Như trường tiểu học Tam Hiệp (Thanh Trì) bình quân một tháng
giáo viên trực tiếp dạy được hưởng 680.000đ, giáo viên trông trưa 1.100.000đ, Hiệu
trưởng 1.100.000đ, Hiệu phó 980.000đ, Tổng phụ trách đội 600.000đ, kế toán, thủ quỹ
800.000đ, Chủ tịch Công đoàn trường, Trưởng Ban thanh tra nhân dân 300.000đ, bảo vệ
200.000đ. Ở trường tiểu học Liên quan (Thạch Thất) một tháng giáo viên trực tiếp dạy
được hưởng 270.000đ, giáo viên trông trưa 800.000đ, Cán bộ quản lý 2.700.000đ, Tổng
phụ trách đội 250.000đ, các nhân viên khác 200.000đ.
3. Một số đề xuất về các chi phí ngoài lương khi các trường tiểu học chuyển
sang học cả ngày
a) Khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày, các chi phí thường xuyên
ngoài lương tăng lên. Bao gồm:
- Mua sắm vật tư Văn phòng: tăng Văn phòng phẩm, mua sắm công cụ, dụng cụ văn
phòng, vật tư văn phòng khác.
- Thanh toán dịch vụ công: tăng điện thắp sáng, điện làm mát, nước sinh hoạt, nước
uống, vệ sinh môi trường.
- Thanh toán công tác thông tin, tuyên truyền, liên lạc: tăng tiền điện thoại, cước phí
internet, sách báo, tạp chí thư viện, tuyên trền, quảng cáo.
- Tăng cường thiết bị dạy học (TBDH bộ môn, dành cho phần tự chọn…) và các
hoạt động ngoài giờ lên lớp vv…

tiểu học không hoàn toàn giống nhau. Ở những vùng điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn,
kinh phí được cấp nhiều hơn, những vùng đặc biệt khó khăn, kinh phí cấp phải đảm bảo
đủ cho mức chi tối thiểu. Những vùng có điều kiện thuân lợi, kinh phí cấp giảm đi, tăng
huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh. Cụ thể:
- Đối với các trường ở thành phố, thị xã, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội thuân lợi:
phần chi khác Nhà nước cấp đảm bảo tối thiểu 20% tổng quỹ lương như hiện nay. Còn
các chi phí phát sinh tăng lên do học cả ngày, các trường được phép huy động từ sự đóng
góp của cha mẹ học sinh và tài trợ.
- Đối với các trường vùng nông thôn đồng bằng: phần chi khác cấp đảm bảo tối
thiểu 25% tổng quỹ lương. Còn thiếu cho các chi phí phát sinh tăng các trường huy động
thêm từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh.
- Đối với các trường ở vùng miền núi, vùng dân tộc: phần chi khác cấp đảm bảo tối
thiểu 30% tổng quỹ lương. Đủ cho các chi phí tối thiểu phát sinh tăng lên do học cả ngày.
Các trường không phải huy động thêm từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh.
- Đối với các trường thuộc diện đặc biệt khó khăn: phần chi khác cấp đảm bảo tối
thiểu 30% tổng quỹ lương. Ngoài ra Nhà nước cần hỗ trợ bữa ăn trưa cho những học sinh
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như Chương trình SEQAP thực hiện để tất cả học sinh có
điều kiện đi học được cả ngày.
* Huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh:

13


Nhà nước cần có quy định huy động các nguồn lực trong xã hội: dân đóng góp, tài
trợ. Tuy nhiên, việc huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh cần giao cho chính quyền
địa phương quy định cụ thể phù hợp với khả năng thực tế của địa phương mình.
Phần 2. SỬ DỤNG HIỆU QUẢ GIÁO VIÊN VÀ LỚP HỌC KHI CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC CHUYỂN SANG DẠY HỌC HỌC CẢ NGÀY
I. Thực trạng về sử dụng giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển
sang dạy học cả ngày

lớp)
T30 (Khoảng
30 tiết/tuần)

C

Chương trình học hiện
nay cho học nửa ngày

C + C1

Khoảng 2 ngày học cả
ngày ở trường mỗi tuần

T 33 (Khoảng
33 tiết/tuần)

C + C1 +C2

Khoảng 3 ngày học cả
ngày ở trường mỗi tuần.

