Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng - Pdf 31

PHẦN MỞ ĐẦU
Đề tài: “Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam
và các yếu tố ảnh hưởng”
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay các sản phẩm báo chí như truyền hình, internet, báo mạng, báo in,
đài phát thanh đã nhanh chóng trở thành một phần quan trọng trong hệ thống các
phương tiện thông tin đại chúng, trở thành bộ phận trong cuộc sống của mỗi người
dân. Có thể nhận thấy rằng sự tác động của sản phẩm báo chí đến đời sống xã hội
bao gồm các khía cạnh: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và khoa học kỹ thuật…
Các khía cạnh này cũng tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển của các sản phẩm
báo chí, mọi sự tác động qua lại này đều nhằm vào mục đích là phục vụ công
chúng. Như vậy công chúng vừa là đối tượng phục vụ, vừa là một bộ phận quan
trọng tạo thành động lực để phát triển các sản phẩm báo chí. Nghiên cứu công
chúng là nhiệm vụ và cũng là chủ đề cơ bản của nhiều ngành khoa học.
Trong những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam đã tạo ra
một diện mạo hết sức mới mẻ của xã hội: Đời sống của các tầng lớp cư dân đang
có những chuyển biến rõ rệt, chất lượng cuộc sống được nâng lên đáng kể, đòi hỏi
của người dân giờ đây không chỉ là cơm ăn, áo mặc mà các nhu cầu về văn hóa,
giải trí đang trở thành phổ biến ở tất cả các khu vực thành thị và nông thôn. Công
chúng Việt Nam dưới tác động của các chuyển biến về kinh tế, xã hội đã thay đổi
rất nhiều so với trước đây, đòi hỏi phải có thêm nghiên cứu để tìm hiểu sự thay đổi
về thực trạng và nhu cầu của công chúng khi tiếp nhận các sản phẩm báo chí trong
hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay cũng như trong giai đoạn sau này.


Các sản phẩm báo chí Việt Nam đang thực sự chiếm được lòng tin yêu của
công chúng bởi đã có sự vượt bậc cả về nội dung và hình thức. Tuy nhiên không
tránh khỏi việc có những sản phẩm báo chí chưa gây được sự hấp dẫn, thu hút công
chúng dẫn đến tính hiệu quả còn chưa cao. Điều đó dẫn tới việc lãng phí tiền của
và sức lực. Nếu không khắc phục tình trạng này thì sự lãng phí cũng theo chiều
hướng đó mà tăng lên. Vì vậy cần nghiên cứu thực trạng tiếp nhận các sản phẩm

đo lường hành vi của người sử dụng chuyển về trung tâm xử lý và thông báo kết
quả này cho các đài truyền hình. Trường phái Chicago đã đề cao vai trò của
truyền thông trong đời sống xã hội không chỉ truyền đạt thông tin mà còn có
nhiệm vụ duy trì nền văn hóa. Đến giữa thập kỉ 80, các công trình nghiên cứu
xã hội học về truyền thông ra đời nhưng vẫn dựa trên hành vi và chức năng do
Mc Comb và Shaw đề ra từ thời gian đầu. Những cải tiến về sau chỉ là đưa thêm
những biến số hoặc nghiên cứu thêm các kiểu dư luận.
Năm 1910 M. Weber đã đưa ra bộ môn xã hội học báo chí có nhiệm vụ
nghiên cứu:
+ Sự phục vụ báo chí cho các tập đoàn, các tầng lớp khác nhau
+ Phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo
+ Tìm hiểu các phương pháp phân tích báo chí
+ Phân tích hiệu quả của báo chí đới với việc xây dựng con người
T. Parson (1902- 1979) nhà xã hội học người Mỹ đã đề cao vai trò của thông
tin. Theo ông, thông tin là quá trình cơ bản trong hệ thống xã hội, vì vậy khi
nghiên cứu thông tin phải đặt nó trong sự vận hành của hệ thống xã hội.
Theo A. Toffler làn sóng thứ ba đang tạo ra một thời đại mới, thời đại của
thông tin phi đại chúng hóa. Công chúng hiện nay không chỉ có một nguồn


