Báo cáo thực tập tổng hợp
MỤC LỤC
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
Báo cáo thực tập tổng hợp
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên sau khi
tốt nghiệp kết thúc phần học lý thuyết tại trường. Thực tập tốt nghiệp giúp
sinh viên vận dụng kiến thức lý luận đã học được ở trường vào thực tế nhằm
phân tích, lý giải và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, qua đó củng cố
và nâng cao kiến thức đã được trang bị, làm quen với công tác quản lý kinh
tế.
Đợt thực tập này được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn
thực tập tổng hợp và giai đoạn 2 là giai đoạn thực tập chuyên đề. Đối với mỗi
giai đoạn thực tập thì yêu cầu là khác nhau: Giai đoạn thực tập tổng hợp đòi
hỏi mỗi sinh viên phải có cái nhìn tổng quan và những nhận xét, đánh giá của
riêng mình về tình hình thực tế của cơ quan nơi mà sinh viên thực tập. Ngoài
ra còn cần phải có kết quả hoạt động và phương hướng hoạt động của cơ sở
thực tập trong thời gian tới.
Với những yêu cầu trên, trong năm tuần thực tập tại công ty cổ phần
xuất nhập khẩu Hàng không Airimex, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS
Bùi Đức Tuân và tập thể các cô chú, anh chị trong công ty đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành bản báo cáo tổng hợp này. Bản báo cáo gồm có các nội dung
sau:
I. Giới thiệu chung về công ty công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng
không
II. Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất nhâp khẩu của công ty
III. Phân tích hoạt động Marketing của công ty
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Bùi Đức Tuân đã tận tình
hướng dẫn em hoàn thành tốt giai đoạn đầu của kỳ thực tập này.
Em xin chân thành cảm ơn cô chú trong công ty đã tận tình giúp đỡ và
tạo điều kiện tốt nhất cho em hòan thành giai đoạn đầu cuả kỳ thực tập này.
Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không được xác định là
đơn vị thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Hàng không Việt Nam
theo Nghị định số 04/CP của Chính phủ ban hành. Nhiệm vụ chính của công
ty là kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, các máy móc thiết bị phụ tùng cho
ngành Hàng Không và các loại vật tư, máy móc thiết bị dân dụng khác… Vốn
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
Phòng
Hành
chính
kế
hoạch
2
Báo cáo thực tập tổng hợp
điều lệ của công ty là 25 tỉ đồng, tổng số cán bộ công nhân viên là 140 người,
thu nhập bình quân 4 triệu VND/ người/ tháng, mức chi trả cổ bình quân là
7,2 %/năm.
2. Cơ cấu tổ chức
2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí của công ty
Nguồn: Phòng Hành chính công ty Airimex
2.2 Các phòng ban và chức năng nhiệm vụ
2.2.1 Phòng kinh doanh
Được thành lập từ năm 1995 để kinh doanh xuất nhập khẩu các loại
hàng hoá ngoài ngành, làm đại diện bán vé máy bay cho hãng Hàng không
Việt Nam.
2.2.2 Phòng tài chính kế toán
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
Phòng
Kinh
doanh
trong kì.
2.2.3 Phòng hành chính và kế hoạch
Nhiệm vụ của phòng hành chính kế hoạch là căn cứ vào tình trạng của
công ty qua các năm, các thời kì để phân tích , đánh giá và nắm bắt nhu cầu
của khách hàng, lên kế hoạch hoạt động kinh doanh của công ty trong thời
gian tiếp theo. Ngoài ra, phòng còn có những nhiệm vụ sau:
- Quản lí hành chính chung cho công ty bao gồm: quản lí nhân sự,
quản lí tài sản cố định, quản lí công văn.
- Quản lí việc giao nhận hàng, quản lí kho và đội xe.
- Quản lí chung các hoạt động như: Chuẩn bị kí kết hợp đồng, theo
dõi tiến độ thực hiện hợp đồng.
- Tổng hợp các báo cáo của các phòng ban trình cho giám đốc.
- Thực hiện các công việc quảng cáo và quản lí thông tin.
2.2.4 Phòng nghiệp vụ
Công ty có hai phòng nghiệp vụ là phòng nghiệp vụ một và phòng
nghiệp vụ hai. Phòng nghiệp vụ một thức hiện các nghiệp vụ liên quan đến
hàng hoá và thiết bị mặt đất như: xe nâng hàng, vận tải, hệ thống hàng tầng
sân bay. Phòng nghiệp vụ hai thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thiết bị
trên không như động cơ, thiết bị máy bay.
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
4
Báo cáo thực tập tổng hợp
Phòng nghiệp vụ thực hiện các công việc của quá trình kí kết và thực
hiện hợp đồng:
- Quản lí thông tin để kí kết hợp đồng.
- Quản lí việc chuẩn bị kí kết hợp đồng và các bước thực hiện hợp
đồng.
- Nhận chứng từ thanh toán từ người bán.
- Làm các thủ tục xuất nhập khẩu.
- Khiếu nại (nếu có), thanh lí hợp đồng.
- Thực hiện tốt chính sách cán bộ, chế độ quản lí tài chính, tài sản.
- Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, ngoại ngữ cho
cán bộ công nhân viên của công ty.
Mặc dù chịu sự quản lí chung của Tổng công ty Hàng Không Việt Nam
nhưng đó chỉ là sự quản lí về mặt hành chính chứ không phải quản lí về mặt
kinh tế. Các bộ phận kinh doanh tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Các công ty kinh doanh độc lập và được tự do tìm kiếm nguồn hàng và các
hoạt động khác. Tuy nhiên công ty Airimex vẫn phải hoàn thành mục tiêu
chung của ngành.
