Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Học Viện Ngân Hàng
Chủ đề thảo luận:
Tính Độc Lập Của NHTW & Sự
Tác Động Đến Chính Sách Tiền
Tệ Việt Nam
Thực hiện: nhóm 1 chiều t4.
Ca4 . h207
GV hướng dẫn: PGS-TS Lê
Thị Tuấn Nghĩa
Cô:
Thầy:
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
1
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Mục lục
Mục lục.......................................................................................................................................2
a.Về địa vị pháp lý....................................................................................................................33
b.Về mục tiêu............................................................................................................................33
c.Về quyết định thực thi chính sách..........................................................................................34
d.Về quan hệ với ngân sách......................................................................................................34
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
2
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
e.Về bộ máy tổ chức và công tác nhân sự.................................................................................34
f.Về trách nhiệm giải trình........................................................................................................35
Chương IV.................................................................................................................................44
Kết Luận....................................................................................................................................44
Đặt Vấn Đề
Việt Nam Đối Mặt Với Lạm Phát Và Bất ổn Vĩ Mô
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
3
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
ngân hàng bị rơi vào trạng thái thiếu thanh khoản nghiêm trọng và
nhiều cuộc chạy đua lãi suất đã diễn ra gây biến dạng thị trường tiền
tệ và đe doạ tính bền vững của hệ thống tài chính.
Từ thực trạng đó, nhiều nhà kinh tế đã đặt câu hỏi vì sao chính
sách tiền tệ do NHNN thực thi tỏ ra quá bị động và rất kém hiệu lực,
hiệu quả kỳ vọng như vậy?
Liệu rằng một NHTW độc lập có giúp Việt Nam kiểm soát tốt
hơn lạm phát, đảm bảo ổn định hệ thống tài chính và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bền vững hơn hay không?
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
5
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Chương I
Cơ Sở Lý Luận Về NHTW Và Tính Độc Lập
I.
NHTW và các mô hình NHTW
1. NHTW là gì?
Ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có thể độc
lập hoặc trực thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát
hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ
- D tr bt buc
Pháp luật, biện pháp hành chính:
- Ngân sách
- Khu vực kinh tế công cộng
- Trợ cấp, bo hiểm
Mc tiờu:
Duy trỡ mc giỏ c n nh
Tng trng kinh t
To cụng nChính
vic lm phủ
Hội đồng Chính sách tiền tệ
b. NHTW
trc thuc
Chủ tịch
Hội chớnh
đồngph
chính
Các thành viên
sách tiền tệ
Thống đốc Ngân hàng Trung ương
GV: PGS TS Lờ Th Tun Ngha
8
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
1. Các cấp độ độc lập của NHTW
Có 4 cấp độ:
a. Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động:
Với mô hình này, NHTW có trách nhiệm quyết định chính sách tiền
tệ (CSTT), chế độ tỷ giá (nếu không theo chế độ thả nổi tỷ giá) và có
quyền quyết định mục tiêu hoạt động chủ yếu trong số các mục tiêu đã
được pháp luật quy định.
Đây là cấp độ độc lập tự chủ cao nhất mà một NHTW có thể đạt được
mà ví dụ điển hình là Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Tuy nhiên,
đây cũng chính là cấp độ độc lập tự chủ khó vận dụng nhất, vì nó đòi hỏi
NHTW phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt thì mới có thể biến
mục tiêu hành hiện thực, nhất là trong giai đoạn thực thi chính sách tiền tệ
(CSTT) thắt chặt. Bên cạnh đó, cấp độ độc lập tự chủ này cũng đòi hỏi
NHTW có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các thống kê kinh tế- tài
chính, vì chỉ có như vậy thì NHTW mới có thể thực hiện được mục tiêu
đề ra.
Ngoài các lý do về trình độ phát kinh tế, tính đặc thù về thể chế chính trị
và hệ thống pháp luật, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và
hệ thống tài chính nói riêng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ,
việc dự báo dựa trên các biến số kinh tế- tài chính là rất khó khăn. Bên
cạnh đó, năng lực thống kê và dự báo của chúng ta hiện vẫn còn rất hạn
Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành
Với mô hình này, Chính phủ hoặc Quốc hội quyết định chỉ tiêu CSTT
sau khi thảo luận, thỏa thuận với NHTW. Khi quyết định được thông qua,
NHTW có trách nhiệm hoàn thành chỉ tiêu trên cơ sở được trao đủ thẩm
quyền cần thiết để có thể toàn quyền lựa chọn những công cụ điều hành
CSTT phù hợp nhất.