thông tin mà chúng còn có nhiều nguồn thông tin đa dạng. Do vậy họ có thể
chọn lựa nhiều nguồn thông tin nào phù hợp với chính bản thân mình. Chính sự
thay đổi của môi trường dẫn đến những thông tin xung quanh chúng ta bị thay
đổi.
Trong mục: phương tiên truyền thông đại chúng của tác phẩm “Xã hội học”
về truyền hình và tác động của nó tới công chúng. Hay trong cuốn “Báo chí
truyền hình” tập 2- của G.V.Cudơnhetxốp, X.L, Xvich, A. Ia. Iurốpxki. (Nhà
cuất bản Thông tấn- 2004) cũng dành một chương viết về các phương pháp
nghiên cứu công chúng truyền hình.
Một khuynh hướng nghiên cứu về công chúng truyền hình là phân tích sự

tốt nhất để tìm kiếm thông tin trên mạng internet.
Bài viết Technical and strategic relevance (Tạm dịch: Kỹ thuật và chiến
lược thích hợp) đăng trên web của Bộ Giáo Dục và Khó học Nga
(www.minitera.ru): hướng dẫn cách tìm ảnh trên internet và có một số đường
dẫn tới các website tới nội dung này.
Nghiên cứu về sự độc quyền truyền thông xã hội (Social Media Monopol )
và thay thế của chúng - New INC Research Network ( Đơn vị chuyên nghiên
cứu về văn hoá mạng ). Social Media (truyền thông xã hội) là khái niệm chỉ một
phương thức truyền thông đại chúng (xã hội) trên nền tảng các dịch vụ trực
tuyến – tức là những trang web trên Internet. Nghiên cứu này đề cập đến sự
bùng nổ của truyền thông xã hội trong đời sống hiện nay và khả năng đổ vỡ của
đế chế mạng xã hội chứa đựng trong nó.


“ Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng, dư luận xã hội và chính sách
đối ngoại” , nghiên cứu của Matthew A. Baum and Philip B.K. Potter ( Mỹ) đã
chỉ ra rằng thông qua các phương tiện truyền thông, các ý kiến của công chúng
(dư luận ) có tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội và tác động đến cả việc đưa
ra những chính sách, kể cả chính sách đối ngoại của nhà nước. Nghiên cứu này
đã khẳng định sức mạnh to lớn của dư luận khi có truyền thông hậu thuẫn.
2.2

Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu công chúng của truyền thông đại chúng , công

chúng của báo chí cũng bắt đầu được lưu ý. Các công trình nghiên cứu chưa
nhiều nhưng cũng phải kể tới một số các công trình đáng chú ý:
Có một số luận văn thạc sĩ xã hội học về công chúng truyền thông, nhưng
chỉ là những nhóm công chúng đặc trưng: Nhu cầu đọc báo của sinh viên
Thành phố Hồ Chí Minh, của Bành Tường Chân (1999) (chỉ với báo in); Sinh

sinh viên Hà Nội” tại 5 trường Đại học ở Hà Nội với 200 sinh viên. Đây là một
đề tài nghiên cứu với quy mô nhỏ kết hợp định tính và định lượng để tìm hiểu
hành vi của sinh viên với các ấn phẩm và các chương trình trên phương tiện
truyền thông đại chúng. Đề tài đã tổ hợp được mong muốn của sinh viên xem
các kênh truyền hình, nội dung và chương trình cụ thể. Số liệu của đề tài để
phục vụ lớp bồi dưỡng của hội nhà báo cho các phóng viên viết về thanh niên.