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY
1. Các sản phẩm xuất nhập khẩu của công ty
Hoạt động kinh doanh chính của công ty nhập khẩu các trang thiết bị
phục vụ ngành hàng không. Ngoài ra công ty còn kinh doanh xuất nhập khẩu
thêm các hàng hoá khác ngoài ngành.
1.1 Trang thiết bị mặt đất.
Trang thiết bị mặt đất là những thiết bị kĩ thật phục vụ cho máy bay
khi tiếp đất như xe hành khách, xe khởi động khí, xe cứư hoả, xe nâng hàng,
xe vệ sinh máy bay…Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
6
Báo cáo thực tập tổng hợp
nươcs, vận chuyển hàng không là cửa ngõ giao lưu quan trọng với nước
ngoài, do vậy số chuyến bay quá cảnh qua Việt Nam không ngừng tăng lên.
Đây là cơ hội về hàng hoá xuất nhập khẩu trên cả hai mặt số lượng và chất
lượng. Nắm bắt được nhu cầu này, công ty AIRIMEX đã chủ động tìm kiếm
bạn hàng, đối tác để kí kết hợp đồng nhập khẩu trang thiết bị mặt đất.
1.2 Máy bay và khí tài máy bay
Máy bay và khí tài máy bay là hai phương tiện chủ chốt, quan trọng
nhất của ngành hàng không. Hoạt động nhập khẩu mặt hàng này là một mảng
thành phố Hồ Chí Minh và xưởng bay A76 của sân bay Nội Bài, Hà Nội
thành các xưởng đại tu lớn có khả năng tiếp nhận cả những máy bay hiện đại
như BOING và tất cả các máy bay khác. Đây là cơ hội phát triển cho hoạt
động nhập khẩu máy bay và khí tài máy bay của công ty trong những năm tới,
đòi hỏi sự chủ động nắm vững nguồn hàng và đáp ứng tốt, đầy đủ cho các đơn
vị thuộc ngành hàng không.
1.3 Nhiên liệu bay và dầu mỡ các loại.
Trước năm 1990, việc nhập khẩu xăng dầu cho ngành Hàng không chủ
yếu thông qua PETROLIMEX. Theo cách này, hiệu quả thấp, giá thành cao,
phân phối chậm, không đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của ngành.
Từ năm 1991, nghiệp vụ này được giao cho AIRIMEX đảm nhận, đã
giải quyết được những hạn chế này. Công ty đã đàm phán và ký kết được
những hợp đồng giá cả thấp, tiết kiệm chi phí nhiên liệu đáng kể cho ngành
Hàng không và đồng thời cũng tiết kiêm cho Nhà nước. Kim ngạch nhập khẩu
nhiên liệu bay và dầu mỡ chiếm 44,4% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 1994
và 49,8% năm1995.
Cuối năm 1995, xăng dầu Hàng không phát triển nhanh, do đó Tổng
công ty Hàng không Việt Nam đã quyết định thành lập công ty xăng dầu
Hàng không VINAPCO. Việc nhập xăng dầu chuyển sang do VINAPCO chịu
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
8
Báo cáo thực tập tổng hợp
trách nhiệm đã làm giảm doanh thu lợi nhuận của công ty. Công ty đã chủ
động hơn trong hoạt động kinh doanh xuát nhập khẩu của mình.
1.4 Thiết bị quản lí bay
Đây là những thiết bị vô cùng quan trọng để đáp ứng yêu cầu an
toàn cao của mỗi chuyến bay. Thiết bị an toàn bay đòi hỏi hiện đại, tính chất
quốc tế cao, đảm bảo an toàn cao cho mỗi chuyến bay, do vậy yêu cầu nâng
cấp, đổi mới là cần thiết. Thiết bị quản lí bay bao gồm: thiết bị sân bay, thiết
bị theo dõi, quản lí không lưu, thiết bị thông báo bay, thông tin khí tượng.
2.1.1 Nghiên cứu thị trường trong nước
Thực chất của hoạt động này là 1 khâu trong Marketing để phát hiện
nhu cầu về sản phẩm nhập (đầu ra). Công ty xuất nhập khẩu hàng không
AIRIMEX không phải là công ty trực tiếp sản xuất ra hàng hoá hữu hình cụ
thể phục vụ khách hàng mà chỉ là công ty xuất nhập khẩu trực tiếp, nhận uỷ
thác trong việc xuất nhập khẩu. Do vậy nghiệp vụ chính của công ty là tiến
hành các nghiệp vụ giao dịch để nhận được hợp đồng uỷ thác.
Để thực hiện tốt công việc này, công ty chú trọng đến vai trò xúc tiến
bán, chính sách có tính chất quyết định trong các hoạt động Marketing áp
dụng đối với khách hàng của công ty. Bên cạnh đó công ty đã lưu tâm đến các
chính sách phân phối, chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng hiệu
quả kinh doanh và tạo nên sự đồng bộ trong việc áp dụng chiến lược.
2.1.2 Nghiên cứu thị trường nước ngoài
Nghiên cứu thị trường nước ngoài là thu thập, nghiên cứu các dữ liệu,
thông tin với mục đích cuối cùng là lựa chọn nguồn cung ứng tốt nhất đem lại
hiệu quả tối đa cho AIRIMEX và khách hàng trong nước. Để tìm nguồn nhập
khẩu, công ty AIRIMEX phải có một hệ thống thông tin hoàn hảo về các nhà
cung ứng có tiềm năng lớn trên thế giới, ưu nhược điểm của các nhà cung
ứng, và các thông tin quan trọng khác để giúp công ty có thể mua hàng hoá
Mai Thị Thu Phương Kế hoạch 46B
10