TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
BỘ MÔN KỸ THUẬT NUÔI THỦY SẢN NƢỚC NGỌT
NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN VIÊN ĐỂ
ƢƠNG CÁ CÓC (Cyclocheilichthys enoplos)
GIAI ĐOẠN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI VÀ BẢO TỒN SINH VẬT BIỂN
2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
BỘ MÔN KỸ THUẬT NUÔI THỦY SẢN NƢỚC NGỌT
NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN VIÊN ĐỂ
ƢƠNG CÁ CÓC (Cyclocheilichthys enoplos)
GIAI ĐOẠN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI VÀ BẢO TỒN SINH VẬT BIỂN
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
Ts. NGUYỄN VĂN TRIỀU
của cá. Qua thí nghiệm, theo chế độ cho ăn của nghiệm thức 2 là 75% trứng
nước và 25% thức ăn viên thì cá tăng trưởng và đạt tỷ lệ sống cao và phù hợp
nhất.
Từ khóa: Cá cóc, thức ăn viên, tỷ lệ sống.
1. GIỚI THIỆU
Thủy sản đang trở thành một ngành quan trọng trong nền kinh tế của đất nước,
giúp đem lại nguồn thu nhập lớn cho quốc gia. Trong thủy sản, cá được xem là
một đối tượng được quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là cá nước ngọt. Hiện nay
nghề nuôi cá nước ngọt ngày càng phát triển, nên nhu cầu về cá giống ngày
1
càng đa dạng (Phạm Văn Khánh, 2006). Cá cóc (Cyclocheilichthys enoplos)
cũng là một trong những loài cá đang được ương nuôi do cá có giá trị cao trên
thị trường, thịt cá thơm ngon được nhiều người ưa chuộng. Cá cóc có thân dài
nhỏ, hơi dẹp bên, mõm hơi tù (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương,
1993) cùng họ với cá chép. Vì cá cóc trong tự nhiên bị đánh bắt ngày càng
nhiều, nên số lượng cá cũng giảm mạnh. Do đó, việc nghiên cứu sinh sản nhân
tạo để sản xuất giống cá cóc nhằm bổ sung giống loài mới vào cơ cấu đàn cá
nuôi là việc làm cần thiết, đồng thời còn góp phần gìn giữ nguồn gen loài cá
đang ngày càng trở nên hiếm hoi. Hiện nay, cá cóc đã được nuôi đơn hoặc
nuôi ghép trong ao và bè với các loài cá khác như cá tra, cá he, rô phi….
Trong quá trình ương nuôi cá cóc có nhiều yếu tố ảnh hưởng cần được quan
tâm. Việc chọn loại thức ăn phù hợp trong quá trình ương nuôi cá cũng là một
yếu tố quyết định sự thành công của nghiên cứu. Để hiểu rõ hơn về điều này,
đề tài “Đánh giá khả năng sử dụng thức ăn viên để ương nuôi cá cóc
(Cyclocheilichthys enoplos) giai đoạn giống” được thực hiện nhằm xem xét
sự ảnh hưởng của từng loại thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá cóc và
góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống tốt và dễ dàng hơn.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiệm thức 3
50% trứng nước và 50% thức ăn
viên (chứa 40% đạm).
2 lần ăn trứng nước và 2 lần ăn
thức ăn viên.
Nghiệm thức 4
25% trứng nước và 75% thức ăn
1 lần ăn trứng nước và 3 lần ăn
2
Nghiệm thức 5
viên (chứa 40% đạm).
thức ăn viên.
100% thức ăn viên (chứa 40%
đạm).
4 lần đều cho ăn thức ăn viên.