Tiêu biểu cho cấp độ độc lập tự chủ này là Ngân hàng Dự trữ New
Zealand (The Reserve Bank of New Zealand) và Ngân hàng Canada (The
Bank of Canada). Nói cách khác, NHTW được trao đủ thẩm quyền để lựa
chọn các công cụ điều hành một cách linh hoạt và phù hợp nhất nhằm đạt
được các chỉ tiêu đã được thoả thuận giữa Chính phủ/Quốc hội với NHTW.
d.
Độc lập tự chủ hạn chế
Là cấp độ độc lập tự chủ thấp nhất, theo đó Chính phủ là nơi quyết
định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp
vào quá trình triển khai thực thi CSTT.
Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của
NHTW, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. Đây
chính là trường hợp của NHNN Việt Nam hiện nay và trên thực tế thì mức
độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập.
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
10
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Webb và Neyapti (1992). Bên cạnh đó, nghiên cứu của Debelle và Fischer
(1994) về mối quan hệ giữa tính độc lập về mục tiêu và công cụ cũng cho
thấy có mối quan hệ nghịch biến với lạm phát bình quân mặc dù mối quan
hệ đó hơi yếu. Điều đó cho thấy cách thức độc lập của NHTW cũng có
ảnh hưởng theo những mức độ khác nhau đến lạm phát.
b. Quan hệ với thâm hụt ngân sách
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
12
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Hình 3. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với thâm hụt ngân
sách
Nguồn:
Pollard,
1993
Hình 4. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với biến thiên của
thâm hụt ngân sách
Nguồn:
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Hình 6. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với biến thiên tăng
trưởng GNP thực
Nguồn: Alesina và Summers,
1993
Hình 7. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với tăng trưởng GNP
bình quân đầu người
Nguồn: Alesina và Summers,
1993
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
15
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Nghiên cứu của Barro (1991), De Long và Summers (1992), Levine
và Renelt (1992) không thấy mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê giữa
tính độc lập của NHTW với tăng trưởng sản lượng thực sau khi kiểm soát
các yếu tố khác tác động đến tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, Thuỵ Sĩ là
nước có NHTW độc lập nhất nhưng lại có mức độ tăng trưởng thực và sự
biến thiên tăng trưởng kinh tế thực thấp hơn mức bình quân của các nước
trong mẫu. Trong khi đó, Tây Ban Nha là nước có NHTW độc lập không
cao nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt nhất. NHTW New Zealand
17
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Nguồn: Alesina và Summers,
1993
Hình 11. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với biến thiên lãi
suất thực
Nguồn: Alesina và Summers,
1993
Các nghiên cứu của Summers và Wadwhani (1989), Barro và Salai-Martin (1990) không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê nào giữa
chỉ số độc lập của NHTW với tình trạng thất nghiệp và lãi suất thực của
nền kinh tế.
Thập niên 90s đã chứng kiến nhiều nước, trong đó có cả những
nước đã và đang phát triển, thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình
sang hướng làm tăng tính độc lập cho NHTW
III.
Tính độc lập của NHTW ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ
1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ: là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của
chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
số nhân tiền và được tính toán theo công thức sau:
m = (1+R)/(R+r)
trong đó: R là tỷ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi (C/D) của
các ngân hàng
r là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
19
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
c. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động NHTƯ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị
trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến
khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến
khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến
làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
Tác động của thị trường mở: Trong bảng tổng kết tài sản của
ngân hàng trung ương, tài sản có chủ yếu là giấy tờ có giá của chính phủ,
tài sản nợ chủ yếu là tiền giấy và tiền gửi dự trữ của các NHTM. Khi
NHTƯ bán ra nhữg giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường như trái
phiếu chính phủ, NHTƯ sẽ "thu tiền" về theo cơ chế sau: tài khoan vãng
lai của người mua trái phiếu chính phủ bị NHTM ghi nợ và NHTƯ sẽ ghi
giảm tài khoản tiền gửi dự trữ của các NHTM tại đó. Vì tỷ lệ tiền mặt dự
trữ của NHTM bằng tiền gửi dự trữ tại NHTƯ cộng với tiền mặt tại két dự
trữ của họ nên khi tài khoản tiền gửi dự trữ của các NHTM tại NHTƯ
giảm xuống, cơ sở tiền tệ đã giảm đi làm giảm cung tiền một lượng bằng
từng thời kỳ nhất định.
Công cụ lãi suất là một công cụ hết sức phức tạp nó có độ nhảy cảm
rất cao. Vì thế nó tác động đến việc tăng hay giảm khối lượng tiền trong
lưu hay việc thu hẹp hay mở rộng tín dụng hay thuân lợi hay khó khăn
đối với các ngân hàng.
e. Công cụ hạn mức tín dụng
Là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng
Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức
tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung
ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng
cho nền kinh tế.
