BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
--------------
MAI ĐĂNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN
LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60.34.02.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN
THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH BẢO NGỌC
Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Tùng
Phản biện 2: TS. Trần Ngọc Sơn
Luận văn đã được bảo vệ trước hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh phát triển họp tại Đại học
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động
của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu:
- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về nhu cầu vốn lưu động và thiết
lập mô hình cho phép xác định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu
động của doanh nghiệp;
- Vận dụng mô hình đã xây dựng để nhận diện, đánh giá các nhân
tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp ngành dược
phẩm niêm yết tại Việt Nam;
2
- Dựa trên kết quả nghiên cứu, tiến hành đo lường, đánh giá mức độ
tác động của từng nhân tố đến nhu cầu vốn lưu động, từ đó rút ra một số
kết luận và hàm ý chính sách đối với các doanh nghiệp ngành dược phẩm
niêm yết tại Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu sẽ được tập trung trả lời là:
- Có thể sử dụng các mô hình nào để xác định các nhân tố tác động
đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp;
- Các nhân tố nào tác động đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh
nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam và tác động theo hướng
nào;
- Doanh nghiệp ngành dược phẩm và các chủ thể liên quan nên lưu
ý đến những vấn đề gì khi đưa ra các chính sách liên quan đến nhu cầu
vốn lưu động của doanh nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
trong công tác quản lý tài chính, tiết kiệm được chi phí đi vay cũng như
góp phần đảm bảo một cấu trúc tài chính lành mạnh.
Hơn nữa, việc áp dụng nghiên cứu này ở Việt Nam sẽ góp thêm một
bằng chứng để kiểm định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động.
7. Bố cục đề tài
Đề tài nghiên cứu được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
và các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn
lưu động của doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý chính sách
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ VỐN LƯU ĐỘNG
RÒNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Cách tiếp cận các khái niệm liên quan đến vốn lưu động
Một khó khăn khi thực hiện các đề tài về vốn lưu động là sự nhập
nhằng giữa các khái niệm và sự bất nhất trong việc sử dụng các khái niệm
này trong những văn bản khác nhau. Sự thiếu nhất quán gây không ít khó
khăn cho việc nghiên cứu về đề tài này. Do đó, cần có một sự tổng hợp
các cách tiếp cận khái niệm vốn lưu động cũng như xác định cách tiếp
cận sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này.
Theo Van Horne và Wachowicz (2008), khi nói đến các khái niệm
các tài sản dài hạn.
1.1.6. Chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp
Theo Arnold Glen, 2008, “Corporate financial management”, tái bản
lần thứ 4, chính sách vốn lưu động có thể được phân thành 3 loại: chính
sách vốn lưu động cẩn trọng (conservative), chính sách vốn lưu động
năng nổ (aggressive) và chính sách vốn lưu động trung dung (moderate).
1.2. NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Do những nhân tố tác động qua lại lẫn nhau như vậy, trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp phát sinh nhu cầu
về hàng tồn kho và các khoản phải thu nhưng đồng thời, một bộ phận của
các tài sản lưu động này cũng sẽ được tài trợ thông qua các khoản phải
tín dụng thương mại hoặc các khoản phải trả phi ngân hàng. Các khoản
tài trợ phát sinh tự động và liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp như vậy được gọi là các khoản tài trợ tức thì
(spontaneous fund)
Phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và phần được tài trợ bởi các
khoản tài trợ tức thì thể hiện nhu cầu tài trợ cho các tài sản ngắn hạn của
6
doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và được gọi
là nhu cầu vốn lưu động.
Nhu cầu vốn lưu động (Working Capital Requirement) được xác định
bằng chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn.
