Bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên nước - Pdf 31

Kinh tế môi trường GVHD: ThS. Bùi Đức Kính
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT TP HCM
KHOA: CÔNG NGHỆ HOÁ VÀ THỰC PHẨM
NGÀNH: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO :
BẢO VỆ, SỬ DỤNG HỢP LÍ
TÀI NGUYÊN NƯỚC
GVHD: ThS. Bùi Đức Kính
Nhóm 02: Nguyễn Thị Lệ Hằng
Mai Bích Hiền
Tôn Thất Hưng
Nguyễn Thị Kim Khanh
Nguyễn Quang Luỹ
TP HCM, 15 / 11 / 2008
Nhóm 02 Trang 1
Kinh tế môi trường GVHD: ThS. Bùi Đức Kính
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 2
2. Một số công cụ dùng phân tích kinh tế tài nguyên nước ..................................... 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 15
MỞ ĐẦU
Nước là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi
trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật và nhân loại
trên trái đất. Nước quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước; mặt khác nước
cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường. Tài nguyên nước là nguồn tài
nguyên vừa hữu hạn, vừa vô hạn.
Ngày nay, cùng với tốc độ phát triển kinh tế xã hội và gia tăng dân số một cách mạnh
mẽ, tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ suy thoái cạn kiệt. Sự suy thoái tài nguyên
nước cùng với sự gia tăng ô nhiễm nước khiến cho nguồn nước sạch đang ngày một giảm sút
rất nhanh chóng tại nhiều nơi. Nước là một tài nguyên có thể tái tạo nhưng dễ bị tổn thương

3
), phần còn lại chứa trong khí quyển và thạch quyển. 97%
lượng nước của Trái Đất là nước mặn, 3% là nước ngọt, trong đó có khoảng hơn 3/4 lượng
nước con người không thể sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở
dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trong lục địa.Chỉ có khoảng 0,5% nước ngọt hiện
diện trong sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử dụng. Lượng nước trong khí quyển
chiếm khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước
trên Trái Đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng thường có nguồn gốc ban đầu là nước
mưa với tổng khối lượng mưa trên toàn bộ diện tích Trái Đất là 105.000km
3
/năm. Lượng
nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000km
3
, trong đó 8% cho các hoạt động
sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp.
- Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú. Việt Nam là nước có
lượng mưa trung bình vào loại cao, khoảng 2000m
3
/năm, gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình
của vùng lục địa trên thế giới. Tổng lượng mưa trên toàn bộ lãnh thổ là 650km
3
/năm, tạo ra
dòng chảy mặt trong vùng nội địa là 324km
3
/năm. Ngoài dòng chảy phát sinh trong vùng nội
địa hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận nguồn nước ngoại lai từ Trung Quốc, Lào và
Campuchia là 132,8 tỷ m
3
/năm. So với nhiều nước, Việt Nam có nguồn nước khá dồi dào.
Lượng nước bình quân đầu người đạt tới 17.000m

sạch (trên tổng số người dân 60,44 triệu). Có 7.257 công trình cấp nước tập trung cấp nước
sinh hoạt cho 6,13 triệu người và trên 2,6 triệu công trình cấp nước nhỏ lẻ khác. Tỉ lệ dân số
nông thôn được cấp nước sinh hoạt lớn nhất ở vùng Nam Bộ chiếm 66,7%; đồng bằng sông
Hồng 65,1%; đồng bằng sông Cửu Long 62,1%.
Hiện nay, nông nghiệp vẫn là ngành dùng nước nhiều nhất, chiếm 75-80% tổng lượng
nước sử dụng hàng năm, kế theo là nước dùng cho công nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt. Lượng
nước dùng cho sinh hoạt tuy có nhu cầu về tổng lượng ít nhưng chất lượng cao. Ngoài những
ngành trên, còn có một số ngành sử dụng không tiêu hao hay tiêu hao không đáng kể như
thuỷ sản, thuỷ điện, giao thông thuỷ. Theo tính toán, tổng nhu cầu sử dụng nước của nước ta
vào năm 2010 là 122 tỷ m
3
, trong đó có ngành nông nghiệp dùng 92 tỷ m
3
, công nghiệp dùng
17 tỷ m
3
, dịch vụ dùng 11 tỷ m
3
. Đến năm 2040, tổng lượng nước cần dùng tăng lên 260 tỷ
m
3
. Tỷ trọng của các ngành cũng có những thay đổi đáng kể: nông nghiệp và dịch vụ dùng
134 tỷ m
3
, công ngiệp 40 tỷ m
3
.
Đối với nước dưới đất, hình thức sử dụng phổ biến hiện nay là cấp nước sinh hoạt và
tưới tiêu. Khoảng 40% lượng nước cấp cho thành phố, thị xã ở nước ta là nước dưới đất.
Theo thống kê đến năm 2005 cho thấy, nhiều tỉnh thành trong cả nước đang khai thác nước

2. Nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên nước:
Sự gia tăng dân số:
Sự gia tăng dân số và các hoạt động của con người sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ
đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng. Sự gia tăng dân số sẽ kéo
theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất.
Đồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói
riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ. Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người
như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi
vào các thuỷ vực... đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị
cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt. Nguy cơ thiếu nước sạch càng trầm
trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít.
Kết cấu hạ tầng khai thác, sử dụng nước xuống cấp và tình trạng sử dụng nước
lãng phí, thiếu hiệu quả:
Kết cấu hạ tầng đã và đang bị xuống cấp nghiêm trọng cùng với những yếu kém trong
quản lý dẫn đến tình trạng khai thác, sử dụng nước không hiệu quả, lãng phí. Ở nhiều hệ
thống cấp nước đô thị, lượng nước thất thoát lên đến 40-50%, khả năng cấp nước theo thiết
kế của các hệ thống thuỷ lợi đang suy giảm. Nhiều công trình trên sông (hồ chứa và đập tràn),
do khi thiết kế hệ thống không chú ý đầy đủ đến nhu cầu bảo đảm dòng chảy cho hạ lưu đã
Nhóm 02 Trang 6
Mực nước ngầm hạ thấp nhanh, có nguy cơ cạn kiệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status