Hàng loạt các công trình nghiên cứu về công chúng truyền thông của
PGS.TS Mai Quỳnh Nam công bố trên tạp chí Xã hội học. Đáng chú ý là đề tài
nghiên cứu khoa học “Dư luận xã hội với truyền hình Việt Nam- các giải pháp
nâng cao chất lượng chương trình” – Khảo sát từ tháng 3 đến tháng 9/2003, do
Tạp chí Truyền hình- Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện dưới sự chủ trì của
TS. Đậu Ngọc Đản, hoàn thành vào tháng 4/2004.
Luận án Thạc sĩ Xã hội học của tác giả Phạm Hương Trà năm 2005 với tên
đề tài “Nhu cầu xem truyền hình của Thanh niên Hà Nội”. Đề tài tìm hiểu nhu
cầu của Thanh niên khi xem truyền hình. Tìm hiểu mức độ yêu thích và thời
gian mà đối tượng đó dành cho kênh truyền hình (VTV1, VTV2, VTV3, Hà
Nội) xem thanh niên có mối quan tâm ra sao và nhu cầu của họ như thế nào. Từ
đó định hướng giải quyết nhất định giúp đài truyền hình có các cách thức tiến
hành phục vụ thiết thực hơn cho đối tượng này.
Ở công trình Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2006), (Nguyễn
Văn Dững chủ biên), với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả đề cập vấn
đề nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trong mối quan hệ một chu trình
truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban đầu về công chúng, gồm
ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu. Có những cách
tiếp cận phổ biến: tiếp cận công chúng - nhóm đối tượng đặc thù (theo độ tuổi,
theo giới...) và tiếp cận công chúng theo nhóm đối tượng của từng loại hình báo
chí, tiếp cận từ đề tài thông tin, từ địa bàn sống của cư dân,... Cách thứ nhất, có
thể thấy ở các nghiên cứu chọn nhóm công chúng thanh niên - sinh viên, nghiên

nghiên cứu ở Việt Nam, là những gợi mở ban đầu đối với chúng tôi khi chọn
nghiên cứu vấn đề này


Có thể thấy rằng tuy chưa nhiều nhưng việc nghiên cứu công chúng truyền
hình đã đặt ra và được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Nó cho thấy đây là một
phần cực kì quan trọng đối với hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình,
cũng có thể dự báo là công việc này sẽ được chú ý hơn nữa và có ảnh hưởng hơn
nữa đối với ngành truyền hình ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng (và nhu cầu) tiếp nhận các sản phẩm báo chí
của công chúngcũng như các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tiếp nhận của công
chúng Việt Nam, từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng phục vụ công chúng của các cơ quan báo chí ở Việt Nam cho nhằm góp
phần đáp ứng nhu cầu hoạt động phục vụ công chúng của các cơ quan báo chí.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. (cho việc …)
- Khảo sát định lượng và định tính thực trạng (và nhu cầu) tiếp nhận các sán
phẩm báo chí của công chúng Việt Nam.
- Chỉ ra các yếu tố tác động đến việc tiếp nhận các loại hình báo chí của công
chúng Việt Nam.
- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu hoạt
động của các cơ quan báo chí, góp phần phục vụ yêu cầu của công chúng Việt
Nam.



hình, báo mạng điện tử và báo in.
- Công chúng tiếp nhận nội dung thông tin qua các sản phẩm báo chí là các tin
Chính trị trong nước nhiều nhất sau đó tới tin kinh tế, tài chính và lao động việc
làm.
-…


5.2. Khung lý thuyết

Xu hướng phát triển của các loại hình báo
chí điện tử

Đặc điểm nhân khẩu
học của công chúng
- Giới tính
- Độ tuổi

Thực
trạng tiếp
nhận các
sản phẩm

- Địa bàn cứ trú

báo chí

- Trình độ học
vấn

của công

 Xu hướng phát triển của các loại hình báo chí điện tử


Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực báo chí:

Biến phụ thuộc:
Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam và các
yếu tố ảnh hưởng.
- Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng
+ Phương thức tiếp cận báo chí:
• Mức độ, tấn suất tiếp cận
• Thời gian tiếp cận
• Không gian tiếp cận


• Mức độ tương tác với báo chí
+ Nội dung tiếp cận sản phẩm báo chí:
• Đánh giá về chất lượng nội dung các sản phẩm
• Đánh giá về hình thức truyền tải
• Những chủ đề công chúng ưa thích
• Những chủ đề công chúng ít ưa thích
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận các loại hình báo chí của công
chúng Việt Nam
+ Ảnh hưởng từ các yếu tố nhân khẩu học
+ Ảnh hưởng từ sự phát triển công nghệ truyền thông
+ Ảnh hưởng từ khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầu thông tin công chúng của các
cơ quan báo chí.
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp luận
* Phương pháp luận chung: CNDVBC, CNDVLS…