T 35 (Khoảng
35 tiết/tuần)

C + C1 + C2 + Khoảng 4,5 - 5 ngày
học cả ngày ở trường
C3
mỗi tuần
C: Chương trình học hiện hành được Bộ GD&ĐT phê duyệt.

chiều bố trí các môn chuyên (như trường TH Kim Đồng - Quảng Nam) hoặc dành riêng
cho việc bồi dưỡng, củng cố kiến thức toán, tiếng Việt (như trường hành Tín Đông Quảng Ngãi) hoặc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Buổi trưa các trường bố trí
cho học sinh là ngủ trưa hoặc đọc sách thư viện, xem ti vi, chơi trò chơi vv…tùy theo sở
thích.
2. Nội dung học tập và các hoạt động giáo dục
Qua khảo sát 34 trường tiểu học có tỏ chức học cả ngày, đại diện cho các vùng
miền: miền núi (vùng khó khăn), nông thôn, thành thị. Việc thực hiện các nội dung học
tập, các hoạt động giáo dục khi chuyển từ một buổi/ngày sang học cả ngày, nhìn chung
có sự khác nhau giữa các trường ở các vùng miền. Sự khác nhau tập trung ở những nội
dung học tập, các hoạt động do thời gian ở trường tăng thêm. Các nội dung học tập và các
hoạt động giáo dục tập trung ở nội dung sau:
- Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học hiện hành theo Quyết định 16/2006 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
15


- Các tiết tăng thêm tập trung vào tăng cường tiếng Việt và Toán (100% các trường
ở vùng khó tổ chức bồi dưỡng học sinh khá, kèm cặp học sinh yếu).
- Đối với phần tự chọn, nội dung tập trung vào học ngoại ngữ, tin học (theo hướng
dẫn trong chương trình tiểu học hiện hành).
- Tổ chức dạy học một số nội dung: kĩ năng sống, an toàn giao thông, môi trường
vv…
- Các hoạt động giáo dục: thể dục, thể thao, trò chơi dân gian, múa hát tập thể, đọc
sách vv…
- Đối với các trường có học sinh bán trú, tổ chức cho học sinh ở lại buổi trưa thông
thường cho các em đọc sách, xem ti vi hoặc chơi các trò chơi.
* Đối với các trường ở miền núi, vùng sâu, vùng xa:
Hầu hết các trường tiểu học thuộc miền núi, vùng sâu, vùng xa là những vùng khó
khăn thời gian tăng thêm ở trường khi chuyển sang dạy học cả ngày thường tập trung vào
tăng cường tiếng Việt và Toán: Trường tiểu học Trần Thị Bích Dung (Tháp Mười, Đồng