Ở tất cả các nghiệm thức cá được cho ăn thức ăn viên trước khi sử dụng trứng
Số liệu được thu nhập, sử dụng phần mềm Excel để tính trung bình, độ lệch
chuẩn và vẽ đồ thị, phần mềm SPSS được sử dụng để so sánh giá trị trung bình
của các nghiệm thức ở mức p
28,8 ± 0,1 a
28,7 ± 0,2 a
28,7 ± 0,2 a
Sáng
7,9 ± 0,1 a
7,9 ± 0,1 a
7,9 ± 0,1 a
7,9 ± 0,1 a
7,9 ± 0,1 a
Chiều
8,1 ± 0,1 a
8,0 ± 0,1 a
8,0 ± 0,1 a
8,1 ± 0,1 a
8,1 ± 0,1 a
3.2.1. Chiều dài
Qua kết quả bảng 3.2 cho thấy, chiều dài của cá được thả nuôi sau 15 ngày
tăng trưởng nhanh so với ban đầu (1,7 cm/con), tốc độ tăng trưởng khoảng
0,09 – 0,11 cm/ngày. Tăng trưởng cao nhất ở nghiệm thức 1 (3,37 cm, 0,11
cm/ngày, 4,42 %/ngày) và thấp nhất ở nghiệm thức 5 (2,98 cm; 0,09 cm/ngày;
3,85 %/ngày). Nghiệm thức 2, 3 và 4 tăng trưởng tương đối đồng đều, nghiệm
thức 3 và 4 khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) nhưng có ý nghĩa so với
nghiệm thức 2 (p
DLG (cm/ngày)
Ltb
NT4
3,37 ± 0,26
0,11
Ltb
NT3
1,7 ± 0,08
15 ngày
DLG (cm/ngày)
Ltb
NT2
Ban đầu
1,7 ± 0,08
2,98 ± 0,39
30 ngày
d
3,22 ± 0,20
3,88 ± 0,27 b
0,05
1,99
a
4,00 ± 0,34 c
0,05
1,89
b
4,01 ± 0,18 c
0,05
2,11
b
4,55 ± 0,32 d
1,33
a
3,45 ± 0,27 a
DLG (cm/ngày)
0,09
nghiệm thức 1, 2 và 3 cá phản ứng nhanh nhạy với thức ăn và khối lượng lớn
hơn so với nghiệm thức 4 và 5. Kết quả thí nghiệm phù hợp với đặc điểm của
cá cóc đã được nghiên cứu, cá cóc là loài ăn tạp thiên về động vật (Rainboth,
1996).
Thức ăn tự nhiên là moina kích thước nhỏ (300 – 400 µm), hàm lượng protein
chiếm 50% khối lượng khô, chất béo chiếm 20 – 27%, di chuyển chậm chạp,
lơ lửng có thể là đối tượng thích hợp cho ấu trùng mới nở
(http://edis.ifas.ulf.edu/FAO24, 3/2010). Vì cá cóc là loài ăn tạp thiên về động
vật (Rainboth, 1996) nên ở 3 nghiệm thức đầu khi sử dụng moina hơn 50%
trong khẩu phần ăn giúp cá bắt mồi khỏe và nhanh hơn. Nghiệm thức 4 và 5 sử
dụng thức ăn viên hơn 75% cá tăng trưởng chậm hơn. Nguyên nhân có thể do
tập tính hoặc do thay thế sớm thức ăn tự nhiên bằng thức ăn nhân tạo giai đoạn
giống dẫn đến ức chế quá trình sinh trưởng của cá (Trần Thị Thanh Hiền và
Nguyễn Anh Tuấn, 2009). Ngoài ra, yếu tố cơ thể cũng ảnh hưởng đến tăng
trưởng của cá, những cá thể có kích thước lớn hơn thì khả năng bắt mồi tốt
hơn do kích cỡ miệng có thể lớn hơn. Theo Nguyễn Văn Triều và ctv (2008),
cho rằng kích cỡ miệng rất quan trọng quyết định sự bắt mồi, tăng trưởng và tỷ
lệ sống của cá.
Bảng 3.3: Kết quả tăng trưởng khối lượng
Nghiệm thức
NT1
Chỉ tiêu
Ban đầu
15 ngày
30 ngày
0,04 ± 0,01
0,28 ± 0,06
9,3
c
0,44 ± 0,05
6,7
c
0,56 ± 0,06 c
DWG (g/ngày)
0,02
0,01
0,01
SGR (%/ngày)
13,0
8,0
5,8
0,38 ± 0,05
5,8
b
0,49 ± 0,05 b
DWG (g/ngày)
0,01
0,01
0,01
SGR (%/ngày)
12,5
7,6
5,6
0,19 ± 0,03 a
0,28 ± 0,06 a
0,37 ± 0,06 a
Kết quả bảng 3.4 cho thấy, tỷ lệ sống của cá ở giai đoạn 15 ngày không chênh
lệch nhau nhiều giữa nghiệm thức 1, 2, 3 và 4 khác biệt không có ý nghĩa
(p>0,05), nhưng 4 nghiệm thức trên khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức 5
(p
85,00 ± 0,09 b
80,00 ± 0,15 a
45 ngày
34,40 ± 0,06 a
94,44 ± 0,03 c
85,00 ± 0,06 c
67,22 ± 0,12 b
63,89 ± 0,03 b
Những giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì không khác biệt thống kê (p>0,05).
7
4. KẾT LUẬN
4.1. Kết luận
Các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp để nuôi cá.
Cá tăng trưởng và phát triển tốt và tỷ lệ sống cao ở nghiệm thức 2 khi sử dụng
75% moina và 25% thức ăn viên.
Cá có thể sử dụng thức ăn viên giai đoạn giống với tỉ lệ thích hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Boyd, E.Claude (1998). Water quality for pond aquaculture International