Nhu cầu vốn lưu động = Tổng tài sản lưu động – Nguồn vốn tức thì
(Working Capital Requirement = Current Asset – Spontaneous
Fund)
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là kết quả của việc sử dụng tập
hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh
nghiệp nắm giữ. Khả năng sinh lời thường được đo lường thông qua các
chỉ tiêu như tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn
chủ sở hữu (ROE) hay khả năng sinh lời trên doanh thu (ROS). Nghiên
cứu thực nghiệm của Molina và Preve (2008) cho thấy có một tương quan
dương giữa nhu cầu vốn lưu động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Sự ổn định của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp
Theo lý thuyết trật tự phân hạng, doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng
các nguồn vốn nội sinh trước, sau đó mới đến các nguồn vốn từ bên ngoài
theo thứ tự ưu tiên là sử dụng nợ rồi mới đến phát hành cổ phần hoặc
tăng vốn góp. Một dòng tiền kinh doanh ổn định sẽ khuyến khích các
doanh nghiệp thực hiện một chính sách vốn lưu động cẩn trọng, trong đó
sử dụng nhiều hơn phần vốn nội sinh và giảm vay nợ bên ngoài để tài trợ
cho nhu cầu vốn lưu động. Các nghiên cứu của Gill (2011), Hill & cộng
sự (2010) cũng như Nazir & Afzar (2009) đều kiểm định giả thuyết về
quan hệ giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến
nhu cầu vốn lưu động
Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp được xác định bằng phần trăm
thay đổi của loại nhuận trên vốn cổ phần (EPS) trên phần trăm thay đổi
của loại nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT). Đòn bẩy tài chính thể hiện
mức độ doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn bên ngoài đồng thời cũng
thường được sử dụng để đo lường rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường theo đuổi một chính sách
vốn lưu động năng nổ theo đó sử dụng nhiều khoản vay nợ ngắn hạn để
tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động. Trong các nghiên cứu thực nghiệm
Tỷ giá hối đoái có tác động tương tự như lạm phát ở điểm nó tác động
đến giá cả các yếu tố đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp liên quan đến
xuất nhập khẩu. Chiều hướng tác động của tỷ giá hối đoái đến nhu cầu
vốn lưu động cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
9
1.3. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu được thực hiện về đề
tài vốn lưu động như của Lamberson, M (1995); Moussawi, Laptane và
Kitschnick (2006); Appuhami, B (2008); Melmet, S. và Eda, O. (2009);
Owusu-Frimpong và Martins (2010); Babatunde và Laoye (2011), Nazir
& Afzar (2009), Hill & cộng sự (2010), Amarjit Gill (2011) và Farai &
Merle (2014)… Đề tài vốn lưu động không chỉ có ý nghĩa học thuật mà
còn là đề tài được các nhà quản lý quan tâm. Tuy nhiên, phần lớn các
nghiên cứu không chỉ ra các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động.
Chiou và các cộng sự (2006) thu thập dữ liệu tại sàn giao dịch chứng
khoán Đài Loan của 19.180 doanh nghiệp, trong thời kỳ 1996-2004.
Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng hệ số nợ và dòng tiền hoạt động có ảnh
hưởng đến nhu cầu vốn lưu động và các hệ số khác như chỉ số kinh doanh,
đặc điểm ngành, tăng trưởng doanh thu và quy mô doanh nghiệp không
có tác động đến nhu cầu vốn lưu động.
Nazir và Afza (2008) sử dụng dữ liệu của 204 doanh nghiệp sản xuất
thuộc 16 nhóm ngành trên sàn KSE để xác định các nhân tố tác động đến
nhu cầu vốn lưu động. Kết quả là tương quan giữa nhu cầu vốn lưu động
và vòng quay hoạt động, đòn bẩy tài chính, ROA và Tobin’s q có ý nghĩa
thống kê.