chức các hoạt động tâp thể chơi trò chơi dân gian, thể dục, thể thao vv…
Ví dụ: Trường tiểu học Tam Hiệp (Thanh Trì, Hà Nội), trường nhà trường tổ chức
dạy các nội dung: Kĩ năng sống, an toàn giao thông, thanh lịch văn minh vv…Trong thời
khóa biểu có các tiết học trong thư viện, tiết sinh hoạt theo chủ điểm vv…
Tóm lại: Khi chuyển sang học cả ngày, thời gian học ở trường của học sinh tăng
thêm. Việc thực hiện các nội dung dạy học và các hoạt động giáo dục phụ thuộc rất nhiều
vào đặc điểm vùng miền. Đối với vùng nông thôn, vùng núi các trường tập trung hơn vào
việc tăng cường củng cố kiến thức, bồi dưỡng học sinh khá, kèm cặp học sinh yếu. Riêng
vùng khó khăn, học sinh dân tộc, thời gian học tăng thêm chủ yếu tập trung vào việc dạy
tăng cường môn Toán và tiếng Việt, tiếng dân tộc. Vùng thành thị đưa những nội dung
giáo dục phong phú hơn nhằm phát triển ở học sinh những kĩ năng mềm. học sinh được
tham gia các hoạt động nhiều hơn.
3. Sử dụng giáo viên khi các trường tổ chức dạy học cả ngày
Thực tế ở các địa phương, các lớp dạy học 2 buổi/ngày dù là T30, T33 hay T35 đều
được biên chế từ 1,5 giáo viên/lớp trở lên (theo Thông tư số 35/2006/TTLT-BGD&ĐTBNV-BTC). Tuy nhiên, có một số trường được bố trí ít hơn hoặc nhiều hơn tỷ lệ này như
trường tiểu học Tam Hiệp (Thanh Trì, Hà Nội) dạy 10 buổi/tuần, tỷ lệ giáo viên là 1,42
giáo viên/lớp; trường tiểu học Mường Khến (Tân Lạc, Hòa Bình) cũng dạy 10 buổi/tuần,
tỷ lệ giáo viên là 1,9 giáo viên/lớp.
Thành phần đội ngũ giáo viên trong một trường thường không đảm bảo cân đối giữa
giáo viên văn hóa và giáo viên môn chuyên. Nhiều trường tiểu học đủ hoặc thừa về số
lượng, nhưng lại thiếu một số giáo viên dạy các môn chuyên. Có trường đủ số lượng giáo
viên chuyên nhưng lại không cân đối từng môn do số lớp nhiều, ít rất khác nhau, khó bố
trí được cân đối giáo viên từng môn.
Hà Nội là địa phương có điều kiện thuận lợi về tuyển dụng đội ngũ giáo viên văn
hóa và giáo viên chuyên biệt. Tỷ lệ giáo viên tiểu học chung toàn thành phố đạt
1,54GV/lớp, nhưng vẫn xảy ra thừa, thiếu cục bộ. Để điều động đủ giáo viên dạy môn
chuyên, Hà Nội đã đưa ra công thức tính tỷ lệ giáo viên số môn chuyên biệt cho một lớp
để làm căn cứ tuyển dụng như: dành định mức 0,3 GV/lớp cho các môn chuyên và chia
ra: môn Âm nhạc, Mỹ thuật là 0,07, Tin học, Ngoại ngữ là 0,035, Thể dục là 0,09 và 1,2
là giáo viên văn hóa. Việc chia trên là hoàn toàn chưa có căn cứ, nhưng khi thực hiện do

tế rất khó đạt được. Đây cũng là điều khó khăn cho các trường trong việc sử dụng hiệu
quả giáo viên. Đối với các trường vùng khó, vùng nông thôn khi số tiết dạy học tăng đều
tập trung vào tăng cường môn Toán và tiếng Việt do giáo viên chủ nhiệm dạy. Dẫn đến
giáo viên chủ nhiệm sẽ có số giờ tăng, thường vượt quá số giờ quy định.
Tóm lại: Khi chuyển sang học cả ngày các trường tiểu học đều bố trí giáo viên văn
hóa làm chủ nhiệm lớp và dạy các tiết học tăng cường Tóan, tiếng Việt. Đồng thời tham
gia tổ chức, quản lý các hoạt động giáo dục ngoài giờ của lớp. Do đó, thường có số tiết
vượt quá định mức quy định. Giáo viên chuyên bố trí dạy các môn chuyên. Nhưng các
trường thường không đủ giáo viên chuyên vì việc điều động đủ giáo viên môn chuyên
theo đúng số tiết từng môn chuyên là rất khó. Các trường đã chủ động phân công giáo
viên trong trường để giảng dạy, như bố trí giáo viên văn hóa dạy các môn chuyên thể
dục, âm nhạc, mỹ thuật khi thiếu giáo viên dạy chuyên. Hoặc khi giáo viên chuyên, dạy ít
tiết, trường phân công phụ trách các hoạt động khác để đủ định mức giờ dạy.