Công cụ này thương được sử dụng với tình huóng xảy ra lạm phát
cao nhằm khống chế trực tiếp tới lưọng tín dụng cung ứng trên thị
trường. Công cụ hạn mức này sẽ là cứu cánh đối với NHNN nếu như
sử dụng các công cụ trực tiếp không có tác dụng. Tuy nhiên mức độ
của công cụ này cũng khó vì đây là công cụ không có tính linh hoạt
cao nhiều khi nó còn gây tác động ngược lại
f. Tỷ giá hối đoái
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
21
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại
tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ
cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
3. Tính độc lập của NHTW ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách tiền
tệ.
Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử
dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong
lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh teesvaf đảm bảo công ăn việc làm. Chính sách tiền tệ có
thể được quyết định bởi Chính Phủ nếu NHTW độc lập CP, hoặc có thể
được thực hiện bởi chính NHTW nếu nó độc lập với CP. Trong bất kì
trường hợp nào thì NHTW cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc
quyết định các vấn đề lien quan đến chính sách tiền tệ, vì mọi hoạt động
NHTW và hệ thống NH đều ảnh hưởng đến khối lượng tiền trong lưu
thong và vì thế nó có thể sử dụng các công cụ có hiệu quả nhất để tác
động vào khối lượng tiền đó.
Trong trường hợp NHTW độc lập với chính phủ, các nhà làm chính
sách có thể mâu thuẫn trong việc lựa chọn mục tiêu, đặc biệt là chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ thường theo đuổi mục
tiêu ổn định giá cả trong khi chính sách tài khóa theo đuổi mục tiêu tăng
trưởng kinh tế.
Chương II
Ngân Hàng NEW ZELAND
Ví Dụ Kinh Điển Về Chuyển Đổi Mô Hình Sang Hướng
Làm Tăng Tính Độc Lập Cho NHTW
Ví dụ kinh điển: NEW ZELAND
GV: PGS TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
Thảo luận tiền tệ ngân hàng
Nhóm 1 chiều t4 ca4 h207
Thứ hai, đã thiết lập được một chính sách lạm phát mục tiêu rõ ràng
mà sau này nhiều quốc gia đã lần lượt áp dụng. Xét về sự độc lập tối thiểu
của một NHTW, Ngân hàng Dự trữ New Zealand lúc bấy giờ đứng vào tốp
đầu tiên.
Các chuyên gia của Tạp chí Economic commentary đã cho rằng chính sự độc
lập cao hơn của Ngân hàng Dự trữ New Zealand là chìa khóa cho thành công
trong quản lý lạm phát ở New Zealand.
Thành công của Ngân hàng Dự trữ New Zealand
Trước năm 1989, Ngân hàng Dự trữ New Zealand là một “đại lý” của
Chính phủ và được trao rất ít sự độc lập. NHTW này chỉ hoạt động với tư
cách là cố vấn cho Chính phủ New Zealand, vì vậy CSTT của nó như là một
công cụ hoạt động theo ý muốn của Bộ Tài chính.
Biểu đồ 2 minh họa điều này. Lịch sử cho thấy, New Zealand đã được xếp
vào loại những quốc gia có Điểm số độc lập của NHTW thấp nhất và tỷ lệ
lạm phát của nó đứng vào loại cao nhất trong thế giới các nước Công nghiệp.
Suốt thập niên 70, mức độ lạm phát của New Zealand luôn ở ngưỡng 2 con
số, đôi lúc lên đến 18%. Đáp lại điều đó, để ổn định giá cả, từ những năm
1989, Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có một sự chuyển mình mạnh mẽ
trong điều hành. Điều này thể hiện qua việc Quốc hội New Zealand đã nhanh
chóng sửa đổi các đạo luật có liên quan, xây dựng và hoàn thiện các đạo luật
mới trong đó khẳng định tiên quyết rằng “Chức năng chủ yếu của Ngân
hàng Dự trữ New Zealand là trực tiếp xây dựng và hoàn thiện Chính sách
tiền tệ hướng vào việc đạt được các mục tiêu kinh tế và duy trì sự ổn định
giá cả...” [ />Bên cạnh đó, có thể kể ra một số những thay đổi căn bản trong
hoạt động điều hành CSTT của Ngân hàng Dự trữ New Zealand:
Để ổn định giá cả, Quốc hội New Zealand đã đưa Chính sách lạm phát