- Phân tích tài liệu: Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát
hóa những lý thuyết cũng như các công trình đã được đăng tải trên sách báo, tạp
chí và những công trình nghiên cứu thực tiễn của các tác giả có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu.
- Phỏng vấn sâu: Phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu sâu để lý giải về
thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam. Phương pháp
phỏng vấn sâu được thực hiện dựa trên việc thiết kế một bảng phỏng vấn sâu để
thu thập thông tin với một số đối tượng dựa trên mục đích của cuộc nghiên cứu.
Ghi rõ số lượng mẫu PVS, thảo luận nhóm, địa bàn
Phương pháp thu thập thông tin: Sử dụng bảng hỏi Anket
Phương pháp xử lý thông tin: Phần mềm SPSS 16.0, phần mềm NVIVO 7.0
8. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
8.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần bổ sung tài liệu, làm phong phú hơn những nghiên cứu về xu
hướng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam. Đồng thời cung
cấp những số liệu cần thiết về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp
nhận các loại hình báo chí của công chúng, làm tài liệu cơ sở cho những đề tài
nghiên cứu sâu hơn về chủ đề nghiên cứu công chúng.
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ những kết quả khảo sát thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của
công chúng, đề tài đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm thu hút cũng như
đáp ứng nhu cầu của công chúng trong việc theo dõi các sản phẩm báo chí như
truyền hình, báo in, báo mạng điện tử hay đài phát thanh.
9. Kết cấu của đề tài


Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt

từ 13 tuổi tới 70 tuổi. Là những người đã và đang tiếp nhận các sản phẩm báo chí
truyền thông Việt Nam.
2. Quan điểm, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực Báo chí
Giới thiệu được tên cụ thể của một số văn bản nhà nước về báo chí
Trên cơ sở những văn kiện của Đảng ta, có thể thấy những quan điểm sau
đây cần được nhận thức, quán triệt và thực hiện trong quá trình quản lý nhà nước
về báo chí cũng như họat động báo chí.
Công tác báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt động
của Đảng ta, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận. Không chỉ là yếu tố
cấu thành hữu cơ, báo chí là vũ khí xung kích trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Báo


chí có vai trò quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổ chức. Quan điểm
này đã được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động của Mác-Ănghen, Lênin và Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng như trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta. Báo
chí là bộ phận hữu cơ và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Đảng.
Báo chí nước ta phải góp phần tích cực vào tuyên truyền lý luận Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước. Báo chí phải góp phần tích cực xây dựng lý tưởng xã hội vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần ổn
định chính trị tư tưởng, bình ổn đời sống tinh thần để huy động nguồn lực phát
triển kinh tế-xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống. Xây dựng lý tưởng xã hội,
tuyên truyền tư tưởng của Đảng là một công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp, nhất
là trong tình hình hiện nay, cho nên đòi hỏi phải kiên trì, sự nhiệt thành, trung
thành, hiểu biết và tính chuyên nghiệp cao.
Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là
diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lí của Nhà
nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính
chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí. Báo
chí của ta là cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp

với tốc độ nhanh hơn và ngày càng tỏ ra có ưu thế hơn so với báo viết. Đặc biệt từ
năm 1997 nước ta có mạng internet thì cũng là lúc đánh dấu sự xuất hiện của một
loại hình truyền thông mới đó là báo mạng cho phép cập nhật thông tin nhanh
chóng và liên tục. Loại báo này đang thu hút một lượng lớn độc giả, nhất là các độc
giả trẻ. Tình hình hiện tại đã đặt ra một câu hỏi lớn cho báo in: Báo in phải làm gì