CPIt: tỉ lệ lạm phát tại Việt Nam năm t
11
2.2.2. Các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Biến phụ thuộc
Hawawini và các cộng sự (1986) đã đề nghị rằng một thước đo nhu
cầu vốn lưu động tốt phải bao gồm các thành phần có liên quan chặt chẽ
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Dựa vào lập luận trên, Hawawini và các cộng sự đã đề nghị một thước
đo nhu cầu vốn lưu động như sau:
Nhu cầu vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn (trừ tiền mặt) – Nợ
ngắn hạn (trừ nợ vay ngân hàng)
Theo Hill & cộng sự (2010), các doanh nghiệp có quy mô khác nhau
sẽ có nhu cầu vốn lưu động khác nhau tùy theo quy mô, do đó, để kiểm
soát tác động này nhu cầu vốn lưu động cần được chuẩn hóa (standardize)
bằng cách chia cho tổng tài sản của doanh nghiệp. Tiếp thu hai nghiên
cứu trên, trong nghiên cứu này, nhu cầu vốn lưu động được đo lường như
sau:
WCR = [Tài sản lưu động (trừ tiền mặt) – Nợ ngắn hạn (trừ nợ
vay ngân hàng] / Tổng tài sản
Biến độc lập
Biến
Mã
biến
Quy mô doanh nghiệp SIZ
Chu kỳ chuyển hóa CCC
tiền mặt
(-)
Dòng tiền hoạt động / Tổng tài sản
(-)
Tốc độ tăng trưởng GDP (theo giá hiện (+) / (-)
hành)
Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 3 tháng
(+) / (-)
Chỉ số CPI
(+) / (-)
12
2.2.3. Phương pháp ước lượng
a. Mô hình ảnh hưởng cố định (FEM)
b. Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM)
c. Kiểm định các giả thuyết của phương pháp ước lượng hồi quy
2.3. DỮ LIỆU SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
Một trong những yếu tố then chốt quyết định đến thành công của một
nghiên cứu thực nghiệm đó là việc lựa chọn và sử dụng dữ liệu để phân
tích. Tùy vào từng mục đích nghiên cứu mà dữ liệu được lựa chọn sao
cho phù hợp nhất. Trong nghiên cứu này, các số liệu được lựa chọn và
thu thập như sau:
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 14 doanh nghiệp
ngành dược phẩm được niêm yết tại hai sàn là HoSE và HNX từ năm
2009 đến năm 2014. Các chỉ số tài chính sẽ được lấy từ các báo cáo tài
chính của các doanh nghiệp này. Các báo cáo tài chính này đều đã được
kiểm toán bởi các doanh nghiệp kiểm toán lớn, điều này giúp bảo đảm
0,06
0,14
0,09
Min
-0,39
-1,44
23,88
-0,36
-0,37
-573
-0,46
0,05
0,1
0,04
Max
0,61
5,71
29,39
0,27
0,35
489
1,30
0,07
0,18
0,18
Độ lệch chuẩn
0,18
WCR
FL
SIZ
ROA
WCR
1
0.3***
-0.1
-0.17
FL
SIZ
ROA
1
-0.06
1
OCF
CCC
1
0.26**
0.48***
-0.15
-0.01
0.05
-0.13
0.01
0.07
OCF
CCC
SG
GDP IR
CPI
1
1
0.33***
0.04
-0.12
0.24**
-0.02
0.01
-0.14
-0.09
Tăng trưởng doanh thu
Tốc độ tăng trưởng GDP
Lãi suất cho vay ngắn hạn
Tỉ lệ lạm phát
R^2
R^2 hiệu chỉnh
Xác suất (thống kê F)
Số quan sát
Kiểm định Hausman
Prob>
chi2
Mô hình hồi quy
FEM
Beta
P-value
2.82
0.001
-0.001
0.897
-0.098
0.002
0.167
0.378
-0.357
0.000
0.001
0.000
P-value
0.01
0.98
0.037
0.254
0.00
0.000
0.794
0.712
0.195
0.014
0,5098
Kết quả hồi quy theo mô hình FEM cho thấy nhu cầu vốn lưu động
của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ các nhân tố: quy mô doanh nghiệp
(SIZ), dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF), chu kỳ chuyển hóa tiền
mặt (CCC) và lãi suất cho vay ngắn hạn (IR). Kết quả ước lượng theo
mô hình FEM được thể hiện theo công thức sau
WCRit = 2,82 - 0,098*SIZi,t + 0,001*CCCi,t – 0,357OCFi,t +
0,69*IRt (3.1)
Khả năng giải thích của mô hình FEM là 17,36%, tức là các biến độc
lập giải thích được 17,36% biến động của biến phụ thuộc. Đây là một
15
mức giải thích khá thấp, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có khả
năng giải thích khoảng 30% biến động của biến phụ thuộc.
Theo mô hình REM, nhu cầu vốn lưu động phụ thuộc vào các biến
c. Ước lượng mô hình nghiên cứu với phương sai Huber -White
Trong phần trước, khi khảo cứu về thống kê mô tả của các biến quan
sát trong mô hình, ta nhận thấy nhiều biến quan sát không đảm bảo tính
chất phân phối chuẩn. Việc không đảm bảo tính chất phân phối chuẩn
của mô hình hồi quy sẽ làm cho các ước lượng trở nên không hiệu quả.
Do đó, ta cần sử dụng một phương pháp ước lượng khác ít nhạy cảm hơn
với giả thiết phân phối chuẩn. Một phương pháp ước lượng phi tham số
có thể đáp ứng yêu cầu này.