18


Vì vậy việc phân công hợp lý giáo viên trong trường là rất cần thiết và đòi hỏi chất
lượng chuyên môn của giáo viên để có thể dạy được các môn khi trường không được bố
trí đủ cơ cấu thành phần giáo viên các môn.
4. Sử dụng lớp học khi chuyển sang dạy học cả ngày
Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà
trường bao gồm: phòng học văn hóa, phòng học môn chuyên (Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể
dục, Tin học, Ngoại ngữ), thư viện, nhà đa năng, sân chơi, phòng Đội, phòng truyền
thống, vv… Thực tế cơ sở vật chất ở các trường dạy học cả ngày không giống nhau.
Theo thống kê tại 34 trường khảo sát có:
- 34/34 trường có đủ phòng học văn hóa để thực hiện theo mô hình T30, T33 hay
T35 (đạt 100%).
- 24/34 trường có phòng học dành cho môn chuyên (đạt 70,5%)
- 18/34 trường có phòng thư viện (đạt 52,9%)

Lê Quý Đôn và Lán tranh 1 (Lâm Đồng) có nhà ăn cho học sinh bán trú; các cơ sở này do
các trường khai thác các phòng hiện có của trường hoặc do cha mẹ học sinh và địa
phương góp sức xây dựng.
Đa số các trường không có nhà ăn, ngủ trưa cho học sinh thì đã sử dụng lớp học
như một phòng đa chức năng, vừa là lớp học cho cả 2 buổi, vừa là phòng ăn, phòng ngủ
trưa cho học sinh. Việc tổ chức ăn trưa, nghỉ trưa cho số học sinh bán trú được tổ chức
ngay trên lớp học.
Tóm lại: Khi tổ chức dạy học cả ngày, việc sử dụng hiệu quả các phòng học và cơ
sở vật chất của trường ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng dạy học. Trong điều kiện lớp
học, phòng học bộ môn, phòng chức năng, nhà đa năng, sân chơi, thiết bị dạy học… phục
vụ cho việc dạy học cả ngày ở nhiều trường còn chưa đầy đủ, các trường cần chủ động
chọn mô hình học cả ngày cho phù hợp và khai thác cơ sở hiện có để tổ chức tốt các giờ
lên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Các vùng khó khăn, mọi hoạt đông chủ yếu diễn ra trong lớp học. Vùng thành thị,
thị xã, thị trấn có điều kiện được trang bị đầy đủ hơn về các phòng chức năng, cần khai
thác thêm như thư viện, nhà đa năng, phòng học bộ môn, sân trường cho các nôi dung
dạy học và các hoạt động tập thể. Các trường thiếu nhà ăn, phòng ngủ cho học sinh bán
trú thì sử dụng lớp học thành phòng đa chức năng.
II. Một số đề xuất về sử dụng giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học
chuyển sang dạy học cả ngày
1. Xác định các nội dung học tâp và các hoạt động giáo dục khi chuyển sang
học cả ngày
Việc xác định nội dung học tập và các hoạt động giáo dục khi chuyển sang dạy học
cả ngày liên quan đến việc sử dụng giáo viên của các trường. Mục tiêu của việc dạy học
cả ngày là nhằm cải thiện chất lượng giáo dục tiểu học. Việc dạy học cả ngày là tăng thời
gian học tập ở trường cho các em để các em về nhà không phải học bài nữa. Tăng thời
gian học ở trường nhưng không tăng nội dung chương trình mà thay đổi về phương pháp
dạy học để tăng cường, bổ trợ kiến thức và tăng cường tổ chức hoạt động ngoài giờ lên
lớp, giảm cường độ học của học sinh.
Do đó, việc xác định nội dung học tập và các hoạt động giáo dục cho phù hớp với