trong công cuộc cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác? Và câu trả lời
là “đổi mới”, bởi không đổi mới nghĩa là sẽ chết. Thực tiễn cho thấy ở Trung Quốc
có 667 tờ báo phải đóng cửa vì hoạt động không hiệu quả và không đúng mục đích.
Nhiều tờ báo đã mất đi độc giả thân thuộc của mình. Tờ báo tồn tại được là tờ báo
biết thích nghi, chịu tìm tòi các con đường hiệu quả nhất đánh vào thị hiếu và đến
với trái tim độc giả. Trên thế giới ngay cả những tờ báo đẳng cấp cao, có lượng độc
giả lớn và tương đối ổn định cũng không dám loại mình khỏi cái guồng quay cạnh
tranh – đổi mới và sàng lọc tất yếu của sự phát triển đó. Và thực tế báo in đang dần
hình thành những xu hướng mới để thích nghi và cạnh tranh với các loại hình
truyền thông khác.
Sự ra đời và phát triển của dòng báo giá rẻ giữa thế kỉ 19 là mốc phát triển
quan trọng của lịch sử báo chí thế giới. Báo đã đến được với nhiều người và do đó
vị thế, tầm ảnh hưởng của nó ngày càng lớn hơn. Xu hướng báo chí thế giới đó là
giá ngày càng giảm xuống, thông tin ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn, hấp dẫn
hơn. Ở Việt Nam cách đây khoảng 8 năm giá báo Thanh Niên là 1700 đồng, bây
giờ đã hạ giá xuống còn 1300 đồng, bằng giá báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí
Minh. Sự cạnh tranh về thông tin và độc giả là nguyên nhân chủ yếu để Thanh
Niên có quyết định “sáng suốt” này. “Nếu cứ để giá cao hơn báo Tuổi trẻ thì Thanh
Niên sẽ gặp bất lợi và khó cạnh tranh” - Phó Tổng Biên tập của báo Thanh Niên
cho biết sau khi có quyết định sáng suốt đó tốc độ tăng trưởng số lượng báo rất
nhanh năm 2006 là 300.000 bản/ kỳ, thu hút nhiều quảng cáo hơn bù đắp giá bán.
Người đọc báo có lợi hơn.
Sự ra đời của những tờ báo giá rẻ đã tạo điều kiện cho báo miễn phí ra đời.

mạnh nữa của báo mạng là khả năng tương tác nhiều chiều. Đơn giản nhất là khả


năng tương tác hai chiều giữa công chúng và toà soạn: người đọc có thể phát biểu ý
kiến, bình phẩm thông tin và đưa lên mạng. Nhờ đó toà soạn có thể nắm bắt nhanh
tâm tư, chính kiến, nguyện vọng, thị hiếu của đọc giả để có những điều chỉnh cần
thiết. Báo mạng có sức chứa to lớn cả về không gian và thời gian, tức dung lượng
của thông tin gần như không hạn chế. Mỗi một tờ báo mạng là một cấu trúc rộng
về không gian với nhiều mảng khác nhau, mỗi mảng gần như một tờ báo riêng.
Chẳng hạn như về thời sự quốc tế, thời sự trong nước, giáo dục, khoa học, thể thao,
văn hoá, văn nghệ, âm nhạc, công nghệ thông tin, giải trí...
Ghi chép của phóng viên VietNamNet từ chuyến đi khảo sát báo chí Pháp:
Hiện nay ở một số quốc gia có nền báo chí phát triển như Pháp, Mỹ, phần lớn các
báo giấy đều có xu hướng lên mạng. Một số báo lớn, có uy tín ở Pháp như Le
Monde, Liberation, L’Express đều có bản điện tử, trong đó, L’Express và Le
Monde trên mạng đã hoạt động được 10 năm.
Lý giải nguyên nhân tại sao báo mạng lại thu hút được nhiều bạn đọc, bà
Dorothee Tromparent – Phóng viên, chuyên gia truyền thông đa phương tiện thuộc
trường Đại học báo chí Lille, Pháp cho biết: “có hai lý do chính. Thứ nhất, báo
giấy không còn sức lôi cuốn như trước kia nữa. Thứ hai, việc cập nhật thông tin
nhanh, hình ảnh minh hoạ đẹp cũng khiến độc giả bị báo mạng cuốn hút”. Theo bà
Tromparent, trong vòng 2-3 năm tới, báo điện tử sẽ phát triển mạnh ở nhiều quốc
gia, đặc biệt là Pháp, nơi 90% người dùng Internet thích xem báo mạng.
Ngoài ưu thế có gắn kèm các phương tiện nghe nhìn, báo mạng còn có khả
năng chứa thông tin tư liệu cực lớn. Báo điện tử lại có thể giúp giảm khoảng 75%
chi phí sản xuất và phát hành cho các tờ báo. Chi phí phát hành lên tới 55 tỉ USD
của ngành công nghiệp báo chí Mỹ đã giảm đi một cách đáng kể trong khoảng hai
thập kỷ trở lại đây khi mà báo in phải cạnh tranh mạnh mẽ với báo điện tử trên
Internet về phương diện độc giả và quảng cáo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status