Ưu điểm của ước lượng phi tham số là nó ít phụ thuộc vào các giả
thuyết của mô hình nghiên cứu, do đó phù hợp với các nghiên cứu có số
lượng mẫu nhỏ hoặc phân phối của các biến quan sát không tuân theo
phân phối chuẩn. Trong nghiên cứu này, ước lượng phi tham số được sử
dụng vì các lý do sau đây :
- Số lượng mẫu nhỏ: ở Việt Nam hiện nay có gần 90 doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực dược phẩm có quy mô từ lớn đến nhỏ.
Nghiên cứu này chỉ thực hiện trên các công ty niếm yết trên hai
sàn HNX và HoSE với tổng cộng là 14 công ty trong 6 năm quan
sát.
- Vi phạm giả thiết không có tự tương quan của phân tích hồi
quy: hiện tượng tự tương quan là hiện tượng phổ biến của các
nghiên cứu về lĩnh vực xã hội nói chung và lĩnh vực kinh tế nói
riêng do tính quán tính của các hiện tượng kinh tế. Kiểm định
Wooldridge cũng cũng cấp một chứng cứ khẳng định có hiện
tượng tự tương quan trong dữ liệu nghiên cứu.
Do các nguyên nhân trên, ta sẽ thực hiện ước lượng REM cho dữ liệu
nghiên cứu với option Robustness cho độ lệch chuẩn. Kết quả của ước
lượng được trình bày trong bảng dưới đây.
17
0.2685
1320,62
84
P-value
0.01
0.99
0.03
0.49
0.02
0.00
0.77
0.39
0.21
0.57
3.2.2. Phân tích kết quả ước lượng mô hình
Mô hình cho thấy quy mô doanh nghiệp và dòng tiền hoạt động có
tác động nghịch chiều lên nhu cầu vốn lưu động trong khi chu kỳ hoán
chuyển tiền mặt có tác động cùng chiều đến nhu cầu vốn lưu động của
doanh nghiệp. Mức độ tác động của các biến độc lập như sau:
- Mỗi % tăng lên trong quy mô doanh nghiệp sẽ làm giảm nhu cầu
vốn lưu động trên tổng tài sản trung bình bằng 4,7%.
- Mỗi ngày giảm được trong chu kỳ chuyển hoán tiền mặt sẽ giúp
nhu cầu vốn lưu động trên tổng tài sản giảm trung bình 0,1%.
- Mỗi % tăng lên của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên tổng
tài sản sẽ giúp nhu cầu vốn lưu động trên tổng tài sản giảm trung
bình 36,2%.
Quy mô doanh nghiệp
Quan hệ nghịch chiều giữa nhu cầu vốn lưu động và quy mô doanh
nghiệp quản trị vốn lưu động càng hiệu quả thì vốn lưu động luân chuyển
nhanh hơn do đó nhu cầu về vốn lưu động sẽ giảm nếu các yếu tố khác
không đổi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tập trung quản trị vốn lưu động là
một hướng đi đúng đắn. Doanh nghiệp quản trị vốn lưu động càng hiệu
quả thì nhu cầu tài trợ cho vốn lưu động càng ít. Trong tình hình khó tiếp
cận vốn vay ngân hàng và lãi suất các khoản vay nợ quá cao như hiện
nay thì đây là một hướng đi đúng đắn.
19
Tuy nhiên mức độ tác động khá nhỏ của chu kỳ chuyển hoán tiền mặt
đến nhu cầu vốn lưu động là một yếu tố cần phải cân nhắc khi ra quyết
định. Việc cắt giảm chu kỳ chuyển hoán tiền mặt luôn đi kèm với những
chi phí hữu hình và vô hình. Ví dụ như việc trì hoãn thanh toán hóa đơn
cho người bán sẽ làm mất khoản lợi nhuận thu được từ chiết khấu thanh
toán cũng như làm xấu đi mối quan hệ với nhà cung cấp. Do đó, nhà quản
lý cần phải cân nhắc lợi ích và chi phí của quyết định quản trị vốn lưu
động.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Theo kết quả phân tích hồi quy, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
có tác động nghịch chiều lên nhu cầu vốn lưu động, điều này đúng với
kỳ vọng dấu ban đầu. Kết luận này phù hợp với các nghiên cứu của Nazir
& Afzar (2009) và Amarjit Gill (2011).
Khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh suy giảm, doanh nghiệp thiếu
hụt nguồn vốn nội sinh để tài trợ cho các tài sản lưu động cần thiết cho
hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp. Trong khi dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh có thể tăng giảm với tốc độ nhanh chóng theo thời gian thì
nhu cầu về tài sản lưu động của doanh nghiệp không thể tăng giảm theo
nhu cầu vốn lưu động cũng như ở trong thế bị động trong việc lên kế
hoạch vay nợ. Việc này sẽ dẫn đến chi phí tài chính bị nâng cao và doanh
nghiệp không thể đạt đến cơ cấu tài chính lành mạnh như mong muốn.
Doanh nghiệp cần có những biện pháp để nâng cao và ổn định dòng
tiền từ hoạt động kinh doanh của mình. Nó sẽ giúp doanh nghiệp chủ
động trong việc tài trợ nhu cầu vốn lưu động cũng như tiết giảm các chi
phí tài chính. Đây là biện pháp đã và đang được thực hành bởi các doanh
nghiệp tại Việt Nam nói chung và doanh nghiệp ngành dược phẩm tại
Việt Nam nói riêng. Trong bối cảnh lãi suất vay ngắn hạn tại ngân hàng
tăng cao cũng như khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn khác,
nhiều doanh nghiệp đã tập trung vào công tác quản trị vốn lưu động nhằm
tối ưu hóa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp
này đã tận dụng được cơ hội trong khó khăn, một mặt giúp doanh nghiệp
giữ vững ưu thế cạnh tranh, mặt khác tạo nền tảng cho việc nâng cao khả
năng quản trị doanh nghiệp trong tương lai.
21
Yếu tố nội sinh thứ hai tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp là quy mô doanh nghiệp. Theo Fazzari & Petersen (1993), trong
điều kiện khó khăn khi tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài, doanh
nghiệp có xu hướng giảm nhu cầu vốn lưu động để tập trung đầu tư tài
sản cố định. Điều này đồng nghĩa với việc tối ưu hóa quản trị vốn lưu
động sẽ giúp giải phóng tiền mặt bị giam trong tài sản lưu động và tạo ra
một dòng tiền nội sinh mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư. Do đó,
tăng cường công tác quản trị vốn lưu động là việc làm có ý nghĩa thiết
thực trong tình hình hiện nay.
Yếu tố thứ ba tác động đến nhu cầu vốn lưu động là chu kỳ hoán
chuyển tiền mặt, kết quả này cũng trùng khớp với lý thuyết. Chu kỳ hoán
quản lý Nhà nước khuyến khích đầu tư vào các ngành, lĩnh vực mà Việt
Nam có thế mạnh. Cụ thể, Nhà nước có thể gia tăng ưu đãi lãi suất cho
vay đối với các ngành, lĩnh vực được khuyến khích ví dụ như các ngành
nông lâm sản, các đơn hàng xuất khẩu và hạn chế ưu đãi lãi suất đối với
những ngành không còn là thế mạnh nữa.
Việc doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng còn đến từ các
khoản nợ xấu tồn đọng trong quá khứ. Việc giải quyết các khoản nợ xấu
này vẫn còn chậm chạp. Nhà nước có thể và nên khuyến khích khối tư
nhân cả trong và ngoài nước tham gia giải quyết nợ xấu. Nhiều doanh
nghiệp nước ngoài đã ngỏ lời sẵn sàng mua hàng tỷ đồng nợ xấu nếu cơ
quan quản lý Nhà nước cho phép. Cơ quan quản lý Nhà nước cũng có
thể học hỏi các kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước khác như Ireland,
Hàn quốc…
Với các biện pháp quyết liệt như vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn
giá rẻ để bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp sẽ được nâng lên
đáng kể. Đây sẽ là một cú hích giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn
trong hiện tại và tiếp tục tăng trưởng, đóng góp cho tổng sản phẩm quốc
nội của Việt Nam trong tương lai.
3.4. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP
THEO
3.4.1. Hạn chế của đề tài
Hạn chế thứ hai của nghiên cứu là vấn đề mô hình. Mô hình nghiên
cứu có hai khuyết điểm lớn như sau:
23
(i) Mô hình tuyến tính: R bình phương thấp của cả hai phương pháp
ước lượng có thể là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ giữa biến độc lập và
biến phụ thuộc là mối quan hệ phi tuyến thay vì là quan hệ tuyến tính.