chương trình như mô hình T30, các
trường tăng cường thêm số tiết cho củng
cố kiến thức của môn toán, tiếng Việt,
bồi dưỡng HS khá, giỏi; kèm HS yếu và
thực hiện dạy một số nội dung phần tự
chọn, như kỹ năng sống, an toàn giao
thông, môi trường, ma túy, thanh lịch
văn minh, năng lực làm người…

- Cho học sinh ngủ trưa
- Hoặc cho học sinh đọc sách, xem TV, vẽ, tập đàn, chơi cờ vv..

- Các trường tiểu học thực hiện mô hình T30, sẽ có 2 ngày trong tuần học cả ngày.
Căn cứ vào đặc điểm của từng vùng, thời gian tăng thêm của 2 buổi học, nội dung dạy
học sẽ tập trung vào việc kèm cặp học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi. Đồng thời
ở các khối 1, 2 tăng cường môn Toán và tiếng Việt, dạy tiếng Dân tộc (đối với các trường
cần dạy tiếng Dân tộc). Các khối 3, 4 và 5 dạy phần tự chọn là các môn Ngoại ngữ và Tin
học. Ngoài ra cần tăng cường xen kẽ các hoạt động giáo dục để mang lại không khí thoải
mái cho học sinh. Dần đưa vào các hoạt động giáo dục nhằm phát triển các kĩ năng như
kĩ năng giao tiếp…
- Các trường tiểu học thực hiện T35: Theo mô hình này, thời gian học sinh học ở
trường nhiều hơn (thêm 4 - 5 buổi học trong tuần). Ngoài dạy nội dung như T30, nhà
trường tăng cường các hoạt động giáo dục tập thể, tổ chức cho các em vui chơi và thêm
một số tiết tăng cường ở một số môn cơ bản.
Ngoài việc thực hiện nội dung học tập theo chương trình tiểu học hiện hành, việc
xác định các nôi dung và các hoạt động giáo dục cho phù hợp với thời gian và đối tượng
học sinh của trường là hết sức quan trọng. Tùy theo đặc điểm của từng vùng, miền việc
xác định nội dung học và các hoạt động giáo dục của mỗi trường cần linh hoạt và phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, điều kiện kinh tế, xã hội địa phương. Ví dụ
như vùng thành phố thị xã, thị trấn có điều kiện thuận lợi nhà trường sẽ tăng cường các

động vui chơi, chơi trò chơi, hướng dẫn học sinh xem TV vv…. Nhân viên thư viện sẽ hỗ
trợ học sinh đọc sách, quản lí học sinh có các tiết học trên thư viện, tổ chức cho học sinh
xem TV…
- Quản lý học sinh bán trú, ở lại trường buổi trưa, giáo viên chủ nhiệm là người chịu
trách nhiệm chính về tổ chức quản lý học sinh buổi trưa. Giáo viên chủ nhiệm có thể là
người trực tiếp trông trưa ở lớp mình hoặc phối hợp với nhân viên trông trưa (nếu có) và
phối hợp với lực lượng nhân viên của trường như nhận viên thư viện, y tế, thiết bị giáo
dục để quản lý học sinh buổi trưa. Việc này hoàn toàn do các trường chủ động bố trí nhân
lực trông trưa phù hợp với điều kiện của trường mình.
2.2. Cần có chính sách cho giáo viên tiểu học dạy học cả ngày:
Để sử dụng hiệu quả giáo viên khi chuyển sang dạy học cả ngày, Nhà nước cần đầu
tư đủ mức tối thiểu số giáo viên dạy và có chính sách cho giáo viên tiểu học:
a) Đảm bảo cho các trường về giáo viên như sau:
- Đủ biên chế tối thiểu cho giáo viên dạy học 2 buổi. Không nhất thiết thêm một
buổi học là phải thêm 1 giáo viên. Chỉ cần đảm bảo định mức từ 1,5 đến 1,6 giáo viên
cho một lớp và nếu giáo viên dạy vượt giờ quy định thì có chế độ bồi dưỡng làm thên
giờ.
22


- Cân đối đủ tỷ lệ giáo viên văn hóa và giáo viên môn chuyên để giáo viên dạy đúng
chuyên môn.
- Đảm bảo chất lượng đội ngũ giáo viên đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giảng
dạy và tổ chức được các hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp.
b) Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên:
Để việc tổ chức dạy học cả ngày của các trường tiểu học có hiệu quả, việc nâng cao
trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học hiện có là việc làm hết sức quan trọng. Muốn nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học, cần có sự thay đổi
trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học:
- Về bồi dưỡng thường xuyên bao gồm: bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; bồi

bao gồm: lớp học, thư viện, phòng đa năng, các phòng học chuyên, phòng đội, phòng
truyền thống, phòng có lắp đặt các thiết bị nghe nhìn, sân trường. Trên thực tế, không
phải các trường tiểu học đã có đầy đủ cơ sở vật chất đó, chưa kể đến trang thiết bị trong
mỗi phòng, lớp học.
Việc khai thác, sử dụng các lớp học và cơ sở vật chất hiện có của trường ảnh hưởng
lớn đến chất lượng giờ học, giờ hoạt động của học sinh khi tổ chức học cả ngày ở các
trường tiểu học. Cụ thể:
- Sử dụng lớp học: đây là điều kiện tối thiểu để các trường tổ chức dạy học 2
buổi/ngày. Lớp học là địa điểm cho mỗi lớp thực hiện chương trình, nội dung các buổi
lên lớp. Các địa phương khảng định nếu không có đủ phòng học tối thiếu cho các lớp thì
không thực hiện được dạy học cả ngày.
- Sử dụng phòng học bộ môn: Ngoài sử dụng phòng học cho mỗi lớp, các trường
cần sử dụng tốt các phòng học bộ môn. Nếu có phòng học bộ môn, trường cần dành cho
dạy các môn như Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Ở phòng học bộ môn mới bố
trí trang bị được các thiết bị dạy học bộ môn (như nhạc cụ cho dạy nhạc, máy tính cho
dạy tin học…) để giờ dạy có chất lượng, đồng thời giờ học đó không làm ảnh hưởng đến
các giờ học của các lớp khác.
- Sử dụng nhà Đa năng: Khi chuyển sang học cả ngày, các trường tiểu học sẽ tăng
cường các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Vì vậy, các trường cần có một nhà đa năng để tổ
chức các hoạt động văn thể, các hoạt động tập thể cho học sinh. Chương trình SEQAP rất
chú trọng việc xây nhà đa năng cho các trường tiểu học khi chuyển sang dạy học cả ngày.
- Sử dụng Thư viện, phòng đọc, phòng sinh hoạt văn hóa buổi trưa (như cho xem
phim, đọc truyện) cho những học sinh không có thói quen ngủ trưa.
- Sử dụng Phòng truyền thông/phòng Đội có thể bố trí những hoạt động giáo dục,
như chơi cờ, chơi trò chơi vv…
- Sử dụng nhà ăn, phòng ngủ trưa cho học sinh bán trú.
3.2. Nhu cầu đầu tư đầy đủ về phòng học cho việc dạy học cả ngày:
Đề xuất chung của các trường cụ thể như sau:
- Cần có đủ phòng học tối thiểu cho các lớp để thực hiện theo mô hình dạy học cả
ngày (mô hình T30 cần từ 0,8 phòng học cho một lớp, mô hình T35 cần từ 1,0 phòng học


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status